![]() |
| Trang chủ Tin tức Video clip Diễn đàn |
![]() Vòng 10 V-League 2013: 17h00 CN 19/5 sân Căngxitat: Thanh Hóa - SHB.Đà Nẵng (THTT trên VTC3) Thông Tin Mới Nhất Về Đội Bóng Thanh Hóa
|
|
#101
|
|||
|
|||
|
Bác 3011 dành chút thời gian đọc lại từ trang 1 đến trang 11 rồi hãy viết tiếp nhá. Có 1 số người như Lưu Đình Chất hay Lê Tất Đắc đã được viết rồi. Thank. Sr nếu ko đồng ý.
__________________
Sống... Sống mà vô dụng, sống làm chi Sống chẳng lương tâm, sống ích gì? Sống trái đạo người, người thêm tủi Sống quên ơn nước, nước càng khi. Sống tai như điếc, lòng đâm thẹn Sống mắt dường đui, dạ thấy kỳ Sống sao nên phải, cho nên sống Sống để muôn đời, sử tạc ghi. |
| Thành viên cảm ơn bạn leanhtungptit vì bài viết hay này: | ||
3011 (28-06-2012) | ||
|
#102
|
||||
|
||||
|
đụng đâu cũng thấy TH cả, đến cái phố Khuông Việt - SS-HN nhà e đang ở nghe nó là lạ mà cũng có quê choa
__________________
Tự hào là dân Xứ Thanh
![]() ![]() |
| Thành viên cảm ơn bạn dangtruong vì bài viết hay này: | ||
3011 (28-06-2012) | ||
|
#103
|
||||
|
||||
|
Ông Tiền Vệ là nổi tiếng nhất. Hỏi 6 tỷ người thì 2 tỷ biết ông Tiền Vệ
__________________
Nhà em có hoa vàng trước ngõ
Tường thật là cao, gió leo cây kín rào Nhà anh cuối con đường ngoại ô Vách thưa đèn dầu thắp, gió lùa vào từng đêm |
|
#104
|
||||
|
||||
|
Trích:
__________________
Đồng Trụ Chí Kim Đài Dĩ Lục
Đằng Giang Tự Cổ Huyết Do Hồng |
|
#105
|
|||
|
|||
|
Làng Kim Bồng ngày xưa là châu Kim Bồng thuộc tổng Mỹ Khê, huyện Duy Xuyên, nay là xã Cẩm Kim thuộc thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Đây là một làng được hình thành khá sớm ở đô thị thương cảng Hội An trong thế kỷ XVI dưới thời Chúa Nguyễn.
Chính sách cởi mở và thân dân của Chúa Nguyễn là động lực lôi kéo các cư dân ở Đàng Ngoài, nhất là Thanh Hoá, quê hương của Chúa Nguyễn, rời bỏ Chúa Trịnh và Đàng Ngoài di dân lập nghiệp ở Đàng Trong, nhất là tại cảng thị Hội An và dinh trấn Thanh Chiêm của Quảng Nam dinh. Qua các thư tịch cổ còn lưu lại của các tộc họ Nguyễn, Phan, Huỳnh, Trương ở xã Cẩm Kim thì vị thuỷ tổ nghề mộc làng Kim Bồng là người gốc ở Thanh Hoá đã di dân lập nghiệp tại đây vào thế kỷ XVI. Nhận thấy vùng đất Kim Bồng có ba mặt giáp sông, nằm bên bờ một con sông lớn là sông Thu Bồn, sát bên cạnh đô thị thương cảng quốc tế Hội An, rất thuận tiện cho sự phát triển nghề mộc xây dựng cũng như nghề mộc gia dụng mà các tiền hiền của làng Kim Bồng đã chọn nơi đây làm nơi định cư lâu dài để xây dựng làng nghề mộc truyền thống. Trong thực tế, trải qua nhiều thế kỷ, làng nghề mộc Kim Bồng đã có những đóng góp hết sức quan trọng để tạo ra vẻ đẹp kiến trúc cổ kính của Đô thị Hội An và một phần của Cố đô Huế, nay đều là những Di sản Thế giới nổi tiếng của Việt Nam. Nghề mộc Kim Bồng đã nổi tiếng từ lâu vì vậy trong ca dao dân gian xứ Quảng đã ra đời những dòng sau: Phú Bông dệt lụa dệt sa, Kim Bồng thợ mộc, Ô Gia thợ rừng. Nghề mộc xây dựng cũng như nghề mộc gia dụng Kim Bồng không chỉ giới hạn trong làng hay trên cảng thị Hội An mà phạm vi hoạt động của nó rất rộng, bao trùm cả tỉnh Quảng Nam và có mặt tại kinh đô Huế. Vì vậy mà trong dân gian xứ Quảng đã có những câu ca dao nói lên hoạt động của thợ mộc Kim Bồng. Anh đi làm thợ nơi nao Để em gánh đục gánh bào đi đưa. Trời nắng cho chí trời mưa Để em gánh đục gánh cưa đi cùng. |
| Thành viên cảm ơn bạn 3011 vì bài viết hay này: | ||
KG_BS (17-07-2012) | ||
|
#106
|
|||
|
|||
|
Trong cuộc chiến đấu chống quân Tống xâm lược, quân dân Đại Việt đã tiêu diệt hơn 19.000 quân địch. Tính cả cuộc tập kích lần trước vào Ung-Khâm-Liêm, quân Việt đã tiêu diệt gần 30.000 tên.
Thắng lợi huy hoàng của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Tống (1075-1077) là một minh chứng hùng hồn về sự phát triển vượt bậc của dân tộc Việt sau một thế kỷ giành độc lập, quốc gia Đại Việt đã có đủ sức mạnh để chống lại một đế quốc lớn mạnh. Làm nên thắng lợi, có công sức và sự hy sinh to lớn của toàn dân đoàn kết, chiến đấu kiên cường, dũng cảm và mưu trí sáng tạo. Làm nên thắng lợi, có cống hiến lớn lao của vị tướng tổng chỉ huy Lý Thường Kiệt. Với tài năng thao lược và nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh kiệt xuất, luôn luôn thể hiện một tư tưởng tiến công rất cao trong chỉ đạo tác chiến, ông liên tục tiến công kẻ thù: đánh phủ đầu quân xâm lược khi chúng chưa kịp hành động, phản công nhanh chóng và quyết liệt ngay khi bị kẻ thù tiến công, đánh ngay vào đội quân mạnh nhất của địch, ngay trên hướng tiến công chủ yếu của chúng. Ông khéo kết hợp giữa tiến công và phòng ngự tích cực, giữa các cách đánh tập trung, đánh trận địa và đánh vận động. Ông vận dụng tài tình sự kết hợp giữa đấu tranh quân sự với công tác chính trị và hoạt động ngoại giao. Non sông sạch bóng quân thù. Lúc này vua mới 12 tuổi. Lý Thường Kiệt lại tiếp tục gánh trách nhiệm lớn của triều đình trong công cuộc xây dựng đất nước, chăm lo đời sống nhân dân. Ông đã cho tu bổ đê điều, đường sá, đình chùa hư hỏng trong chiến tranh và tiến hành nhiều biện pháp nhằm cải tổ bộ máy hành chính trong toàn quốc. Năm 1028, ông thôi chức Tể tướng và được cử về trị nhậm trấn Thanh Hóa. Làm việc ở đây suốt 19 năm trời, đến năm 1101 thì vua Lý Nhân Tông lại mời ông trở lại về triều giữ lại chức Tể tướng. Lúc này ông đã 82 tuổi. Già rồi, nhưng ông vẫn tình nguyện cầm quân đi đánh giặc Lý Giác ở Diễn Châu (năm 1103), dẹp giặc Chiêm Thành quấy nhiễu ở Bố Chính (năm 1104). Ông còn tổ chức lại quân đội, duyệt đổi lại các đơn vị từ cấm binh đến dân quân. Lý Thường Kiệt là một trọng thần đã trải ba triều vua (Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông), luôn luôn được triều đình tin tưởng, nể trọng. Từ đời Lý Thánh Tông, ông đã được cất lên ngang hàng các hoàng tử, được vua nhận làm con nuôi và ban hiệu Thiên tử nghĩa nam. Đời Lý Nhân Tông, ông được nhà vua coi như em và ban hiệu Thiên tử nghĩa đệ. Ông mất năm 1105, thọ 86 tuổi. Khi mất được phong tặng Kiểm hiệu Thái úy bình chương quân quốc trọng sự, Việt quốc công, được lập đền thờ ở nhiều nơi. Lý Thường Kiệt là một nhà quân sự kiệt xuất, có tài thao lược lỗi lạc, phá Tống bình Chiêm, đánh đâu thắng đấy. Ông cũng là một nhà chính trị tài giỏi và ngoại giao xuất sắc. Về văn học, ông để lại cho đời bài thơ bất hủ Nam quốc sơn hà,tác phẩm nổi tiếng nhất đời Lý và bài hịch hùng tráng Phạt Tống lộ bố văn. Ông là một nhân cách lớn. Văn bia chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn đã ca ngợi ông như sau: "Làm việc thì siêng năng, điều khiển dân thì đôn hậu, cho nên dân được nhờ cậy. Khoan hòa giúp đỡ trăm họ, nhân từ yêu mến mọi người, cho nên nhân dân kính trọng. Dùng uy vũ để trừ gian ác, đem minh chứng để giải quyết ngục tụng, cho nên hình ngục không quá lạm. Thái úy biết rằng dân lấy sự no ấm làm đầu, nước lấy nghề nông làm gốc, cho nên không để nỡ thời vụ. Tài giỏi mà không khoe khoang. Nuôi dưỡng đến cả những người già ở nơi thôn dã, cho nên người già nhờ thế mà được yên thân. Phép tắc như vậy có thể là cái gốc trị nước, cái thuật yên dân, sự tốt đẹp đều ở đấy cả". |
| Thành viên cảm ơn bạn 3011 vì bài viết hay này: | ||
KG_BS (10-08-2012) | ||
|
#107
|
||||
|
||||
|
Trích:
|
| Thành viên cảm ơn bạn alibaba vì bài viết hay này: | ||
3011 (10-08-2012) | ||
|
#108
|
|||
|
|||
|
Cống hiến khoa học: Tháng 9/1971, anh sinh viên Trịnh Quân Huấn nhập ngũ và lên đường vào chiến trường B khi mới bước vào năm thứ 4 Đại học Y Hà Nội. Đất nước giải phóng, anh trở về với giảng đường đại học là thương binh ¾. Với những cố gắng nỗ lực của bản thân và niềm say mê nghiên cứu khoa học, hơn 30 năm sau, người sinh viên chiến sĩ ấy đã trở thành giáo sư, tiến sĩ, một trong những chuyên gia đầu ngành y tế dự phòng. Hiện ông đang giữ chức Thứ trưởng Bộ Y tế kiêm Cục trưởng Cục Y tế dự phòng.
Từ năm 1995, GS.TS Trịnh Quân Huấn bắt đầu tham gia công tác quản lý với nhiều vị trí quan trọng: Phó vụ trưởng rồi Vụ trưởng Vụ y tế dự phòng, Cục trưởng Cục Y tế dự phòng… Mặc dù trên cương vị làm công tác quản lý, nhưng ông vẫn cùng đồng nghiệp thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu có giá trị thực tế và ứng dụng cao. Với kinh nghiệm hơn 30 năm công tác, nghiên cứu và đào tạo trong lĩnh vực y tế dự phòng, ông tham gia một đề tài khoa học cấp Nhà nước, Biện pháp cơ bản trong giám sát dịch tễ học và y học dự phòng nhằm khống chế và từng bước kiểm soát được các bệnh nhiễm trùng chủ yếu – Đề tài cấp Bộ: Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học các trường hợp bệnh cúm A (H5N1) tại Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2005 và đề xuất các biện pháp phòng chống dịch phù hợp (2005 – 2006); Nghiên cứu tình hình nhiễm HIV, giang mai và hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong một số nhóm đồng bào dân tộc ít người ở Việt Nam (2002- 20030; Nghiên cứu chi phí chăm sóc y tế bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam (2003); Bước đầu điều tra Hantaanvirrus gây nên bệnh sốt xuất huyết về mặt huyết thanh học ở một số tỉnh ở miền Bắc Việt Nam (1998-2000); Xây dựng mô hình quản lý, chăm sóc và tư vấn người nhiếm HIV/AIDS tại cộng đồng (1996-1998) và Theo dõi thời gian từ khi bị nhiễm HIV đến khi tiến triển thành AIDS (1997-1998)…Bên cạnh đó ông có 46 bài nghiên cứu được công bố và đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành trong và ngoài nước; là tác giả và đồng tác giả của 54 cuốn sách chuyên ngành sổ tay hướng dẫn công tác phòng chống và kiểm soát các dịch bệnh lây lan như: HIV/AIDS, sốt xuất huyết và các bệnh truyền nhiễm khác. Các nghiên cứu của ông tập trung vào 5 vấn đề lớn: Cụm công trình nghiên cứu về thanh toán bệnh Bại liệt; Cụm công trình nghiên cứu về giám sát và các biện pháp phòng chống bệnh SARS, cúm A(H5N1), cúm A(H1N1); Cụm công trình nghiên cứu về biện pháp giám sát và phòng chống bệnh sốt xuất huyết; Cụm công trình nghiên cứu về biện pháp góp phần ngăn chặn đại dịch HIV/AIDS; Cụm công trình nghiên cứu về Giám sát, kiểm soát bệnh truyền nhiễm gây dịch và đào tạo dịch tễ học thực địa. Sách đã xuất bản: Tác giả, đồng tác giả - chủ biên, đồng chủ biên 54 cuốn sách về chuyên ngành Y tế dự phòng, các cuốn gần đây nhất là: Cẩm nang phòng chống các bệnh truyền nhiễm. Nhà xuất bản Hà Nội, 2009; Khái niệm và nguyên tắc giám sát, kiểm soát bệnh truyền nhiễm. Nhà xuất bản Y học, 2009; giám sát và kiểm soát một số bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm (nhóm A). Nhà xuất bản Y học, 2009; giám sát và kiểm soát một số bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm (nhóm B). Nhà xuất bản Y học, 2009; ước tính và dự báo nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam năm 2007 – 2012, FHI 2009. |
| Thành viên cảm ơn bạn 3011 vì bài viết hay này: | ||
KG_BS (15-08-2012) | ||
|
#109
|
|||
|
|||
|
Quê quán: Huyện Hoằng Hóa, Tỉnh Thanh Hóa.
Cơ quan công tác: Trường Đại học Y Hà Nội, Viện Y học lâm sàng các bệnh nhiệt đới - Bệnh viện Bạch Mai. Quá trình công tác: Năm 1960: Tốt nghiệp đại học Y Hà Nội, Cán bộ giảng dạy Đại học Y Hà Nội. Năm 1968: Nghiên cứu sinh tại Mátxcơva, Liên Xô (cũ) Năm 1976: Phó chủ nhiệm Bộ môn Truyền nhiễm, Phó chủ nhiệm Khoa sau đại học. Năm 1983: Thực tập sinh tại viện dịch tễ Mátxcơva, Liên Xô (cũ) 1990 - 1993: Bí thư Đảng ủy Trường Đại học Y Hà Nội. 1995 - 2004: Chủ nhiệm bộ môn Truyền nhiễm, Viện trưởng Viện Y học lâm sàng các bệnh nhiệt đới. Hướng nghiên cứu khoa học chủ yếu: Nghiên cứu bệnh viêm gan virut, đặc biệt viêm gan B mãn tính. HIV/AIDS, đặc biệt nhiễm trùng cơ hội. Sốt xuất huyết dengue, thương hàn. Rickettsia (bệnh gây sốt mò). |
| Thành viên cảm ơn bạn 3011 vì bài viết hay này: | ||
KG_BS (15-08-2012) | ||
|
#110
|
|||
|
|||
|
Rất cảm ơn các ơn các anh, em trong diễn đàn đã sưu tầm giới thiệu những gương mặt những người con Thanh Hóa ưu tú trong suốt chiều dài lịch sử xứ Thanh.
Nhưng lịch sử và hiện tại cho thấy người Thanh Hóa là “ người của thời loạn ”. Đất Thanh Hóa là hậu phương của vua chúa khi sa cơ thất thế. Khi hòa bình người Thanh Hóa ít có người làm lớn, giữ các chứ vụ quan trọng. Có mấy lý do: Thứ nhất: Người Thanh Hóa luôn cương cường, trọng nghĩa khinh tài, không thích luồn cúi. Thà về quê cày ruộng còn hơn là thứ “ giá áo túi cơm ”. Thứ hai: Người Thanh Hóa không được đoàn kết cho lắm. Người ta ví dân Thanh Hóa như bao khoai tây, để trong bao thì là một khối thống nhất, khi đổ ra thì mạnh ai nấy làm, không ai nghe ai. Người Thanh Hóa không có máu cục bộ, ông nào lên được thì lo giữ ghế, không nhiệt tình giúp đỡ đàn em. Đàn em phải mò mẫm, cậy nhờ dân xứ khác. Khi các anh thất thế, thằng em đạp xuống bùn cho hả giận. Cứ thế dân Thanh Hóa lại đi phò tá dân xứ khác, “ đi dẹp loạn cho thằng khác cai trị” Thứ ba: Người Thanh Hóa lắm tài nhưng cũng nhiều tật, hay tự cao tự đại, bị dân các xứ khác cô lập. Ngoài ra cón có một vài tật xấu như manh mún, cò con ... Đây là một vài trải nghiệm được đúc rút trong công tác của tôi. Nếu có gì mạo phạm xin anh em trong diễn đàn cho hai chữ “Đại xá ”. Xin đa tạ |
![]() |
| Ðiều Chỉnh | |
| Xếp Bài | |
|
|