Trang 1 của 5 123 ... CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 42

Chủ đề: Xứ Thanh - Nghệ

  1. #1
    Ngày tham gia
    17-01-2008
    Bài viết
    2

    Mặc định Xứ Thanh - Nghệ

    Xứ Thanh * Xứ Nghệ, gạch nối giữa
    hai đại vùng văn hóa Bắc và Trung

    Xứ Thanh, xứ Nghệ, dải đất cổ kính kết nối hai đại vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ và ven biển miền Trung
    Xứ Thanh, xứ Nghệ là cách gọi dân gian thân quen đối với vùng đất Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay.
    Thanh Hóa có biển đẹp Sầm Sơn, sông Mã bất kham, động Bích Đào kỳ ảo, nhiều di chỉ đá cũ, đá mới, đồng thau lừng danh : Núi Đọ, Đa Bút, Đông Sơn... ; nhiều làng mạc cổ : Kẻ Rỵ, Kẻ Chè, Cổ Bôn, Cổ Đô, Bột Đà Trang, Bô Lỗ Trang... ; nhiều phong tục lễ hội, trò múa, dân ca độc đáo : trò Xuân Phả, hát ả đào, ví phường vải, hò sông Mã... Xứ Thanh cũng là quê hương của Bà Triệu, Lê Hoàn, Lê Lợi, Hồ Quí Ly, các chúa Trịnh, chúa Nguyễn, vua Nguyễn, cho nên còn đây đền vua Bà, đền Đồng Cổ, thành Tây Đô, di tích Lam Kinh...

    Nghệ An-Hà Tĩnh nào chịu kém thua về truyền thống lịch sử-văn hóa lâu đời : di chỉ Làng Vạc, Hang Bua, Đền Cuông thờ vua Thục (sánh vai đền miếu Cổ Loa ngoài Bắc), đền và mộ Mai Hắc Đế, Đền Cờn, Đình Hoành Sơn, Phượng Hoàng Trung Đô (suýt qua mặt Phú Xuân nếu Quang Trung không mất quá sớm) ; những di tích lưu niệm Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh...
    Thiên nhiên xứ Thanh : Động Bích Đào, biển Sầm Sơn, vườn quốc gia Bến En
    Đất nước Việt Nam là nơi có vô số hang động đẹp tuyệt vời. Năm 2001, Nguyễn Quang Mỹ và Haward Limbert đã đồng chủ biên một công trình song ngữ đồ sộ là cuốn Kỳ quan hang động Việt Nam - The wonders of Vietnamese Caves , kèm hơn 200 ảnh ( 24 X 24 cm) và nhiều bản đồ từ Lạng Sơn đến Quảng Bình ( nơi có động Phong Nha di sản thiên nhiên thế giới ) nhưng không hiểu sao hai học giả này lại bỏ quên động Bích Đào bất hủ của Thanh Hóa.
    Còn gọi là động Từ Thức, do gắn với huyền thoại về cuộc tình duyên đẹp dở dang giữa người trần Từ Thức với nàng tiên Giáng Kiều. Động Bích Đào nằm ở dãy núi Thần Phù (xã Nga Thiện, huyện Nga Sơn). Lê Quý Đôn ở thế kỷ 18 đã từng đến đây tức cảnh đề thơ : " Áo gai phiêu bạt thân Từ Thức / Mây nước già dăm mặt Giáng Hương / ... Thiên Thai bao kẻ từng xây mộng / Nào biết Thiên Thai cũng hí trường ! "

    Hệ thống động Bích Đào gồm Động Ngoài, Động Giữa, Động Trong với vô số vú đá, măng đá : Kho Gạo, Kho Tiền, Rồng ấp trứng vàng, Phường Bát Âm (lấy dùi gỗ gõ vào từng vú đá nghe phát ra những thanh âm nhiều cung bậc giống tiếng chiêng cồng, thanh la, trống, khánh, chuông, mõ), Bàn Cờ, Áo Mũ, Ngọn Nến, Hương Án, Đường Lên Trời, Đường Xuống Cõi Âm... trăm màu ngàn sắc lấp lánh theo sức tưởng tượng dân gian. Gần động Bích Đào có động Bạch Ác, động Mắt Voi, Chùa Tiên đã đi vào ca dao : " Trăng trong gió mát thảnh thơi / Thuyền tình mượn chén hồng mai thay trà ... " . Ngoài các di tích và thắng cảnh , du khách sẽ thích hai đặc sản là chiếu cói Nga Sơn bền đẹp và thịt lệch ( còn gọi là nhệch ) một giống lươn lớn sống ở vùng cửa sông nước lợ, thơm ngon và rất béo bổ . Lệch khoẻ một cách kỳ là, coi chừng khi bắt những con lệch lớn nhất chúng có thể quấn gẫy cánh tay. Vì người ta cho rằng lệch thưởng thức với rượu ngon là món ăn có tác dụng tăng gân cốt, làm hết mỏi gối chồn chân.

    Biển Sầm Sơn , cách thành phố Thanh Hóa 16 km, không những là một bãi tắm tuyệt vời mà còn có một quần thể di tích danh thắng hấp dẫn.

    Bãi tắm Sầm Sơn chạy dài hàng chục km, gồm ba bãi cát mịn chen với núi đá đủ các hòn lớn nhỏ, nằm ngồi hay chồng lên nhau , với muôn hình ngàn vẻ. Giữa rừng cây bóng mát có đền Độc Cước, đền Tô Hiến Thành, đền Hoàng Minh Tự, đền Cô Tiên, chùa Khải Minh. Trên đường từ đền Độc Cước đến đền Cô Tiên, du khách sẽ gặp hai hòn đá thật lớn chồng lên trên một bệ đá chênh vênh, lấy tay đẩy thấy rung rinh, thế mà chúng đã đứng trụ vững chãi với gió mưa bão táp không biết tự thuở nào. Dân gian hình dung đây là biểu tượng cặp uyên ương chung thủy và đặt tên là hòn Trống Mái , một thắng cảnh của biển Sầm Sơn đã đi vào cổ tích và ca dao : " Dù ai mưa gió bão bùng / Thiếp tôi vẫn giữ thủy chung với chàng " .

    Cách thành phố Thanh Hóa 36 km, Vườn quốc gia Bến En (huyện Như Xuân) vừa là khu bảo tồn các nguồn gien (gènes) thực vật, động vật quí hiếm vừa là khu du lịch nghỉ dưỡng lý tưởng. Vườn rộng hơn 16.600 ha, với hồ rộng 4.000 ha, trên mặt nước nhô lên 24 đảo lớn nhỏ ; trong hồ có nhiều loài cá, baba, đặc biệt có giống cá mè Sông Mực ngon nổi tiếng xưa nay. Cùng với hồ, Bến En có rừng nguyên sinh phong phú gồm 462 loài cây thuộc 125 bộ : song, mây dùng làm đồ mỹ nghệ, hương bài, màng tang, sến trẩu làm nước hoa, các giống phong lan làm cây cảnh; cây dược liệu có tới 300 loài ; gỗ quí có lim, lát hoa, chò chỉ, đinh hương... Co cay lim chu vi den 2,06 m cao gần 50 m già đã mấy thế kỉ . Khu vực rừng và hồ còn có tới 300 loài côn trùng và trên 200 giống vật, trong đó có nhiều giống quí hiếm : voi, báo, cọp, gấu ngựa, sói đỏ, vượn đen, vượn bạc má... Khí hậu Bến En mát mẻ trong lành, nhiệt độ trung bình 25 ° thích hợp cho việc nghỉ ngơi, du lịch, nghiên cứu khoa học suốt cả bốn mùa giữa bức tranh sơn thủy hữu tình và hoành tráng.
    Xứ Thanh, đất anh hùng và đế vương : đến Bà Triệu, đền Lê Đại Hành, thành Tây Đô, khu di tích Lam Kinh
    Nếu vùng Mê Linh, Xứ Đoài, có hai chị em Bà Trưng, thì Xứ Thanh có hai anh em Bà Triệu : sau khi người anh hùng chống giặc Ngô là Triệu Quốc Đạt mất, cô em Triệu Thị Trinh, dân gian quen gọi là Bà Triệu, được tướng sĩ tôn lên làm chủ soái thay anh. Bà mặc áo giáp vàng, cài trâm vàng, đi guốc ngà, cưỡi voi trận, nói lời khí phách : "Ta chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá kình biển Đông, đánh đuổi giặc Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ chớ không chịu khom lưng làm tì thiếp...". Bà lập căn cứ tại làng Bồ Điền ( h. Hậu Lộc ngày nay ) và đã nhiều lần đánh bại quân Ngô. Chúng khiếp sợ kháo nhau : " Múa ngang ngọn giáo chống cọp dễ / Đối mặt vua Bà khó lắm thay ! ".

    Tháng 2 năm 248, tướng Ngô là Lục Dận đem đại quân đến đánh, bà anh dũng hy sinh tại Bồ Điền. Đền bà được dựng tại đấy, dưới chân ngọn núi Bân. Cách đền 1 km trên đỉnh núi Tùng là mộ Bà; dưới chân núi có mộ 3 anh em họ Lý cũng người làng Bồ Điền , là tùy tướng của Bà. Hằng năm, đến 22 và 23 tháng hai âm lịch, hàng vạn dân khắp vùng, khắp tỉnh hành hương về đây tưởng nhớ vị anh hùng trong một lễ hội lớn có rước kiệu, múa rồng, biểu diễn võ thuật...

    Đền thờ Lê Đại Hành dựng tại xã Xuân Lập, huyện Thọ Xuân, trên mảnh đất rộng 40.000 m2. Được sự ủng hộ của thái hậu nhà Đinh Dương Vân Nga, Đại Hành hoàng đế đã đánh tan quân xâm lược Tống ở phía bắc và khuất phục quân Chămpa ở phía nam, giữ vững nền độc lập dân tộc. Hiện nay trong đền vua Lê còn giữ nhiều hiện vật quí hiếm : hai trống đồng Đông Sơn cỡ lớn, một đỉnh đồng, một bình hương đồng đen, một chục chiếc choé, một chiếc dĩa đá màu hồng gọi là dĩa Ngọc Tuyết, đường kính 50 cm, ở giữa lòng đĩa có hai dòng chữ Nho màu đỏ : " Sông Nam một mảnh tuyết / Vượng khí vạn năm còn " . Lễ hội đền vua Lê, diễn ra hai ngày 7, 8 tháng ba âm lịch, với các trò chơi đấu vật, múa võ ... cũng là một lễ hội lớn của xứ Thanh.

    Cách thành phố Thanh Hóa 45 km, ở phần đất của ba làng Tây Giai, Xuân Giai và Đông Môn (huyện Vĩnh Lộc), một bức thành đá đồ sộ đứng sừng sững từ hơn 600 năm nay , đó là thành Tây Đô (còn gọi là Tây Kinh, Tây Giai) mà từ lâu nhân dân quen gọi là thành nhà Hồ, bởi lẽ người chủ trương xây dựng nó là Hồ Quí Ly, đừng đầu một triều đại ngắn ngủi đầu thế kỷ 15 (1400-1407).
    Trong giai đoạn này, nhà Trần suy thoái nghiêm trọng. Kinh đô Thăng Long hai lần bị quân Chămpa cướp phá. Triều Minh ở phía bắc nước Đại Việt cũng có âm mưu thôn tính nước ta. Hồ Quý Ly lúc ấy là quan đầu triều giỏi chữ nghĩa, giàu tham vọng, muốn lật đổ nhà Trần lên làm vua để thực hiện những cải cách cần thiết hòng cứu vãn tình thế. Năm 1397 Hồ Quý Ly từ Thăng Long cử Đỗ Tỉnh vào Thanh Hóa, quê hương của họ Hồ, tìm một căn cứ địa vững chắc để xây dựng thành trì và chuẩn bị dời đô. Vùng đất huyện Vĩnh Lộc có địa thế khá hiểm yếu nên đã được chọn làm nơi dựng đô mới sẽ gọi là Tây Đô.

    Thành được xây cấp tốc chỉ sau ba tháng (giêng-ba 1397) đã hoàn thành về mặt phòng thủ. Thành hình chữ nhật, hai mặt nam-bắc dài 900 m, hai mặt đông-tây dài 700 m, cao trung bình 5 - 6 m, có nơi đến 10 m. Thành được đắp đất, mặt ngoài tường thành được ốp đá, toàn những phiến đá rất lớn, dài tới 4,5 m, rộng trên 1 m, nặng tới 15-20 tấn. Mặt trong tường thành đắp đất thoai thoải để quân lính lên xuống dễ dàng. Khối lượng đất sử dụng ước tính trên dưới 1 triệu m3. Mặt thành rộng có đường để voi ngựa đi lại và bố trí các ụ pháo. Thành có bốn cổng : tiền, hậu, tả, hữu. Ba cổng hậu, tả, hữu cao 5,4 m , rộng 5,8 m, dày 13,7 m. Riêng cổng tiền hướng chính nam đồ sộ nhất và vẫn còn hầu như nguyên vẹn : dài tới 30 m, dày 14 m gồm 2 cửa: hai cửa hai bên cao 7,8 m, rộng 5 m, cửa giữa cao 8 m, rộng 5,8 m.

    Trong nội thành Tây Đô có điện Hoàng Nguyên, Thái miếu, các cung Diên Thọ, Phú Cực, hồ Dực Tương ... nguy nga tráng lệ không thua kém Thăng Long. Tại Tây Đô đã được tổ chức hai kỳ thi thái học sinh (tiến sĩ), năm 1400 và 1405.Đi dọc bốn phía thành nhà Hồ, nhìn những phiến đá khổng lồ chồng khít lên nhau, chúng ta tự hỏi người xưa cách nay hơn 6 thế kỷ đã sử dụng những phương tiện, phương pháp gì để có thể vận chuyển và đưa lên cao những khối đá lớn nặng đến thế ?

    Ở thế kỷ 16 Phùng Khắc Khoan đã có thơ " Sáng sớm qua Tây Đô " : " ... Nhuận Hồ phụ tử nay đâu tá ? Để gió lẻ loi quấn quýt người " ! Giữa thế kỷ 20, học giả Louis Bezacier đánh giá thành nhà Hồ là " một trong những tác phẩm đẹp nhất của nền kiến trúc Việt Nam xưa " (Hương Nao, Những thắng tích của xứ Thanh, 1997).

    Khu di tích Lam Kinh (tên ghép từ Lam Sơn và Kinh Đô) cách Thanh Hóa 50 km, thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, quê hương anh hùng dân tộc Lê Lợi, căn cứ địa đầu tiên của Khởi Nghĩa Lam Sơn, đã có từ đầu thế kỷ 15, sau khi triều hậu Lê được thành lập. Từ đó về sau đã được nhiều lần bổ sung, tu sửa. Ngoài những cung điện như Quảng Đức, Sùng Hiếu ... , Lam Kinh còn có nhiều lăng miếu như Vĩnh Lăng của Lê Thái Tổ, Hựu Lăng của Lê Thái Tôn, Chiêu Lăng của Lê Thánh Tôn, v.v.

    Trải qua bao biến thiên lịch sử, các công trình kiến trúc xưa đã bị hủy hoại, chỉ còn một số dấu tích : bốn con rồng đá, những kiệt tác điêu khắc thế kỷ 15 và quí nhất là bia Vĩnh Lăng làm bằng một phiến đá cao 2,97 m, rộng 1,94 m, dày 0,27 m, đặt trên lưng một con rùa đá lớn đẹp. Bia được dựng năm 1433, trên mặt bia ghi tiểu sử và công trạng Lê Thái Tổ (Lê Lợi) do Nguyễn Trãi soạn. Đây là tấm bia thuộc loại đẹp nhất, lớn nhất, có giá trị lịch sử và văn học cao trong kho tàng bi ký Việt Nam.
    Thiên nhiên xứ Nghệ và truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời của một vùng địa linh nhân kiệt
    Từ thuở đất nước có tên Văn Lang, xứ Nghệ đã là một trung tâm của nền văn hóa Đông Sơn nổi tiếng , với di chỉ Làng Vạc và nhiều di chỉ khác ( Hà Văn Tấn chủ biên, Văn Hóa Đông Sơn ở VN, 1994). Từ thời Bắc thuộc đến thời cận-hiện đại, xứ Nghệ " non xanh nước biếc " của Hang Bua, Cửa Lò, Núi Hồng, Sông Lam ... đã ghi lại dấu tích bao anh hùng, hào kiệt, và danh nhân, từ vua Thục (Đền Cuông), vua Mai (đền Mai Hắc Đế), vua Quang Trung (Phượng Hoàng Trung Đô)... đến Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Phan Bội Châu... cùng với những công trình nghệ thuật như đình Hoành Sơn, đình Trung Cần, những làng văn hóa Tiên Điền, Trường Lưu, Cổ Đạm... Xứ Nghệ đã cống hiến cho tổ quốc biết bao văn nghệ sĩ, nhà văn hóa, nhà bác học làm rạng danh văn hóa , văn minh Việt Nam.

    Xứ Nghệ có hai nơi thờ Thục An Dương Vương : đền Đức Vua ở Nghi Xách ( huyện Nghi Lộc ) và đền Cuông ở Diễn An ( huyện Diễn Châu). Nếu đền và đình Cổ Loa tọa lạc giữa đất Cổ Loa là nơi vua Thục xây thành, dựng nước Âu Lạc thì đền Cuông được đặt giữa sườn núi Mộ Dạ, gần nơi vua từ giã cõi đời. " Chớ đem thành bại luận anh hùng " và anh hùng là bất tử . Thục An Dương Vương của chúng ta không hề chết vì thần Rùa Vàng đã rẽ nước đưa vua xuống Biển Đông. Nhà thơ Chu Mạnh Trinh đã nói lên nỗi niềm của người đời sau đối với cha con vua Thục :

    "Nghĩa cha sâu thẳm, cạn tình chồng
    Giãi nỗi kỳ oan mãi chửa thông !..."
    (thơ đề am Mỵ Châu, Cổ Loa)

    Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu
    Trái tim lầm chỗ để trong đầu
    Nỏ thần sơ ý trao tay giặc
    Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu
    (Tố Hữu)

    Cách thành phố Vinh 22 km, ven sông Lam, trên phần đất thị trấn Nam Đàn có đền thờ Mai Thúc Loan, người anh hùng đã có công đánh đuổi giặc Đường, lập nước Vạn Xuân ở thế kỷ 8. Cách đền vua Mai 3 km, ngược dòng sông Lam, là khu mộ vua dưới chân núi Đụn. Ngày xưa hằng năm tại đền và mộ vua, nhiều hội lễ được tổ chức trọng thể: hội Đền rằm tháng giêng, hội giỗ hoàng hậu rằm tháng 7, hội giỗ vua rằm tháng 9 âm lịch. Hội đền mùa xuân có qui mô lớn, trang nghiêm và đông đảo nhất với nhiều trò vui : rước kiệu, đánh vật, bắn nỏ, chọi gà, đua thuyền, đánh đu, cờ người, múa hát rôm rả trong nhiều ngày.

    Tháng 10-1788, Nguyễn Huệ quyết định đóng đô ở Nghệ An, giao cho trấn thủ Thận và cố vấn Nguyễn Thiếp tổ chức xây dựng thành Phượng Hoàng Trung Đô ở khu vực núi Dũng Quyết, vùng Bến Thủy, thành phố Vinh ngày nay. Thành ngoài xây bằng đất và đá ong, hình tứ giác, chu vi 2.820 m, bờ thành cao 3-4 m, diện tích 22 ha, bao quanh thành ngoại là con hào rộng 30 m, sâu 3 m. Thành nội xây bằng gạch vồ và đá ong, chu vi 1.680 m, với hai dãy hành lang nối liền với điện Thái Hòa, nơi vua thiết triều.

    Tháng 11-1789 thúc giục Nguyễn Thiếp hoàn thành việc xây dựng Trung Đô và sau đó Quang Trung đã làm việc tại đây ít nhất là hai lần : tháng 5-1791 và tháng 1-1792. Nhưng sáu tháng sau, vua đột ngột qua đời nên không kịp dời đô từ Phú Xuân ra Trung Đô. Nhà sử học và nhà văn hóa học hôm nay có lẽ không lầm khi cho rằng Trung Đô là chứng tích hào hùng thể hiện đầu óc chiến lược và tầm nhìn văn hóa của người anh hùng dân tộc trong quá trình đấu tranh thống nhất đất nước và xây dựng cuộc sống an lạc, ấm no cho dân khi vua khẳng định : " Nay kinh đô Phú Xuân hình thế trắc trở, mà trị an Bắc Hà sự thế rất khó khăn (...) Chỉ đóng đô ở Nghệ An là độ dường vừa cân phân vừa có thể khống chế được trong Nam ngoài Bắc, và sẽ giúp cho người tứ phương đến kêu kiện tiện việc đi về ... " (tờ chiếu 1/10/1788). Phải chăng đó là một biểu hiện tư tưởng thân dân của Quang Trung ?
    Xứ Thanh, xứ Nghệ đã và đang gìn giữ cho dân tộc một kho tàng văn nghệ dân gian độc đáo , đẹp đẽ
    Xứ Thanh, xứ Nghệ đã sản sinh nhiều truyện cười, truyện trạng, đóng góp to lớn vào nền văn hóa trào phúng dân gian.

    Về truyện cười xứ Thanh, trong năm 1987, Nguyễn Đức hiền và Hà Văn Tấn cho công bố cuốn Trạng Quỳnh lần đầu tiên đưa ra lý giải thuyết phục về mối liên hệ giữa nhân vật lịch sử Nguyễn Quỳnh quê ở Thanh Hóa và trạng Quỳnh dân gian, hình tượng trung tâm của một chùm 40 truyện Trạng được truyền tụng khắp nước ta từ Nam đến Bắc, và được coi là đỉnh cao của di sản truyện cười, truyện Trạng Việt Nam. Riêng nhà văn, nhà folklor học Nguyễn Đức Hiền, trước khi mất (2004) còn kịp công bố một tập đại thành Nguyễn Quỳnh - Trạng Quỳnh - Truyện Trạng Quỳnh dày hơn 400 trang khổ lớn, kèm nhiều hình ảnh và tài liệu Hán-Nôm được in lại nhiều lần như một best seller của folklor Việt Nam.

    Truyện cười xứ Nghệ cũng rất phong phú, tiêu biểu là ba chùm truyện : truyện Chàng Ngốc (Ngốc học khôn, Ngốc được kiện, Những cuộc phiêu lưu của anh chàng Ngôc), truyện Ông Bờ Ao (tức ông Tả Ao) và nhất là chùm truyện Cố Bợ (Ông Bợ, Thằng Bợ hay Quỷ Bợ) với hình tượng nhân vật nghịch ngợm, phá phách nhất của kho tàng truyện cười Việt Nam, đến nỗi dân gian cũng phải kêu trời và la làng bởi vì : "Con trời, Cố giỏi nghề chi ? / Nghề đi chọc táo, nghề đi ghẹo người ... / Nhà tôi vốn thị thanh bần / Cố đốt cho cháy nhăn răng cố cười ... " ( Vè Cố Bợ ).

    Năm 1997, lần đầu tiên Vũ Ngọc Khánh và Phạm Minh Thảo đã công bố bộ Kho tàng Diễn xướng Dân gian Việt Nam đồ sộ dày gần 900 trang, mà một phần lớn dành giới thiệu hơn một chục hội lễ và trò diễn lưu hành ở Thanh Hóa trong nhiều thế kỷ , đáng chú ý nhất là những trò diễn có tính cách sân khấu dân gian vô cùng độc đáo : tổ khúc Múa đèn, trò Tiên cuội, trò Trống mõ, trò Bắt cọp, trò Hùm, trò Lào, trò Xiêm, trò Tú Huần, trò Lăng Ba Khúc... và nhất là hệ thống trò Xuân Phả, một đỉnh cao của diễn xướng dân gian Việt Nam gồm trò Hoa Lang, múa Chiêm Thành, múa Lục Hồn Nhung, múa Ải Lao, trò Ngô Quốc. Tất cả các trò diễn kỳ lạ này đều là những tổ khúc múa hát có kịch bản hoàn chỉnh và nhiều nhân vật mang mặt nạ không hề thấy ở các vùng văn hóa khác.

    Bên cạnh những hiện tượng folklor còn đầy bí ẩn này, cái hấp dẫn chúng ta nhất trong di sản văn hóa xứ Thanh, xứ Nghệ chắc chắn là kho tàng dân ca.

    Xứ Thanh là một vùng phong phú về dân ca với hát Cửa đình Thanh Hóa, còn gọi là hát Nhà Trò, một dị bản của hát ả đào (ca trù) ngoài Bắc. Hát trống quân, hát ghẹo Thanh Hóa (hát huê tình), chèo chải Thiệu Hóa, chèo chải Hoằng Hóa, hát khúc Tĩnh Gia... và nổi tiếng nhất là tổ khúc Hò Sông Mã.
    Hò sông Mã, với hơn một chục làn điệu, có qui cách, thủ tục hẳn hoi gắn liền với quá trình lao động của anh trai đò. Bắt đầu là hò rời bến (còn gọi là hò mời khách). Đó là điệu hò nhịp một. Khi trời trở gió, thuyền bị ngược nước, trai đò dùng sào song vừa chống vừa hò đò ngược , cũng gọi là hò chống sào hay sắng nước ngược (với hai loại sắng nước nhỏ , sắng nước lớn). Khi thuận buồm xuôi gió, trai đò hò đò xuôi gồm nhiều làn điệu : hò bắc cái, hò nhịp đôi, hò đường trường (còn gọi là hò dọng giã hay hò dung dã), hò niệm Phật, hò làn ai, hò làn văn, hò ru ngủ. Khi chẳng may thuyền mắc vào bãi cát ngầm, trai đò vừa hò mắc cạn vừa lội xuống vác thuyền ra khỏi lạch. Hò mắc cạn gồm hai làn điệu : lúc mực nước quá cạn thuyền chìm sâu trong cát, phải vác thuyền thì họ hò vác; Nếu có thể buộc giây vào kéo từng thôi cho thuyền ra khỏi lạch thì họ hò kéo.

    Mỗi lần đến một bến nào đó, trai đò hò cập bến để mọi người nghỉ ngơi, ăn uống, mua bán :

    "Trông lên phố chợ cao cao
    Miệng khoan tay bắt lái vào cho mau
    Dô ta dô tà dô ta oa oa oa dô ta dô ta dô tà".

    Rời con đò sông Mã, khách còn luyến nhớ mãi những câu hò gợi cảm gợi tình của trai đò :

    - "Xăm xăm tới gốc cây hồng
    Hỏi thăm cô ấy có chồng hay chưa?
    Dô khoan dô khoan dô khoan a hề hò khoan ố dô khoan".
    - "Hỡi cô con gái nằm đò
    Mận xanh ăn vậy đừng chờ đào non
    Là dô dô huầy là dô dô huầy".

    Tự ngàn xưa, nhờ hàng trăm câu hò sông Mã mà hàng trăm chuyến đò dọc hào hùng, trăm con đò ngang duyên dáng, vẫn vững tay chèo tay chống trên sóng nước hữu tình.

    Lê Văn Hảo (Paris)
    Con đi hết cả cuộc đời
    Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru

  2. #2
    Ngày tham gia
    10-01-2008
    Bài viết
    50

    Mặc định

    Hay ho gì cái từ xứ mà các bác cứ thích nhỉ. Tôi chỉ thấy nó nói đến một vùng đất xa trung tâm, nghèo thôi. Chẳng thế mà ở nước ta cứ đâu tên Xứ là nghèo đó hả? Xứ Lạng, Xứ Thanh, Xứ Nghệ, Xứ Quảng? Tất cả đều chỉ những vùng đất xa xôi chứ chẳng ai gọi là Xứ Bình Dương hay xứ Hà Nội làm gì

  3. #3
    Ngày tham gia
    23-01-2008
    Bài viết
    2,140

    Mặc định

    ông này hiểu sai trầm trọng cái từ xứ.
    tui cũng hông hiểu cái từ xứ bắt nguồn từ đâu,nhưng chắc chắn ko phải từ nghèo mà ra.
    TuongVyStudio 113 Tống Duy Tân - TPTH (đường đi Sầm Sơn)

  4. #4
    Ngày tham gia
    13-05-2007
    Bài viết
    1,231

    Mặc định

    Tên gọi các xứ

    Lê Thánh Tông đã cho vẽ bản đồ chi tiết và đầy đủ về lãnh thổ Đại Việt và bộ bản đồ các vương quốc trong vùng (gọi là Thiên hạ bản đồ).

    Bộ bản đồ Đại Việt được hoàn thành năm 1490, gồm 13 thừa tuyên (sau đó đổi làm Xứ) như sau:

    1. Nam Sách gồm (Hải Dương, Hải Phòng ngày nay), quản lĩnh 4 phủ, 18 huyện;

    2. Thiên Trường (Sơn Nam) gồm (Thái Bình, Nam Định, Hưng Yên ngày nay), quản lĩnh 11 phủ, 42 huyện;

    3. Quốc Oai (Sơn Tây) gồm Hà Tây, Sơn Tây, Vĩnh Phúc ngày nay), quản lĩnh 6 phủ, 24 huyện;

    4. Bắc Giang (Kinh Bắc) gồm (Bắc Giang, Bắc Ninh ngày nay), quản lĩnh 4 phủ, 19 huyện;

    5. An Bang là (Quảng Ninh ngày nay), quản lĩnh 1 phủ, 3 huyện, 4 châu;

    6. Tuyên Quang gồm (Tuyên Quang, Hà Giang ngày nay), quản lĩnh 1 phủ, 2 huyện, 5 châu;

    7. Hưng Hóa gồm (Phú Thọ, Yên Bái ngày nay), quản lĩnh 3 phủ, 4 huyện, 17 châu;

    8. Lạng Sơn gồm (Cao Bằng, lạng Sơn ngày nay), quản lĩnh 1 phủ, 7 châu;

    9. Thái Nguyên (Ninh Sóc) gồm (Thái Nguyên, Bắc Cạn ngày nay), quản lĩnh 3 phủ, 8 huyện, 7 châu;

    10. Thanh Hóa gồm (Thanh Hóa, Ninh Bình ngày nay), quản lĩnh 4 phủ, 16 huyện, 4 châu;

    11. Nghệ An gồm (Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay), quản lĩnh 8 phủ, 18 huyện, 2 châu;

    12. Thuận Hóa gồm (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên- Huế ngày nay), quản lĩnh 2 phủ, 7 huyện, 4 châu;

    13. Quảng Nam gồm (Bình Định, Quảng Ngãi và Quảng Nam ngày nay)


    Đạo thừa tuyên Quảng Nam được bổ sung sau cùng sau khi Đại Việt chiếm được miền bắc của Champa (1471)

    Lại đổi Trung đô phủ làm Phụng Thiên, quản lĩnh 2 huyện
    -----------------------------------------------------------------

    - Như vậy Xứ không có nghĩa là vùng xa trung tâm và nghèo mà là từ dùng để chỉ một vùng đất phân chia hành chính từ thời Lê Thánh Tông.
    - Không có xứ Hà Nội vì Hà Nội khi đó chỉ là một thành nằm giữa hai Xứ: Kinh Bắc và Sơn Tây.
    - Không có Xứ Bình Dương vì không hiểu là vùng Bình Dương khi đó có người không nữa (nếu có thì chắc cũng ít hơn khỉ )
    - Ngày nay chỉ còn mấy xứ: Thanh, Nghệ, Quảng-Đà và Lạng còn hay được gọi tên có lẽ do các xứ này có những đặc trưng văn hoá riêng và mạnh mẽ hơn các nơi khác?
    Sửa lần cuối bởi bothangjun; 06-02-2008 lúc 07:57 PM.
    Em ơi...nó nè

  5. #5
    Ngày tham gia
    21-08-2007
    Vị trí hiện tại
    HoChiMinhCiTy
    Bài viết
    43

    Mặc định

    Bố tôi người Thanh Hóa mẹ tôi người Nghệ An,nhiều người bảo tôi là sự kết hợp của hai xứ Thanh-Nghệ(rau má-cá gỗ),nhiều khi tôi thấy bực mình.bực mình không phải vì quê mà vì thấy những kẻ đi coi thường quê hương người khác thật ngớ ngẩn,bởi vì những kẻ đó hoặc là chẳng ra sao,hoặc là trí tuệ thấp,hoặc là...ngớ ngẩn.chúng quên mất một điều ở đâu cũng có người xấu người tốt,ở đâu thì cũng là Việt Nam.
    Tôi yêu Thanh Hóa quê mình, yêu những ca khúc về Thanh Hóa anh hùng, thích nghe nhạc xuân dịp tết cổ truyền.

  6. #6
    Ngày tham gia
    07-06-2007
    Vị trí hiện tại
    THÀNH PHỐ HỔ CHÍ MINH
    Bài viết
    643

    Mặc định

    Trích dẫn Gửi bởi YenDinhFC Xem bài viết
    Bố tôi người Thanh Hóa mẹ tôi người Nghệ An,nhiều người bảo tôi là sự kết hợp của hai xứ Thanh-Nghệ(rau má-cá gỗ),nhiều khi tôi thấy bực mình.bực mình không phải vì quê mà vì thấy những kẻ đi coi thường quê hương người khác thật ngớ ngẩn,bởi vì những kẻ đó hoặc là chẳng ra sao,hoặc là trí tuệ thấp,hoặc là...ngớ ngẩn.chúng quên mất một điều ở đâu cũng có người xấu người tốt,ở đâu thì cũng là Việt Nam.
    Mình cũng giống bạn,lúc nào cũng tự hào mang trong mình 2 dòng máu Thanh-Nghệ dù cho ai có nói như thế nào đi nữa tôi vẫn yêu HLD TH và tự hào Sô Viết Nghệ Tỉnh.
    NHỚ !!!!

  7. #7
    Ngày tham gia
    17-01-2008
    Bài viết
    2

    Mặc định

    Trích dẫn Gửi bởi songcan Xem bài viết
    Hay ho gì cái từ xứ mà các bác cứ thích nhỉ. Tôi chỉ thấy nó nói đến một vùng đất xa trung tâm, nghèo thôi. Chẳng thế mà ở nước ta cứ đâu tên Xứ là nghèo đó hả? Xứ Lạng, Xứ Thanh, Xứ Nghệ, Xứ Quảng? Tất cả đều chỉ những vùng đất xa xôi chứ chẳng ai gọi là Xứ Bình Dương hay xứ Hà Nội làm gì
    Có đấy bạn ơi : Bình Dương thuộc xứ Đàng trong , để có Hà Nội phải có xứ Đông, xứ Đoài , mỗi vùng đất đều có giá trị riêng về gốc tích của nó.
    Con đi hết cả cuộc đời
    Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru

  8. #8
    Ngày tham gia
    26-12-2007
    Bài viết
    816

    Mặc định

    Trích dẫn Gửi bởi Le Dinh Nam Xem bài viết
    Mình cũng giống bạn,lúc nào cũng tự hào mang trong mình 2 dòng máu Thanh-Nghệ dù cho ai có nói như thế nào đi nữa tôi vẫn yêu HLD TH và tự hào Sô Viết Nghệ Tỉnh.
    Em không cảm thấy bực mình mấy với những loại người như vậy.Tự hào mình là người con của Thanh Hóa anh hùng,những kẻ như vậy không đáng để chúng ta bận tâm!
    Eragonit
    Bóng đá Thanh Hóa - Niềm tin về 1 tương lai tươi sáng !
    - Hãy thể hiện mình là 1 người am hiểu bóng đá bằng cách tham gia với chúng tôi http://dreamteam.vn

  9. #9
    Ngày tham gia
    11-05-2007
    Vị trí hiện tại
    Tổ chim lợn
    Bài viết
    1,726

    Mặc định

    Trích dẫn Gửi bởi Le Dinh Nam Xem bài viết
    Mình cũng giống bạn,lúc nào cũng tự hào mang trong mình 2 dòng máu Thanh-Nghệ dù cho ai có nói như thế nào đi nữa tôi vẫn yêu HLD TH và tự hào Xô Viết Nghệ Tỉnh.
    Bác cũng giống em. Bà già Nghệ An - Ông Già Thanh Hóa. Ngày xưa yêu một cô Nghệ nhưng không đến với nhau được. Nhưng món cá gỗ nấu với rau má thì cũng khá ngon bác nhẩy.
    Từ bé đến giờ mỗi lần vào Vinh thì buổi sáng cũng phải làm 1 tô súp lươn chấm bánh mỳ và 1 tô cháo lươn. Híc híc..
    Lê Huy Sơn tức Huyson16

  10. #10
    Ngày tham gia
    07-07-2008
    Bài viết
    4

    Mặc định

    results for huyhai4.go.to.
    chaoca? nha toi co nam dam king khung?

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •