Trang 8 của 8 Đầu tiênĐầu tiên ... 678
Kết quả 71 đến 77 của 77

Chủ đề: Vì sao người Do Thái giỏi làm kinh tế ?

  1. #71
    Ngày tham gia
    06-11-2012
    Bài viết
    31

    Mặc định

    Bảng đồ chỉ số Thông Minh của các dân tộc trên thế giới
    Chỉ Số Thông Minh IQ Thế Giới

    I. Chỉ Số Thông Minh IQ của người Mỹ Hoa Kỳ

    Ở nước Mỹ, chỉ số Thông Minh IQ cao nhất là người Do Thái Ashkenazi với chỉ số thông minh là 108-113, xếp thứ Hai là người Ấn Độ với chỉ số thông minh là 102 +, xếp hạng Ba là người da trắng hay người Mỹ Trắng với chỉ số thông minh là 100.

    II. Chỉ Số Thông Minh của người Israel

    Ở Israel thì chỉ số thông minh trung bình là 95, nhưng dân tộc Do Thái Ashkenazi có chỉ số thông minh là 103, còn các nhóm dân tộc người Do Thái khác có chỉ số thông minh trung bình là 91, người Ả Rập ở Israel có chỉ số thông minh là 86, và người Do Thái Da Đen có chỉ số thông minh là 65 ( Ethiopian Jew )

    III. Chỉ Số Thông Minh của người Á Đông

    Chỉ số thông minh trung bình của người Trung Quốc và người Nhật Bản và người Hàn Quốc là 105. Còn chỉ số thông minh của người Mông Cổ là 101. Người Trung Hoa ở Singapore và Dân Hong Kong có chỉ số thông minh là 108.

    IV. Chỉ Số Thông Minh của người Châu Úc

    Chỉ số thông minh trung bình của người Úc Đại Lợi là 98 và chỉ số thông minh của người Tân Tây Lan là 99. Còn chỉ số thông minh của thổ dân châu Úc là 62.

    click vào để xem hình To https://isgp-studies.com/miscellaneo...arab-large.png

  2. #72
    Ngày tham gia
    06-11-2012
    Bài viết
    31

    Mặc định

    Người Do Thái có nguồn gốc từ Thổ Nhĩ Kỳ Cổ Đại

    Người Do Thái Ashkenazi có nguồn gốc từ người Thổ Nhĩ Kỳ Cổ Đại: Nghiên cứu mới
    Nghiên cứu mới cho thấy ngôn ngữ Yiddish của người Do Thái có nguồn gốc ở đông bắc Thổ Nhĩ Kỳ

    Theo một nghiên cứu mới, đa số người Do Thái hiện đại trên thế giới, cũng như ngôn ngữ Yiddish, đến từ Thổ Nhĩ Kỳ, chứ không phải là các khu vực khác ở vùng Trung Đông.

    Tiến sĩ Eran Elhaik của Đại học Sheffield đã sử dụng một hệ thống máy tính mô hình hoá để chuyển đổi DNA Người Do Thái Ashkenazi - các cộng đồng Do Thái theo lịch sử nằm ở Châu Âu - số liệu của họ vào thông tin địa lý, máy tính cho thấy 90 phần trăm người Do Thái Ashkenazi có nguồn gốc từ người Hy Lạp, người Ba Tư Iran và những người khác đã thuộc địa phía bắc Anatolia (ngày nay là miền bắc Thổ Nhĩ Kỳ) cách đây hơn 2.000 năm trước khi chuyển sang đạo Do thái giáo.

    Tiến sĩ Elhaik nói là ông tin rằng Ba ngôi làng Thổ Nhĩ Kỳ còn sót lại - Iskenaz, Eskenaz và Ashanaz - nằm ở phía đông bắc Thổ Nhĩ Kỳ đã tạo thành một phần của quê hương của dân tộc Ashkenazi nguyên thủy và thành lập một sự phát triển bùng nổ của ngôn ngữ Do Thái hiện đại là tiếng Yiddish.

    Chúng tôi xác định được 367 người khẳng định họ có hai cha mẹ là người Do Thái Ashkenazi và chúng tôi chia nhóm ra thành những người mà cha mẹ họ chỉ nói tiếng Yiddish và những nhóm người khác ", Eran Elhaik, trưởng nhóm nghiên cứu, nói với Wired.

    Ba ngôi làng này đều bắt nguồn từ danh từ "Ashkenaz", là gốc rễ của danh từ "Ashkenazi". Elhaik nói với Wired rằng phía đông bắc Thổ Nhĩ Kỳ là nơi duy nhất có bốn tên địa danh này tồn tại

    Các học giả trước đây đã xác định được tiếng Yiddish theo nguyên bản ngôn ngữ Đức hoặc Slavic, nhưng Elhaik và những người khác tin rằng tiếng Yiddish đã được phát triển trong thế kỷ 8 và thế kỷ 9 công nguyên, bởi các thương gia Do Thái kinh doanh dọc theo con đường tơ lụa nổi tiếng nối liền giữa Trung Quốc và châu Âu.

    Elhaik lưu ý rằng kết quả này thiệt là "đáng ngạc nhiên" vì khu vực này không có một "lịch sử phong phú của người Do Thái".

    Chúng tôi kết luận rằng AJs [ người Do Thái Ashkenazic ] có thể bắt nguồn từ thiên niên kỷ đầu tiên khi người Do Thái Ba Tư Iran đã Do Thái Hóa người Hy Lạp-Romanian, người Thổ, người Ba Tư Iran, người miền Nam Caucasus và người Slavic cư ngụ ở vùng đất Ashkenaz ở Thổ Nhĩ Kỳ ", nghiên cứu mới nhất vừa được công bố trong tạp chí Genome Biology.

    Những phát hiện của chúng tôi cho thấy rằng tiếng Yiddish được tạo ra bởi các thương gia người Do Thái Slav-Ba Tư Iran đang chạy theo con đường tơ lụa nằm giữa nước Đức, Bắc Phi và Trung Hoa.

    Cuộc tranh cãi về nguồn gốc sắc tộc của người Do Thái Ashkenazi đã bị các nhà chủ nghĩa dân tộc Do Thái, Palestine và những người bài Do Thái tất cả họ phản kháng dữ dội, tất cả đều cho rằng việc giải quyết vấn đề này sẽ ảnh hưởng đến tuyên bố của người Do Thái đối với mảnh đất Israel hiện đại.

    Lý thuyết cho thấy những người Do Thái Ashkenazi hiện đại là những người đã cải đạo đến từ vương quốc Khazaria cổ đại ở Trung Á và do đó người Do Thái hiện đại không có liên kết gì về mặt gen di truyền tổ tiên với vương quốc Judea trong Kinh Thánh và mười hai chi tộc Israel - đã được một số người theo chủ nghĩa chống Zionist làm công cụ và cái cớ và lý do để phủ nhận những tuyên bố của người Do thái đối với lịch sử vùng đất Palestine.

    Tuy nhiên, các nghiên cứu khác đã cho thấy mối liên hệ gene di truyền chia sẻ chung tổ tiên giữa người Do Thái Ashkenazi và các dân tộc Trung Đông khác, bao gồm cả người Palestine.

    Những người hàng xóm gần gũi nhất về mặt gien di truyền đối với các nhóm người Do Thái là người Palestine, người Bedouins ở Israel, và người Druze ngoài ra còn có những người Nam Âu, bao gồm cả người Cypriots

    Theo Harry Ostrer, giáo sư về khoa nhi và khoa bệnh lý học tại Đại học Y khoa Albert Einstein ở Bronx, New York và Karl Skorecki, giám đốc phát triển y khoa và nghiên cứu tại Rambam Health Care Campus ở Haifa trong tạp chí Human Genetics vào tháng 10 năm 2012.

    Nguồn middleeasteye.net/news/most-jews-descended-ancient-turkey-new-study-2107639949

  3. #73
    Ngày tham gia
    06-11-2012
    Bài viết
    31

    Mặc định

    Tinh Hoa Giáo Dục người Do Thái

    Giáo dục Do Thái là một loại hình giáo dục dựa trên nguyên lý, nguyên tắc, và luật lệ tôn giáo của đạo Do Thái Giáo. Người Do Thái nổi tiếng với tên gọi Dân tộc của Sách, người Do Thái quan tâm đến giáo dục. Giá trị của giáo dục được đánh gia cao trong nền văn hóa Do Thái. Đạo Do Thái Giáo đặc biệt rất coi trọng về việc học Kinh Thánh Torah.

    Trong lịch sử Do Thái, truyền thống giáo dục Do Thái bắt đầu từ thời đại Cựu Ước trong thời kỳ Kinh thánh. Kinh thánh mô tả mục đích giáo dục Do thái. Mục đích chính trong kinh thánh là biết cách thờ phượng Thiên Chúa. Do đó, cha mẹ Do thái cần dạy con cái của họ về một số kinh cầu nguyện cơ bản và phụ huynh Do Thái dạy những gì mà Thánh Kinh Torah cấm trong tuổi thơ của họ. Cha mẹ Do thái nên truyền đạt đạo đức Do thái, đức tin Do thái và giá trị của người Do Thái cho con cái họ. Các giáo lý của kinh thánh có ảnh hưởng quan trọng đến giáo dục Do Thái. Vì lý do này, giáo dục Do Thái bắt nguồn từ Kinh Thánh Torah.

    Nathan H. Winter đã viết, "Kinh Torah cũng đã được mô tả như là một bí kíp đối phó với sự tồn tại của con người; những gì liên quan đến cuộc sống ở mọi thời điểm. Kinh Torah cũng bao hàm việc học hỏi, hướng dẫn và truyền đạt. Giáo dục Do Thái liên quan đến việc truyền bá di sản văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc Do Thái cho những cá nhân người Do Thái.


    Lịch sử nền giáo dục do thái

    Nền giáo dục truyền thống Do Thái đã xuất hiện trong thời kỳ Kinh Thánh. Văn hóa Do Thái đề cao giáo dục Do Thái kể từ khi tổ phụ Abraham sinh ra đời. Tổ phụ Abraham được ca ngợi vì đã hướng dẫn con cái con cháu dòng dõi hậu duệ cháu chát chút chít của ông theo đường lối của Đức Chúa Trời.

    Một trong những nghĩa vụ cơ bản của người cha người Do Thái là hướng dẫn con cái họ học hành. Nghĩa vụ dạy dỗ con cái được nêu trong đoạn đầu tiên của kinh cầu nguyện "Israel hãy lắng nghe": "Hãy khắc ghi trong trái tim mọi mệnh lệnh mà Thiên Chúa truyền dạy cho các con hôm nay. Hãy dạy các mệnh lệnh đó cho con cháu của các con, nói với con trẻ khi con ngồi trong nhà hay ở ngoài đường, khi con nằm ngủ hay thức dậy. Hãy thắt chặt và đeo nó trên tay như một dấu hiệu, buộc nó trên trán để nhắc nhở con, và ghi những mệnh lệnh đó trên cửa và ngoài cổng." (Sách Đệ Nhị Luật 6:6-9)

    Ngoài ra, trẻ em nên tìm kiếm sự hướng dẫn của cha mẹ: "Hãy nhớ những ngày xa xưa, hãy suy ngẫm những năm tháng của nhiều thế hệ, hãy hỏi cha của con, và lão sẽ hướng dẫn con, hãy hỏi các bô lão của con, và họ sẽ chỉ bảo con" (Phục Truyền Luật Lệ 32: 7).

    Quyển sách Châm Ngôn của người Do Thái cũng có những câu ca dao tục ngữ nói về giáo dục: "Beni (con trai), đừng quên những lời ta (Thiên Chúa) dạy trong Kinh Torah, nhưng hãy để tâm trí con giữ lại những điều răn của ta (Thiên Chúa); vì những điều răn đó sẽ làm gia tăng số ngày và số năm của đời con, và cho con cuộc đời bình an thịnh vượng." (Sách Châm Ngôn 3:1-2)

    Đi học hành tại trường tiểu học được coi là bắt buộc bởi Simeon ben Shetah từ năm 75 trước công nguyên và Joshua Ben Gamla trong năm 64 CE. Nền giáo dục dạy dỗ các cậu bé trai và những người đàn ông lớn tuổi ở trong Beth midrash (Ngôi nhà của sự học hành) đã trở lại vào thời kỳ Đền Thánh thứ hai. Tầm quan trọng của giáo dục được nhấn mạnh trong Kinh Thánh Talmud, trong đó có nói rằng trẻ em nên bắt đầu học hành vào lúc sáu tuổi.

    Các thầy đạo nói rằng các em học sinh không nên được đánh đập bằng cái cây hay cây gậy, và các học sinh lớn tuổi nên giúp đỡ những em học sinh nhỏ tuổi hơn, và còn cho rằng trẻ em không nên bị gián đoạn trong việc học hành vì các nghĩa vụ khác.

    Theo Judah Ben Tema, "Vào năm Ngũ tuổi là đến ngưỡng học hành kinh Mikra, vào năm Thập tuổi là học tập kinh Mishnah, vào năm Thập Tam là giữ gìn các điều răn, vào năm Thập Ngũ là luyện kinh Talmud (Avot 5:21). Mikra đề cập đến Kinh Torah viết, Mishnah đề cập đến Torah bổ sung bằng miệng hay còn gọi là khẩu luật (luật súc tích và chính xác nói về việc làm thế nào để đạt được các điều luật của Torah bằng văn bản) và Talmud đề cập đến sự hiểu biết về sự thống nhất của luật miệng và bằng các văn bản và việc xem xét các lề luật.

    Thuật ngữ "Talmud" được sử dụng ở đây là một phương pháp nghiên cứu và không được nhầm lẫn bởi các biên dịch sau với cùng một tên gọi. Theo truyền thống này, người Do Thái đã thành lập các trường học riêng của họ hoặc thuê người dạy kèm riêng cho con cái của họ cho đến cuối thế kỷ 18. Các trường học được đặt trong các khu phụ lục hoặc các tòa nhà riêng biệt gần nhà thờ Do Thái.

    Thầy đạo Meir Simcha của Dvinsk (trong Meshech Chochma của ông) nhận xét rằng lời tuyên bố của Thiên Chúa Trời "[ Abraham được ban phước bởi vì ] ông sẽ hướng dẫn con cái của ông và gia tộc của ông theo những cách của Thiên Chúa để thực hiện sự công chính và công lý" (Sáng thế ký 18:19) là một điều răn ngầm để dạy Do thái giáo. Theo Wikipedia Việt Nam

    Nguồn vi.wikipedia.org/wiki/Gi%C3%A1o_d%E1%BB%A5c_Do_Th%C3%A1i

  4. #74
    Ngày tham gia
    06-11-2012
    Bài viết
    31

    Mặc định

    Truyền Thuyết Dân Tộc ISRAEL Chiến Sĩ của các Vị Thần

    Israel tiếng Hán Việt là Dĩ Sắc Liệt 以色列 Dĩ Sắc Liệt có nghĩa là Chiến Sĩ của các Vị Thần


    1. Nguồn gốc tên gọi:

    Israel nằm ở phía tây Palestine, phía tây Châu Á, tên nước có hai cách giải thích:

    a/ Bắt nguồn từ tên bộ lạc người Hebrew, tức là người Do Thái, có nguồn gốc từ vị thần của người Israel ( Thiên Chúa trong Do Thái Giáo và Ki Tô Giáo ). Trong Thánh kinh, Jacob là tổ tiên đời thứ ba của người Do Thái, chiến thắng trong cuộc đấu sức với các thiên thần, được ban tên là "Israel", mang nghĩa là "chiến sĩ của các vị thần" hay "tỉ võ công cùng các thần", hậu duệ của ông là "những người Israel", từ đó lấy làm tên nước.

    Tranh vẽ Jacob vật lộn với người nhà trời

    b/ Các học giả Ả Rập cho rằng, ghi chép sớm nhất về tên gọi Israel từ khoảng thế kỷ XIII trước C.N trong bia khắc kỷ niệm chiến thắng của vương triều Merneptah của Ai Cập, mang ý nghĩa xuất phát từ một trong những dân tộc bị chinh phục. Nước Israel ngày nay là quốc gia của người Do Thái được thành lập trong lãnh thổ Palestine.

    Tổ tiên người Do Thái là một nhánh của tộc người Hebrew

    Tổ tiên người Do Thái là một nhánh của tộc người Hebrew. Thế kỷ XII trước C.N, người Hebrew từ Ai Cập xâm nhập vào vùng đất phía nam của Palestine, bắt đầu định cư ở đấy. Thế kỷ I tr. CN, đế quốc La Mã chinh phục người Do Thái, thành lập vương quốc Maccabi, giết hại hơn 1 triệu người Do Thái, số còn lại phiêu tán khắp nơi trên thế giới.

    Năm 1897, tổ chức "Chủ nghĩa phục quốc Do Thái thế giới" được thành lập. Ngày 29 tháng 11 năm 1947, Liên Hiệp Quốc thông qua quyết định phân chia Palestine. Ngày 14 tháng 5 năm 1948, nước Israel chính thức được thành lập.

    2. Quốc kỳ:

    Là cờ tổ quốc Israel bên trái


    Hình chữ nhật. Nền cờ màu trắng, phía trên và phía dưới đều có một dải sọc màu lam nhạt bằng nhau, chính giữa nền cờ có một biểu tượng ngôi sao sáu cánh của Do Thái giáo. Màu sắc của quốc kỳ bắt nguồn từ tấm choàng của tín đồ Do Thái dùng khi cầu nguyện, tấm choàng này có hai màu lam và trắng.

    Chính giữa phần màu trắng trên nền cờ là ngôi sao của vua David, gọi là hiệu khiên của vua David. Theo ghi chép trong "Thánh kinh" của đạo Cơ Đốc thì David là quốc vương của vương quốc Israel cổ. Đồ án quốc kỳ này nguyên là lá cờ mà những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái sử dụng. Ngày 14 tháng 5 năm 1948, nước Israel thành lập và đã quyết định dùng lá cờ này làm quốc kỳ.

    3. Quốc huy:

    Hình tấm lá chắn (khiên) vuông. Mặt khiên nền màu lam, trên đó có một giá nến 7 nhánh, theo truyền thuyết thì hình dạng giá nến này được làm theo hình dạng một loài cây thời cổ đại. Theo như ghi chép, giá nến này là vật trên tế đàn trong Thánh điện Jerusalem. Hai bên giá nến được trang trí bằng cành ôliu, tượng trưng cho khát vọng hòa bình của người Do Thái. Phía dưới giá nến là dòng chữ "nước Israel" bằng tiếng Hebrew. Quốc huy này được chính thức sử dụng năm 1949.

    4. Quốc ca: Hy vọng tác giả Naftali Herz Imber


    Chỉ cần trong ***g ngực của chúng ta còn âm linh của người Do Thái, mắt hướng về phương Đông, thì còn nhìn thấy núi Zion và Jerusalem. Hy vọng trong suốt hai nghìn năm không thể tan thành bọt nước, chúng ta sẽ trở thành dân tộc tự do, đứng chân ở núi Zion và Jerusalem. Chúng ta sẽ trở thành dân tộc tự do, đứng chân ở núi Zion và Jerusalem


    Ánh mắt tràn trề hy vọng của bé trai người Do Thái được diễn tả qua bài quốc ca Israel: Chỉ cần trong ***g ngực của chúng ta còn âm linh của người Do Thái, mắt hướng về phương Đông, thì còn nhìn thấy núi Zion và Jerusalem

    Theo Nguồn gốc tên gọi các nước trên thế giới - NXB VHTT

  5. #75
    Ngày tham gia
    06-11-2012
    Bài viết
    31

    Mặc định

    Người Do Thái khiến Samsung điêu đứng, Argentina vỡ nợ và nhiều CEO khác trên thế giới kinh hãi

    Là một luật sư, nhà đầu tư người Do Thái Paul Singer đã dùng luật pháp như một công cụ để thu hồi vốn và kiếm lời. Cực kỳ lì lợm, hung hãn và không ngán bất kỳ vụ kiện tụng nào, Paul Singer có lẽ là nhà đầu tư đáng sợ nhất trên thế giới – đặc biệt là với những quỹ đầu tư đối thủ, các công ty và thậm chí nhiều quốc gia.

    Nói như vậy là bởi quỹ đầu tư Elliott Management Corp của Singer – đơn vị đang quản lý khối tài sản khoảng 34 tỷ USD từ trước tới nay vốn nổi tiếng là “quỹ kền kền” chuyên đi ăn xác sống của những doanh nghiệp thậm chí quốc gia lâm vào tình cảnh vỡ nợ.

    Tỷ phú kền kền người Do Thái

    Paul Singer là người Do Thái. Ông tốt nghiệp từ khoa tâm lý của Đại học Rochester và khoa luật tại Harvard. Năm 1974, Singer hành nghề luật sư tại Ngân hàng đầu tư Donaldson, Lufkin & Jenrette. Năm 1997, ông bắt đầu thành lập Quỹ đầu tư Elliott Associates LP từ 1,3 triệu USD tiền huy động được từ gia đình và bạn bè. Cho đến nay Elliott Management đang giám sát và quản lý khối tài sản khoảng gần 34 tỷ USD.

    Cũng giống như chim kền kền chực chờ ăn xác chết, chiến lược đầu tư chính của Elliott là chuyên săn lùng những chủ nợ đang có trong tay những khoản nợ khó đòi của những con nợ không có khả năng thanh toán. Elliott mua lại những khoản nợ xấu đó với giá rẻ mạt, rồi lợi dụng những kẽ hở pháp lý để lấy lại vốn mà không quên nhân lên gấp bội số tiền đã chi ra ban đầu.

    Là một luật sư, Paul Singer đã dùng luật pháp như một công cụ để thu hồi vốn và kiếm lời. NML Capital là một chi nhánh của quỹ Elliott Management Corporation, đăng ký kinh doanh tại thiên đường thuế quần đảo Cayman. Công ty này nằm trong đế chế của Paul Singer.

    Nạn nhân nổi tiếng nhất của Singer chính là Argentina. Năm 2014, quốc gia này đứng trên bờ vực phá sản giống như năm 2011 và đứng sau vụ việc này không ai khác chính là Paul Singer.

    Theo luật Mỹ, nếu như Argentina không thể hoàn trả số trái phiếu trị giá 1,3 tỷ USD cho một nhóm các nhà quản lý quỹ đầu cơ trước ngày 30/7, nước này sẽ lâm vào cảnh vỡ nợ. Nếu Argentina vỡ nợ, vì nhà đầu tư sẽ mất hết niềm tin vào khả năng trả nợ của Argentina, lãi suất mà chính phủ nước này phải trả sẽ tăng lên. Argentina buộc phải in tiền để trả cho các chủ nợ và cuối cùng nền kinh tế lại có thể lâm vào khủng hoảng.

    Số trái phiếu được nhắc đến ở trên là trái phiếu do chính phủ Argentina phát hành năm 2001, khi đất nước này đang trên bờ sụp đổ. Đối với ông trùm quỹ đầu cơ Paul Singer, đây chính là cơ hội để triển khai một chiến lược đã trở nên quá quen thuộc.

    Đây là cách thức hoạt động của chiến lược này:

    Nhà đầu tư mua “rác” – những chứng khoán gần như không còn giá trị. Họ đặt cược rằng cuối cùng thì bên phát hành nợ sẽ có thể đưa mọi thứ trở lại quỹ đạo. Khi đó, giá trị của chứng khoán sẽ tăng lên và nhà đầu tư hưởng lợi.

    Hơn nữa, bên phát hành nợ cũng sẽ tiến hành tái cơ cấu nợ, có nghĩa là đàm phán với các chủ nợ để giảm mức phải trả. Vì nhận được một chút tiền còn hơn là không nhận được gì, các chủ nợ thường sẵn sàng đàm phán.

    Nhưng chiến thuật của Paul Singer phức tạp hơn.

    Ông là người dẫn đầu một nhóm các quỹ đầu cơ (được biết đến tên gọi NML) cố gắng thu về 100 cent trên mỗi USD nợ của Argentina trong khi các nhà đầu tư khác chấp nhận mất 70%. Đối với Argentina, Paul Singer giống như “một chú kền kền”.

    Trên thực tế, Singer có thể được coi là “ông vua” của chiến thuật này. Năm 1995, ông mua nợ của ngân hàng Peruvian với giá 20 triệu USD và sau đó theo kiện đến cùng, cho tới khi nhận được khoản bồi thường 58 triệu USD. Năm 2002 và 2003, Singer nhận được hơn 100 triệu USD tiền lãi sau khi mua 30 triệu USD nợ của Congo-Brazzaville.

    Tuy nhiên, trường hợp Argentina không dễ dàng như vậy. Tổng thống Cristina Fernandez de Kirchner từng phát biểu rằng Argentina sẽ không chịu đầu hàng.

    Thế nhưng, Argentina kháng cáo lên tòa án Mỹ và cuối cùng đã thua cuộc. Như vậy, Singer đã cho cả thế giới thấy ông có thể làm những gì. Thực tế là ông đã từng bắt giữ một chiếc tàu của hải quân Argentina năm 2012 ở Ghana.

    Trước Argentina, Peru, Zambia hay Cộng hòa Dân chủ Congo đã từng là những “nạn nhân” của vị tỷ phú “kền kền” Singer. Năm 1999, Singer đã tung ra 11 triệu USD để mua các khoản nợ khó đòi của Peru và sau đó cương quyết không tham gia vào chương trình tái cơ cấu nợ của nước này. Kiên nhẫn một chút, nhờ một phán quyết của tòa án Mỹ, vài năm sau, ông trùm Singer đã thu về 58 triệu USD.

    Những nạn nhân

    Sẽ là thiếu sót nếu như không nhắc tới Samsung trong câu chuyện của vị tỷ phú "kền kền" Paul Singer. Là nhà đầu tư tại Samsung Electronics Co., tháng 10/2016, Elliott đã công khai bức thư dài 10 trang và một bài thuyết trình gồm 31 slide thúc giục Samsung chia tách làm 2 công ty. Nhà đầu tư này cũng nói rằng công ty nên bổ sung thêm 3 nhà đầu tư độc lập nữa và bắt đầu trả cổ tức. Tới tháng 4 năm sau, Samsung từ chối tiến hành hầu hết các yêu cầu này, ngoại trừ việc trả cổ tức theo quý.

    Ngoài ra, Elliott cũng trở thành cổ đông lớn tại Samsung C&T - chi nhánh xây dựng của tập đoàn này vào năm 2015. Khi Cheil Industries - cũng là một chi nhánh của tập đoàn Samsung ngỏ ý muốn thâu tóm C&T, Singer đã kịch liệt phản đối nhưng sau đó, đề nghị của Singer không được chấp thuận và thương vụ vẫn diễn ra.

    Tuy nhiên, đến năm 2016, phía công tố viên bắt đầu điều tra một loạt bê bối liên quan tới cựu Tổng thống bị phế truất Park Geun-hye và cáo buộc có gian lận trong thương vụ thâu tóm kể trên. Hiện tại bà Park đã bị phế truất còn Phó chủ tịch Samsung Jay Y. Lee đang phải ngồi tù để điều tra. Như vậy một phần nào đó, Paul Singer có liên quan tới những sóng gió cực kỳ lớn mà Samsung cũng như chính trường Hàn Quốc vừa phải trải qua.

    Theo thống kê của Forbes, Paul Singer hiện nắm trong tay khối tài sản trị giá 2,6 tỷ USD. Hiện tại, mục tiêu của Singer đang nhắm tới là công ty khai thác mỏ lớn nhất thế giới. Ông cũng vừa chiến thắng Warren Buffett trong trận chiến giành nhà phân phối điện lớn nhất Texas.

    Ai sẽ là nạn nhân tiếp theo của Paul Singer vẫn là một ẩn số. Tuy nhiên với danh mục đầu tư hiện tại cùng những sự kiện đã diễn ra, người ta không thể không nể sợ người đàn ông người Do Thái này.

    Samsung thắng hay thua trước giới đầu tư?

    Chiến thắng của gia tộc họ Lee có thực chất là một bước đi vì sự tốt đẹp, phát triển chung cho Samsung, các cổ đông, nhân viên nói riêng hay kinh tế Hàn Quốc nói chung? Hay thực chất đó là bước lùi tiếp từ bên trong của nền kinh tế Hàn Quốc?

    Bằng việc đạt được thỏa thuận sát nhập giữa SamsungCheil Industries và Samsung C&T, gia tộc họ Lee đã tiếp tục thành công trong việc duy trì và chuyển giao quyền lực trong tập đoàn Samsung. Tuy nhiên, chiến thắng của gia tộc họ Lee có thực chất là một bước đi vì sự tốt đẹp, phát triển chung cho Samsung, các cổ đông, nhân viên nói riêng hay kinh tế Hàn Quốc nói chung? Hay thực chất đó là bước lùi tiếp từ bên trong của nền kinh tế Hàn Quốc?

    Từ rất lâu, truyền thông Hàn Quốc đã bắt đầu “dung túng” cho một xu hướng bài ngoại, bài người Do Thái vốn được các tập đoàn gia đình trị của Hàn Quốc (Chaebol) sử dụng như một công cụ bảo hộ lợi ích cho những nhóm này trước bất kỳ sự xâm nhập của đối thủ nước ngoài nào bước chân vào thị trường của họ.

    Những hành động gần đây của Samsung nói chung và gia tộc họ Lee, những nhà sáng lập tập đoàn này trong vụ sáp nhập Samsung C&T của Samsung Cheil Industries, chính là một bằng chứng vững chắc nữa cho thấy sự xúc phạm nhằm vào giới đầu tư nước ngoài. Hành động này của gia tộc họ Lee được xem như một sự “lăng mạ” lớn nhắm vào giới đầu tư nước ngoài và nó đã ảnh hưởng cả tới các cổ đông và toàn thể đất nước Hàn Quốc.

    Mức giá thấp hơn giá trị thị trường đến mức buồn cười (theo đánh giá của các chuyên gia) của vụ M&A này đã thể thể hiện một “sức mạnh, tầm ảnh hưởng to lớn đến trần trụi” của gia tộc họ Lee.

    Các cổ đông của Samsung C&T đã chấp nhận hy sinh một phần lợi ích riêng để đồng ý tiến hành sát nhập với Cheil Industries. Nắm giữ, sở hữu chéo cổ phần tại các công ty con là cách thông minh mà gia tộc họ Lee đã sử dụng để chi phối toàn bộ tập đoàn.

    Thông qua vụ sát nhập Samsung C&T với Samsung Cheil Industries, người thừa kế của tập đoàn là Lee Jae-Yong sẽ nâng cao quyền chi phối (với tỷ lệ nắm giữ 16,5%) trong công ty mới cũng như giúp cho Cheil Industries – nơi gia tộc họ Lee đang nắm hoàn toàn quyền kiểm soát có thêm 4% cổ phần tại công ty Samsung Electronic, công ty con quan trọng hàng đầu của tập đoàn Samsung.

    Trong thương vụ M&A này Cheil Industries sẽ thực hiện sát nhập Samsung C&T với tỷ lệ hoán đổi cổ phiếu 0,35 : 1 tức là 0,35 cổ phiếu của Cheil Industries đổi 1 cổ phiếu của Samsung C&T.

    Vụ sát nhập này cũng đánh dấu một thất bại đối với Tổng thống Hàn Quốc, bà Park Geun Hy, người đã lên nắm quyền từ cuối năm 2012 với cam kết kiềm chế sự ảnh hưởng của các Chaebol mà vốn đang cản trở công cuộc đổi mới của nền kinh tế Hàn Quốc.

    Cuộc bỏ phiếu thông qua kế hoạch sáp nhập vào thứ 6 tuần trước được ví như là trận chiến Waterloo (cuộc chiến giữa Napoleon Ponabar và Liên minh thứ 7 đã chấm dứt hoàn toàn sự nghiệp của vị hoàng đế nước Pháp cũng triều đại 100 ngày tuổi của ông cũng như vị thế thống lĩnh châu Âu của nước Pháp) về mặt kinh tế của bà Park, thời khắc mà chính phủ của bà đã thua cuộc trước những thế lực, nhóm tài phiệt từ các Chaebol.

    Đó cũng là sự thất bại đối với những nhà đầu tư lớn, luôn đặt mục tiêu giành được quyền kiểm soát của một công ty (activist investor) như Paul Elliott Singer. Tháng trước, nhà đầu tư Paul Elliot Singer đã bắt đầu công bố khoản nắm giữ 7,12% cổ phần của quỹ phòng hộ Elliot do ông quản lý tại Samsung C&T, trở thành cổ đông lớn thứ 3 tại Samsung C&T.

    Mục đích của Paul Elliot Singer là vận động các cổ đông khác bãi bỏ đề xuất sáp nhập, cuối cùng là để giảm ảnh hưởng của gia tộc họ Lee lên các hoạt động kinh doanh của Samsung.

    Các quỹ phòng hộ nước ngoài luôn gây ra tranh cãi tại Hàn Quốc, họ thường bị ví như loài diều hâu luôn xấu xé những phần “xác thối – công ty đang gặp khó khăn”. Nhiều quỹ phòng hộ sử dụng chiến lược mua lại quyền kiểm soát của một công ty đang lâm vào cảnh khó khăn, sau đó tái cơ cấu lại công ty và hoạt động kinh doanh trở nên tốt hơn cho đến khi có thể tạo ra lợi nhuận từ việc bán công ty đó đi sau khi đã tái cơ cấu.

    Nhưng đối với Paul Elliot Singer – một người Do Thái - thì ông còn phải đối mặt với một cuộc tấn công còn đặc biệt khó chịu hơn thế từ những người ủng hộ Samsung, các phương tiện truyền thông Hàn Quốc đã gọi ông như là “bộ mặt tàn nhẫn, vô tình của những người Do Thái trên phố Wall”.

    Sự tấn công nhằm vào Paul Elliot Singer khiến người ta nhớ lại những năm 1997, khi thủ tướng Malaysia lúc đó là Mahathir Mohamad đổ lỗi cho nhóm nhà đầu tư người Do Thái dẫn đầu bởi George Soros đã khiến nền kinh tế nước này sụp đổ sau các đợt bán khống đồng Ringgit. Nhưng hiện nay trong quan hệ đối với những nhà đầu tư quốc tế, Malaysia vẫn đang cố gắng làm mờ đi, vượt qua những hành động chỉ trích không đẹp này trong quá khứ của mình.

    Và trường hợp lần này của Hàn Quốc, nếu người thừa kế của tập đoàn Samsung, Lee Jae Yong và tổng thống Park không lên án những vụ tấn công nhằm vào nhà đầu tư Singer nói riêng và giới đầu tư nước ngoài nói chung thì các công ty Hàn Quốc sẽ không dễ dàng vượt qua vết ố bẩn này trong quan hệ với những nhà đầu tư quốc tế.

    Chắc chắn rằng, Singer, cũng như mọi nhà quản lý quỹ phòng hộ đã tham gia vụ đầu tư vào Samsung C&T với động cơ chính là kiếm lợi nhuận chứ không phải vì bảo vệ quyền lợi của những cổ đông khác trong công ty, nhưng những chỉ trích của ông về vụ sát nhập của Cheil Industries – vụ sát nhập “không vì lợi ích của các cổ đông mà chỉ vì lợi ích riêng của gia tộc họ Lee” là hoàn toàn chính xác.

    Bây giờ điều đó gần như đã qua, thương vụ sẽ càng khiến cho các tập đoàn công nghiệp độc quyền thuộc sở hữu gia đình khác của Hàn Quốc trở nên mạnh bạo hơn để trong việc bảo vệ lợi ích của riêng họ, những hành động còn mạnh hơn cả những gì họ đã làm trước đây. Và cái được gọi là “sự chiết khấu của Hàn Quốc so với các thị trường khác – Korean discount” chắc chắn sẽ còn kéo dài.

    Các cổ phiếu của Hàn Quốc bị định giá thấp hơn nhiều so với các thị trường phát triển khác trong khu vực với nguyên nhân chính là do sự quản lý yếu kèm của những công ty, tập đoàn thuộc sở hữu gia đình đang hành động vì lợi ích riêng của họ. Quyền nắm giữ các công ty Hàn Quốc hoàn toàn bị chi phối bởi một nhóm nhỏ cổ đông do đó làm giảm sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

    Các Chaebol Hàn Quốc cần hiểu rằng những cổ đông hoài nghi, bảo thủ cũng là một phần của doanh nghiệp, chứ không phải là mối đe dọa hiện hữu với công ty của họ và không nhất thiết những nhà sáng lập phải thiết lập vòng bảo vệ xung quanh sự chi phối tối cao của họ tại đây. Thật không may, các công ty Hàn Quốc thường được tiếp tay bởi những phương tiện truyền thông nước này dung túng cho xu hướng bài ngoại.

    Những vấn đề này góp thêm vào các vấn đề kinh tế khác của Hàn Quốc, bao gồm sự bất lực trong việc tạo ra những cải cách mới trong cấu trúc nền kinh tế. Trong vài tháng gần đây, nhiều bài báo đang nói về quả bom startup công nghệ - các công ty mới thành lập trong lĩnh vực công nghệ của Hàn Quốc đang lớn lên khi những nhà tư bản mạo hiểm từ thung lũng Silicon – Mỹ - những nhà đầu tư nước ngoài nhìn thấy tiềm năng công nghệ mới tại Hàn Quốc.

    Nhưng họ sẽ gần như chắc chắn chạm trán với các Chaebol Hàn Quốc, với nguồn ngân sách khổng lồ và những kết nối chính trị sâu rộng, những công ty lớn của Hàn Quốc có thể dễ dàng hất cẳng bất cứ ai dám bước vào sân chơi của họ.

    Những ý nghĩ muốn làm thay đổi sự thống trị của những Chaebol trong nền kinh tế Hàn Quốc thường “chết yểu” ngay từ bên trong, từ trên xuống dưới trong giới chính trị nước này, có thể kết luận rằng những nhóm chính trị sợ rủi ro đang nắm quyền chi phối nền kinh tế Hàn Quốc – khi mà nhiều lãnh đạo của các Chaebol được đề xuất trả tự do sau các vi phạm trốn thuế, vi phạm luật pháp…

    Cụ thể như trường hợp của chủ tịch Hyundai lẫn chủ tịch Samsung Lee Kun-hee đều mắc vào cáo buộc trốn thuế với đầy đủ bằng chứng nhưng đều được trả tự do sau khi nộp phạt. Giới chính trị Hàn Quốc lo sợ rủi ro về một sự sụp đổ kinh tế theo kiểu “too big – too fall”.

    Quay trở lại câu chuyện của Samsung, càng có thể kết luận rằng gia tộc họ Lee thực hiệnvụ sát nhập Cheil Industries và Samsung C&T chỉ vì làm lợi cho chính họ chứ không phải cho các cổ đông của Samsung hay 500,000 nhân viên của tập đoàn này.

    Và vấn đề của Hàn Quốc không phải nằm ở xu hướng bài ngoài, những người nước ngoài hay người Do Thái mà đó là một hệ thống kinh tế đang làm tổn thương sự phát triển chất xám, sự sáng tạo, đổi mới của chính người dân Hàn Quốc – Chaebol bóp nghẹt sự phát triển của những luồng gió mới từ những công ty mới, từ những con người mới, ở tầng lớp mới.

    Thuật ngữ Chaebol được ghép bởi từ “chae” nghĩa là “sở hữu” và “mumbol” nghĩa là “gia đình quyền quý” trong tiếng Triều Tiên. Chaebol chỉ các công ty, tập đoàn thuộc sở hữu gia đình, những tập đoàn, công ty này thường mở rộng ra, thâu tóm các công ty có khả năng phụ trợ, cung ứng đầy đủ cho lĩnh vực sản xuất chính của họ để tạo ra một quá trình sản xuất từ gốc tới ngọn theo mô hình độc quyền ngành dọc như trong giai đoạn đầu phát triển của mô hình này.

    Chaebol đã có công trong việc vực dậy, phát triển kinh tế Hàn Quốc kể từ những năm 1960, do mô hình này có điểm mạnh đó là tạo ra chuỗi cung ứng, sản xuất, hỗ trợ chuyên biệt, khép kín cho các công ty Hàn Quốc, bên cạnh những hỗ trợ mạnh tay của chính phủ đã giúp họ cạnh tranh tốt với bất kỳ đối thủ nào muốn xâm nhập vào thị trường.

    Tuy nhiên ngày nay khi sự ảnh hưởng từ nhóm những công ty, tập đoàn này quá mạnh trên mọi lĩnh vực kinh tế thì một vấn đề nghiêm trọng khác nảy sinh đó là họ kìm chế, loại bỏ hoàn toàn các công ty nhỏ, mới ra khỏi nền kinh tế, loại bỏ sự đổi mới, cải cách trong sản xuất, cạnh tranh để tạo ra thế độc quyền, chi phối thị trường kinh doanh và điều này đang kìm chế kinh tế Hàn Quốc. Một mô hình tương tự đó là Keiretsu của Nhật Bản.

    TheoTríThứcTrẻvàGenk

  6. #76
    Ngày tham gia
    06-11-2012
    Bài viết
    31

    Mặc định

    Châu Á biên giới mới của Israel Do Thái


    Khi chúng ta nghĩ về quốc gia của người Do Thái là Israel, chúng ta thường nghĩ về Trung Đông và các quốc gia hàng xóm láng giềng, Bắc Mỹ là mối quan hệ đồng minh thân thiết giữa nước Mỹ Hoa Kỳ và Israel. Và Châu Âu có lịch sử lâu đời của người Do Thái Ashkenazi.

    Hiếm khi nào chúng ta nghĩ Israel với châu Á là biên giới mới. Chúng ta không nghĩ rằng Châu Á là một tay chơi quan trọng trong quá trình phát triển của Israel cũng như với dân số người Do Thái gốc Á nhỏ nhoi ít ỏi, thiếu đi yếu tố nổi bật của lịch sử Do Thái ở Châu Á và mối quan hệ nhạt nhòa giữa Israel với đa số các quốc gia Á Châu trong 40 năm tồn tại đầu tiên (1948-1988) của Israel.

    Hai cha con người do thái gốc Á Đông

    Tuy nhiên, Israel đã gọi năm 2012 là “năm của châu Á ở Israel.” Chính phủ Israel đã tài trợ Trại hè Khoa học châu Á thu hút hơn 220 sinh viên châu Á cùng với gần 40 sinh viên Israel tham gia vào một chương trình giáo điều kéo dài một tuần của các nhà nghiên cứu người Israel tầm cỡ quốc tế.

    Vì sao sự kiện như thế lại xảy ra ? Có nhiều thuộc tính đã củng cố quan hệ giữa Israel với châu Á lên hàng đầu. Khuôn mặt đàn ông người do thái Á Châu mặc mũ đen và áo đen


    Về thuộc tính lịch sử, người Châu Á không có chủ nghĩa bài người do Thái như người Châu Âu và ngay cả người Trung Đông. Về mặt địa lý, nước Israel nằm ở Tây Á nên chỉ mất có tư giờ bay từ Ấn Độ và mười một giờ bay từ Trung Quốc. Về mặt lịch sử thì đất nước Israel tương tự như hầu hết các quốc gia Châu Á, là một quốc gia được sinh ra sau Thế chiến II sau cuộc đấu tranh với một thế lực thực dân phương Tây mà trong trường hợp này là Anh Quốc.

    Về thuộc tính kinh tế, sự chuyển hóa mau lẹ của Israel từ thế giới thứ ba sang Thế giới thứ Nhất phảng phất bước tiến để hóa Sư Tử vĩ đại của Israel đang diễn ra và cũng như ở các nước châu Á đang hóa Rồng như Ấn Độ, Trung Quốc và Tứ con Hổ châu Á như Hong Kong, Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan.
    Chân dung đàn ông người do thái gốc Đông Á để râu quai nón và râu mép với hai lọn tóc xoăn tít mặc nón đen

    Về thuộc tính khoa học kỹ thuật, Israel trỗi dậy là một siêu cường quốc công nghệ cao (Tel Aviv xếp hạng hai trên thế giới về điểm đến ước mơ cho các công ty khởi nghiệp, vì vậy rất là hấp dẫn đối với giới công nghệ cao Châu Á trong đó có các anh đại ở Bangalore, Xinchu Park và Beijing Silicon Valleys

    Về thuộc tính quân sự, sức mạnh quân đội Israel đứng đầu thế giới trong công nghệ phòng thủ chống tên lửa như hệ thống phòng không Iron Dome, máy bay chiến đấu không người lái UAV (mà người Do Thái bán cho người Nga) cùng 5 tỷ đô la mỹ kim ngạch xuất khẩu quân sự chính là thực sự hấp dẫn đối với các quốc gia Châu Á đang phát triển sức mạnh quân sự để tương xứng với sức mạnh kinh tế đang nổi dậy của họ.

    Ảnh chụp đàn ông người do thái gốc Á châu với hai lọn tóc dài đặc trưng bản sắc Do Thái

    Cuối cùng, về thuộc tính tình báo, thì khá là quan trọng đối với nhiều quốc gia đang phát triển, Mossad, với khả năng tình báo siêu việt của người do thái tỏ ra có nhiều lợi thế trong việc giúp đỡ các quốc gia Châu Á chống lại các mối đe dọa từ những quốc gia khác với sự trỗi dậy quyền lực của họ.

    Đất nước Israel đã phát triển mối quan hệ thân thiết với hai nước Châu Á trong hội BRICS là Trung Quốc và Ấn Độ. Cả hai nước này, từ xa xưa chưa có mối quan hệ ngoại giao với Israel trước năm 1992, giờ cả hai quốc gia này đã có tòa đại sứ của nhà nước Israel Do Thái ở Thủ đô của họ là Bắc Kinh Trung Hoa và New Delhi Ấn Độ cũng như lãnh sự quán tại các thành phố hàng đầu thế giới là Thượng Hải hay Mumbai.

    Một nam giới người do thái gốc châu Á đang gọi điện thoại di động ở Jerusalem

    Quốc gia Israel hiện đang là nước xuất khẩu vũ khí lớn thứ hai cho Ấn Độ, và đã bán hệ thống Phalcon AIWACS với giá một tỷ đô la Mĩ kim năm 2004. Để chơi nhau sòng phẳng thì Ấn Độ đã đưa lên một vệ tinh Israel nặng 300 kg lên quỹ đạo để Con Sư Tử Mọc Thêm Cánh trong khả năng thu thập thông tin của Israel nhằm chống lại chương trình hạt nhân Ba Tư của Iran với chất lượng hình ảnh rõ ràng bất kể thời tiết nào. Hồi những thập niên 90, Israel là nước xuất khẩu vũ khí lớn thứ hai cho Trung Quốc với trị giá khoảng 4 tỷ mỹ kim. Để chơi nhau sòng phẳng thì tình báo Israel làm việc thân cận với điệp vụ Ấn Độ và luôn giữ tình hữu nghị với các đối tác Trung Hoa...

    Hình ảnh nam nhân người do thái Á Đông mặc trang phục truyền thống Do Thái và để râu ria

    Về thuộc tính kinh tế, Israel buôn bán với Ấn Độ khoảng 5 tỷ đô la huê kỳ và với Trung Quốc là khoảng 8 tỷ USD. Israel hy vọng sẽ thúc đẩy bán buôn với nền kinh tế lớn thứ nhì thế giới lên tới 10 tỷ đô la huê kì trong những năm tới. Với Ấn Độ thì nhà nước Do Thái đang hợp tác để tạo một Khu vực mậu dịch tự do được dự kiến trong vòng 5 năm có thể tăng gấp 3 lần khối lượng trao đổi hàng hóa lên 15 tỷ đô la Hoa Kỳ.

    Nước Israel ủng hộ Ấn Độ về Kasmir đối với Pakistan cũng như việc Israel ủng hộ Trung Quốc đối với Tân Cương.

    Chàng trai thanh niên trẻ người do thái Đông Á đang chơi đàn Vĩ cầm

    Ngoài hai anh đại BRICS, Israel phát triển quan hệ ngoại giao với rất nhiều quốc gia châu Á khác. Israel trao đổi thương mại rộng lớn với rất nhiều quốc gia Á châu khác, từ 2 tỷ đô la mĩ kim với Nhật Bản và Hàn Quốc tới hàng trăm triệu đô la mẽo kim với Việt Nam. Israel cũng phát triển kinh tế, giáo dục liên kết với Singapore cũng như năng động hợp tác với nhiều quốc gia Trung Á đã từng là đàn em trong khối Liên bang các nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết bao gồm Uzbekistan và Azerbaijan

    Tuy nhiên, tất cả những mối quan hệ này đều không dễ dàng. Rất ít nước châu Á gặp phải tình huống ngàn cân treo sợi tóc như Israel đã và đang phải đối mặt để tồn tại. Và thực tế là có nhiều nước Châu Á khác không ưa Israel là Pakistan và Indonesia. Thậm chí rất ít quốc gia nào đạt được vị thế kinh tế như Israel với thu nhập 33.000 đô la Hoa Kỳ GNP/người.

    Người Do Thái Ashkenazi ở Trung Quốc Thượng Hải


    Có vẻ như Trung Hoa và Ấn Độ phát triển kinh tế vượt bậc, thì Israel nâng cấp đẳng cấp toàn cầu. Tứ ngày viếng thăm Trung Quốc đã qua của Thủ tướng Israel Netanyahu đã nhấn mạnh tầm quan trọng của Trung Quốc với Israel. Thú vị cho Israel, tầm quan trọng là tương thân tương ái. Đại sứ Trung Quốc ở Israel Gao Yanping đã phát biểu trước chuyến thăm, Trung Quốc coi mối quan hệ của mình với Israel là rất quan trọng. Thật sự châu Á là biên giới mới của Israel vào thế kỷ 21.

    Gương mặt người do thái Châu Á với những nét đặc trưng truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc Do Thái là râu quai nón với ria mép và tóc Do Thái

    Theo forbes.com/sites/realspin/2013/05/14/asia-is-becoming-israels-new-frontier-heres-why

  7. #77
    Ngày tham gia
    06-11-2012
    Bài viết
    31

    Mặc định

    Ngó Mỹ, dòm Nhật, hóng Do Thái: sự lựa chọn nào cho ta?

    Sự trì trệ kinh tế trong năm năm qua đã làm tổn hại nặng nề tới lòng tự tin của người Việt. Cái hào hứng, hồ hởi, phấn khởi, thậm chí đắc thắng của thời kỳ 2007-08 đã nhường chỗ cho trạng thái u ám, bi quan, bực bội và cáu bẳn, dai dẳng từ 2010 và ngày càng loang rộng. Một mặt, người ta đổ lỗi cho cái thể chế nói riêng và “cái nước mình” nói chung, như trong câu “Cái nước mình nó thế!”, bảo bối được nhà văn hóa Hoàng Ngọc Hiến trao tặng giới trí thức để họ cùng với ông thể hiện một cách tài tình thái độ buông xuôi của mình mà không ai có thể trách cứ được. Mặt khác, người ta đổ lỗi cho những người xung quanh. Cộng đồng người Việt hiện ra trên báo chí và mạng xã hội như một tập thể lười biếng, ngày ngày chỉ lượn từ quán trà chanh sang hàng bia hơi, sau đó thì hoặc là đi bắt trộm chó, hoặc là gia nhập đám đông đánh trộm chó một cách phấn khích man rợ, và chỉ dừng lại khi thấy một xe tải chở bia bị đổ ra đường. Văn hóa thì “xuống cấp”, và đạo đức đã hoàn toàn “băng hoại”. Với não trạng này, khá dễ hiểu khi thấy người Việt hướng tới một số dân tộc khác như những ngọn hải đăng trên biển cả mịt mù, mong tìm ra được một cuốn cẩm nang hướng dẫn tỉ mỉ phải sống như thế nào.

    Ba dân tộc được nhắc tới nhiều nhất, với lòng thành kính, ngưỡng mộ và khâm phục, là Mỹ, Nhật và Do Thái.

    Từ trái sang phải là người Mỹ người Nhật Bản và người Do Thái

    Không ngày nào trôi qua mà không gặp một bài báo, một trạng thái trên Facebook ca ngợi sự ưu việt của những nền văn hóa kia, và những căn dặn tỉ mỉ để noi theo chúng. Người ta chuyền tay nhau các bài viết chê cười tủ rượu của người Việt, và ngợi khen tủ sách của người Do Thái,

    Gia đình người Do Thái uống rượu

    và còn cho biết thêm phụ huynh Do Thái “xây dựng thói quen đọc sách cho trẻ nhỏ từ khi còn trong nôi”, và “để sách hấp dẫn trẻ, họ thường nhỏ nước hoa lên sách để tạo mùi hương cho các em chú ý” (tôi tự hỏi bước tiếp theo sẽ là rắc nước hoa vào bát bột để trẻ hết biếng ăn?)

    Người Do Thái chét mật ong chứ không nhỏ nước hoa

    Người Do Thái nhỏ mật ong chứ không phải nhỏ nước hoa

    Người Do Thái cho trẻ liếm sự ngọt ngào của ong mật

    Một loạt các bài báo khác cũng khá được ưa thích chỉ ra sự khác nhau trong hành xử ở phòng chờ sân bay giữa người phương Tây ưu tú và người Việt ít học. Chúng khiển trách người Việt không thể rời mắt khỏi màn hình điện thoại, trong khi đó, “người phương Tây dành thời gian để trò chuyện, ăn nhẹ và quan sát xung quanh”. Thật tao nhã, chỉ “ăn nhẹ” thôi nhé, để không bị phân tâm khi quan sát vũ trụ kỳ diệu đang hiện hữu ngay ở sảnh B. Tiếp theo, một bức ảnh chụp một phụ nữ phương Tây đứng tuổi đang ngồi xổm có dòng chú thích “Một phụ nữ tóc vàng đọc sách dù đang phải ngồi chờ trong tình trạng bất tiện.”

    Ngoài chuyện đọc sách, giáo dục trẻ con là cái mà người Việt luôn tầm sư học đạo. Tình hình rối như canh hẹ. Lúc thì người ta khuyên nhau nên nuôi con thành nhẫn nại, khiêm nhường “như người Nhật”. Lúc khác thì lại phải biến chúng thành quyết đoán, phá cách “như người Mỹ”. Buổi sáng thì tới khóa học “Bí quyết nuôi con thông minh của người Do Thái

    ”, buổi tối lại nghiền ngẫm triết lý được cho là của Nhật rằng “trẻ em không cần phải quá thông minh; thông minh, học giỏi không hẳn là một điều tốt.” Những nỗ lực này làm ta liên tưởng tới một đại gia đình thường xuyên ca cẩm về sự suy tàn của dòng họ mình, và cử những đứa con ra ngoài thám thính các gia đình thành công trong phố. “Họ dậy rất sớm để tập thể dục, sau đó ăn nhẹ và quan sát xung quanh,” một đứa trở về và tuyên bố. Đứa khác lại cho biết: “Họ làm việc thâu đêm bên máy tính, đó là bí quyết thành công của họ.” Điều mà đại gia đình này thiếu là niềm tin vào các giá trị của bản thân, và khả năng phân tích, đánh giá và phán xét thế giới xung quanh để không mù quáng chạy theo người khác. Việc chạy theo các công thức kiểu “nhỏ nước hoa vào sách để dụ trẻ con đọc”, về bản chất cũng giống phong trào uống nước tiểu của bản thân để chữa bách bệnh, vốn cực kỳ thịnh hành ở Việt Nam vào các thập kỷ trước. Bút ký Niệu liệu pháp của nhà văn Nguyễn Quang Lập đã tái hiện lại phong trào này một cách rất hóm hỉnh và bắt đầu như sau: “Sáng đó không biết có việc gì mình sang Hội (Văn nghệ) sớm, thấy chú Khuyến phó chủ tịch hội, đứng đái ở hàng rào. Ông cầm cái ca, đái vào đấy, đầy ca thì bưng vào, trông điệu bộ kính cẩn ca nước đái lắm.” Sự khâm phục và ngưỡng mộ phương Tây và Nhật Bản gần như vô điều kiện này đạt tới đỉnh điểm qua phát ngôn của nhà văn Nguyễn Quang Thiều trong một bài báo ngày 1/1/2015 nhan đề Điều gì cần cho Việt Nam lúc này? trên Vietnamnet: “Ở nước ngoài, họ có thể chăm chút cả đám mây bay trên bầu trời.” Không cần biết “nước ngoài” cụ thể là ở đâu, không, ta không có nhu cầu biết, “nước ngoài” lấp lánh và mê hoặc. Nó là tất cả những gì không phải là chúng ta. “Nước ngoài” có tất cả những cái chúng ta không có nhưng khao khát, một cuộc sống cực lạc, viên mãn, những triền cỏ non và cây cối ra hoa kết trái, trẻ em ngoan ngoãn và thông minh, thanh niên nở nang và thân thiện, người già nhân hậu và độ lượng, và những đám mây, đặc biệt là những đám mây, chúng được chăm chút tỉ mỉ hằng sáng trước khi được thả ra bầu trời để đón bình minh. Nhưng, có lẽ “nước ngoài” cũng không phải là một miền đất hứa êm đềm, đầy mật ngọt trên mặt đất và tiếng chuông lục lạc vang trong không trung, như người ta vẫn hình dung? Và cư dân của nó cũng là những người trần mắt thịt, cũng luẩn quẩn trong tham, sân, si, cũng vô minh và bối rối trong cuộc sống? Ví dụ ư? Có ai biết là theo điều tra của Quỹ Khoa học Quốc gia Mỹ năm qua thì một phần tư dân số Mỹ cho rằng mặt trời quay xung quanh trái đất. Có ai biết là trong năm 2013, 28% người Mỹ không đọc bất cứ một cuốn sách nào, và số lượng người Mỹ không đọc sách, theo The Atlantic, đã tăng gấp 3 kể từ 1978. Tôi đồ rằng nhóm người này không quá cảnh ở Nội Bài để được chụp ảnh trong phòng chờ. Vẫn nói chuyện về sách, có ai biết là 1/3 doanh thu của thị trường sách cho người lớn ở Nhật tới từ truyện tranh. Trong hình dung lãng mạn của người Việt, người Nhật ngồi ở tàu điện ngầm chăm chú đọc Khởi nghiệp của Fukuzawa. Thực tế trần trụi là họ nghiền ngẫm manga, chỉ cần nhìn khách Nhật trong các quán sushi ở Hà Nội thì biết. Nhà văn Murakami tin rằng chỉ 5% dân số Nhật thực sự yêu quý sách.

    Còn về người Do Thái, thật đáng tiếc là phải làm sứt mẻ huyền thoại “quốc gia khởi nghiệp”, nhưng Israel đang có vấn đề lớn với cộng đồng quốc tế bởi những gì họ làm với người Palestine. Một cuộc điều tra của BBC vào tháng Năm 2014 cho thấy Israel, Bắc Triều Tiên, Pakistan và Iran là bốn nước có hình ảnh tệ nhất trong con mắt thế giới. Sự ác cảm tới từ cả hai phía. Năm 2010, 77% người Israel cho rằng bất kể họ làm gì thế giới cũng sẽ phê phán họ. Nêu ra những chuyện bên trên không phải để chúng ta trở nên kiêu ngạo, cho rằng “họ cũng không hơn gì ta”, hay “người Việt được thế là tốt lắm rồi”, hay “dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”, thậm chí miệt thị “Tây ngố”, như các du học sinh Đông Âu thập kỷ 70-80 của thế kỷ trước vẫn làm trong khi ăn học ở nước họ. Khao khát học hỏi từ những văn hóa khác là một việc tốt và cần thiết. Nhưng thái độ tôn sùng nước ngoài của chúng ta hiện nay đang ẩn chứa nhiều vấn đề. Nó thực ra đang cản trở việc học hành của chúng ta, đóng mắt chúng ta lại, thay vì mở ra.

    Sùng bái Mỹ, Nhật và Do Thái trước hết hàm ý ngầm một thái độ phân biệt chủng tộc và kỳ thị. “Anh từ châu Phi tới ư,” chúng ta thầm nói với bản thân khi đứng trước một người da màu, “nước các anh cũng nghèo, các anh cũng vứt rác ra đường và bấm còi inh ỏi? Vậy các anh không có gì để chúng tôi học cả.” Thái độ này khiến chúng ta bỏ qua những kho báu của nhân loại. Thật đáng tiếc cho những ai vì nhìn thấy 500 triệu người Ấn Độ hiện vẫn thích ra ngoài đồng hơn là ngồi trong toa lét, mà cho rằng nền văn hóa Ấn Độ không có gì để dạy họ. Bao nhiêu người trong chúng ta biết rằng Lebanon, một đất nước mà ta không biết gì về nó, đã đóng góp cho thế giới nhà thơ thiên tài Khalil Gibran, tác giả được đọc nhiều nhất trên thế giới chỉ sau Shakespeare, và tác phẩm Nhà tiên tri của ông cho chúng ta những suy ngẫm tuyệt vời về tình yêu, hôn nhân, niềm vui và nỗi buồn, học và dạy học, tình bạn, khoái cảm, đau đớn, cái đẹp, tôn giáo và cái chết? Tôi cho rằng chúng ta bị hút hồn bởi Mỹ, Nhật và Do Thái vì thực chất chúng ta chỉ quan tâm làm thế nào để trở nên giàu có, mặc dù chúng ta tự nhủ là muốn học để trở thành văn minh. Bởi nếu muốn học để biết phải sống như thế nào, chúng ta có thể học được nhiều lắm, từ bất cứ quốc gia hay dân tộc nào. Chúng ta có thể học từ lòng dũng cảm của những người Mẹ trên quảng trường de Mayo, Argentina, những người trong thập kỷ 70 đã thách thức chính quyền quân đội độc tài phải giải thích về sự biến mất của hàng ngàn con trai họ. Chúng ta có thể học từ những sinh viên Myanmar năm 1988, khi họ đứng lên phản đối chế độ quân chủ. Chỉ cần giảm một nửa số lượng bài báo ca ngợi cái sạch sẽ của người Nhật, cái lịch sự của người Mỹ, thay vào đó là những ví dụ trên, thì thế giới của chúng ta đã phong phú và giàu có lên biết bao nhiêu.

    Ngay cả từ phương Tây, Nhật và Do Thái, chúng ta cũng tiếp tục phải học, nhưng không chỉ từ chuyện không vượt đèn đỏ hay không vứt rác ra đường vẫn hay được thường xuyên nhắc tới. Chúng ta có thể rút ra bài học vì sao hàng chục triệu người Đức, chỉ cách đây có 60 năm thôi, lại có thể mê muội đi theo một học thuyết diệt chủng và tuân thủ người cầm đầu của họ như chưa bao giờ một dân tộc tuân thủ lãnh tụ của mình như vậy. Và chúng ta có thể học từ những vất vả và đau đớn mà người Đức đã trải qua trong sáu thập kỷ qua để xây dựng nền dân chủ của mình. Khi xây dựng lại nhà Quốc hội ở Berlin bị tàn phá trong chiến tranh, sau khi thống nhất Đông và Tây Đức, người ta tìm thấy, và quyết định bảo quản các grafitti tiếng Nga của những người lính Hồng quân Liên xô trên tường. Nhà báo George Packer của The New Yorker chỉ ra rằng không một quốc gia nào khác trên thế giới trưng bày bút tích của kẻ chinh phục mình trong tòa nhà quan trọng nhất đất nước. Không học từ đấy thì học từ đâu? Trong các buổi tối của mùa hè 2014, người dân tỉnh lỵ Sderot, Israel, đem ghế nhựa và sofa lên một ngọn đồi. Họ uống soda, ăn bỏng ngô, vừa chuyện trò vui vẻ vừa cùng nhìn về chân trời. Đều đặn, khi chân trời sáng rực lên, người ta reo mừng và vỗ tay. Đó là những lúc bom và tên lửa của Israel đáp xuống dải Gaza của người Palestine. Chỉ trong vài tuần, các đợt oanh tạc này đã giết chết gần 1800 người Palestine, trong đó có hàng trăm trẻ em. Tối tối, những người dân Sderot ngắm màn mưa tên lửa như đang xem một bộ phim. Tôi tự hỏi, sự căm thù phải lớn tới mức nào để có thể làm chai sạn trái tim của những người đàn ông, đàn bà, người già Do Thái này

    , và họ sống ra sao khi bên trong họ có nhiều sự thù hận tới mức họ bị mất tính người như vậy. Vì sao những con người có bề dày văn hóa đến như thế lại trở nên cơ sự này, và liệu có cơ may nào chuyển hóa được lòng hận thù độc địa ấy.

    Người Do Thái có quá nhiều bài học cho chúng ta về bản chất con người, nếu như chúng ta chịu khó nhìn rộng ra ngoài “cái tủ sách rắc nước hoa” của họ. Mỗi đất nước, dân tộc, văn hóa, thậm chí mỗi cá nhân là một vũ trụ phức tạp, chứ không phải những nhân vật của một vở kịch tuyên truyền thô thiển: người này giỏi, người kia kém, trắng đen rõ ràng và bất biến. Thách thức trong quá trình học hỏi là nhận biết được sự phức tạp, những xung đột, những chấn thương, những năng lượng, những bế tắc của một quốc gia, của một nền văn hóa, dù nó là Pháp hay Campuchia. Ngược lại, càng mù quáng, tôn sùng vô điều kiện một ai đó, một cái gì đó, thì lại càng dễ thất bại. Và khi vỡ mộng, người ta lại càng vội vã tuyên bố phải “thoát” nó ngay lập tức, để chạy tới tôn thờ một cái mới. Tâm thế đó là tâm thế của những kẻ mất tự do.

    Nguồn: Sách 'Bức xúc không làm ta vô can', tác giả Đặng Hoàng Giang

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •