Trang 1 của 2 12 CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 13

Chủ đề: Những nhà thơ Thanh Hóa hay nhất thế kỉ

Xem kiểu ghép

Previous Post Previous Post   Next Post Next Post
  1. #1
    Ngày tham gia
    21-09-2009
    Bài viết
    96

    Mặc định Những nhà thơ Thanh Hóa hay nhất thế kỉ

    Hữu Loan

    Hai người phụ nữ trong đời thơ Hữu Loan
    Nhà thơ Hữu Loan đã ra đi mãi mãi vào cõi vình hằng nhưng những bài thơ đau đáu của ông vẫn còn vang vọng trong lòng người yêu thơ. Phóng viên Gia đình và trẻ em đã nhiều lần đến thăm nhà thơ và đó là những kỉ niệm khó phai mờ trong suốt những năm tháng cầm bút của mình. Nhân dịp này chúng tôi xin gửi đến độc giả những câu chuyện hẳn chưa nhiều người biết phía sau những bài thơ tình hay nhất của ông.
    ''Em nhỏ hậu phương" và bài thơ "Màu tím hoa sim"
    Có lẽ người ta nhớ đến Hữu Loan là nhớ đến bài thơ “ Màu tím hoa sim” với những xúc cảm chân thành của một mối tình âm dương cách trở. Đôi mắt nhà thơ ánh lên khi nhắc về mối tình đầu đau thương và câm nín. Người con gái trong bài thơ màu tím hoa sim là người đàn bà đầu tiên trong cuộc đời Hữu Loan và dù đã sáu thập kỉ trôi qua nhưng những cảm xúc ngày nào vẫn như đang vây rát trong tâm trí lão nhà thơ.
    Không gian của bài thơ được kết thúc bằng những đồi hoa sim tím loang dần những vạt đồi miền trung du. Đấy là những cánh đồi sim mua ngút ngàn ở chân núi Nưa bên dòng sông Yên xanh thẳm. Địa danh ấy ngày xưa gọi là Bến Chuồng với những dãy đồi thấp san sát nhau và những dòng khe, những hồ nước tĩnh lặng đến nao lòng. Mỗi độ thu về hoa sim hoa mua dệt không gian thành màu tím mông mênh nhìn ngun ngút con mắt. Đến tận ngày hôm nay những vạt đồi tím ấy vẫn như chẳng có gì thay đổi như bản thân vùng quê bán sơn địa ấy. Người viết bài này đã từng tắm mình trong cái màu tím mang mang ấy để thấu cái biền biệt sơn khê và cảm giác rất lạ “ khi gió sớm thu về rợn rợn nước sông” mà Hữu Loan đã gọi tên trong bài thơ để đời của ông.
    Người con gái “tóc chưa đầy búi” ấy tên là Lê Đỗ Thị Hinh con gái ông Lê Hữu Kì quan tham biện nhà Nguyễn. Thời đi học và hoạt động dân chủ Hữu Loan trọ học và làm gia sư ở nhà cụ tham biện. Khi đó Hữu Loan gia sư cho ba người anh bà là Lê Đỗ Khôi*, Lê Đỗ Nguyên** và Lê Đỗ An. Sau này ông có nhắc đến họ trong bài thơ “ Nàng có 3 người anh đi bộ đội” hay “ Một chiều rừng mưa/ Ba người anh nơi chiến trường Đông Bắc/ Được tin em gái mất/ Trước tin em lấy chồng” là như vậy. Lúc đấy bà Hinh còn nhỏ chỉ độ 10 tuổi và rất chăm chú nghe ông giảng bài cho các anh. Tình cảm cứ như vậy dần dần nảy nở trong lòng cô gái nhỏ. Cụ Lê Hữu Kì rất quí mến nhà thơ và coi ông như con trong nhà cũng âm thầm vun vén tình cảm cho cô con gái nhỏ. Sau khi cách mạng thành công cụ Lê Hữu Kì về lui về ở ấp nhỏ dưới chân núi Nưa. Ba người con lớn của cụ lần lượt nhập ngũ. Hữu Loan cũng ra nhập sư đoàn 304 làm công tác tuyên huấn. Thi thoảng ông lại đạp xe về nhà cụ chơi. Chính trong thời gian giữa những cuộc đi về chớp nhoáng ấy tình yêu giữa nhà thơ Hữu Loan một chiến sĩ văn hoá cách mạng và cô tiểu thư Lê Đỗ Thị Hinh đã đơm hoa kết nụ. Cái đám cưới kì lạ “ Ngày hợp hôn/ Nàng không đòi may áo cưới/ Tôi mặc đồ quân nhân/Đôi giày đinh/ Bết bùn đất hành quân/ Nàng cười xinh xinh/ Bên anh chồng độc đáo’’ ấy diễn ra vào ngày 16/2/1949. Năm ấy nhà thơ 33 tuổi còn vị hôn thê mới tròn 16 tuổi. Sau ngày cưới ông lại tất tưởi vào chiến trường. Nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang. người vợ trẻ của ông đã đột ngột ra đi trong dòng nước sông Yên ngày 29/5/1949. Khi hồi ức đến đây tôi thấy mắt lão nhà thơ như chực khóc. Cái khóc khan của một người đã ngoài 90 tuổi và trải qua không biết bao nhiêu những nỗi đau và đắng cay cuộc đời. Ông cất giọng đọc khe khẽ
    Nhưng không chết
    Người trai khói lửa
    Mà chết
    Người gái nhỏ hậu phương
    Tôi về
    Không gặp nàng
    Mẹ tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
    Chiếc bình hoa ngày cưới
    Thành bình hương
    Tàn lạnh vây quanh…
    Giọng đọc của ông không còn tròn trịa bởi đôi hàm răng đã rụng gần hết. Ông cầm li rượu nhấp một chút rồi để xuống mắt nhìn xa xăm như đang dõi đến tận chốn nào xa lắm. Khi tôi hỏi ông có còn giữ được tấm ảnh nào của bà Hinh không thì ông ngồi thần ra mất một lúc. Ông bảo cái năm bão gió cách đây mười mấy năm khi nhà bị đổ, mưa lũ dâng nước ngập nhà ông đã làm thất lạc tấm ảnh mà bấy lâu ông vẫn giữ kề kề bên mình.
    Cái chết của người vợ trẻ ấy đã đưa cuộc đời nhà thơ rẽ sang một hướng khác. Từ nỗi đau tận cùng ấy bài thơ bất hủ của ông đã ra đời và làm nên tên tuổi nhà thơ dù có lúc bị quy kết, bị dìm xuống tận cùng khổ tận tưởng chừng không bao giờ gượng dậy nổi nhưng cuối cùng ông đã vượt qua tất cả để ngạo nghễ với cuộc đời. Sự ra đời của bài thơ Màu tím hoa sim bắt đầu từ một cái chết thương tâm nhưng cũng mở ra cho nhà thơ một chân trời mới…
    Em gái đồng xanh và bài thơ Hoa lúa
    Em là con gái đồng xanh
    Tóc dài
    Vương hương lúa
    Đôi mắt em mang
    Chân trời quê cũ
    Giếng ngọt
    Cây đa
    Anh khát
    Tình quê ta
    Trong mắt em
    Thăm thẳm…
    Có lẽ những vần thơ đẹp và tươi tắn ấy đã làm chúng ta hiểu phần nào về người vợ thứ hai của nhà thơ Hữu Loan người đã luôn ở bên cạnh ông và là điểm tựa cho ông vượt qua những rộng dài kiếp người nhiều khổ đau và giằng xé. Bài thơ Hoa lúa trích ở trên có lẽ là bài thơ mà ông tâm đắc nhất cuộc đời dù nó không nổi tiếng như Màu tím hoa sim hay Đèo Cả. Bài thơ ấy ông viết năm 1956 tặng bà Phạm Thị Nhu khi bà đang hoài thai người con thứ hai của ông.
    Sau cái chết của bà Lê Đỗ Thị Hinh, Hữu Loan lặng lẽ trở về quê dạy học ở trường Mai Anh Tuấn do ông Phạm Ngọc Thái làm hiệu trưởng. Ông hiệu trưởng và nhà thơ rất tâm đầu ý hợp và họ mến nhau như anh em một nhà. Ông Thái là con lớn trong một gia đình đại địa chủ có 13 anh em. Một trong những người em của ông là bà Phạm Thị Nhu lúc đó vừa chớm trở thành thiếu nữ. Chiều nào cô gái con thứ sáu trong gia đình đại địa chủ ấy đều đi ngang qua trường làng ra giếng gánh nước. Nhà đông người làm nên mỗi hôm “ em gái đồng xanh ” cũng phải gánh nước hàng chục lần. Thi thoảng cô gái quê phúc hậu và khoẻ khoắn lại bỏ việc vào nấp nom cánh cửa lớp học nghe anh giáo giảng Kiều. Bà bảo “ Ông ấy giảng Kiều hay lắm, ai trót nghe cũng phải chết mê chết mệt”. Còn ông thì dù đang dạy nhưng mắt lúc nào cũng nhìn ra của sổ để thả mình theo làn “ Tóc dài/ vương hương lúa”. Bà bảo lúc ấy bà còn chưa biết tên ông còn ông thì gọi bà là cô bé trẻ bò.Nhưng từ những lần gặp nhau nhìn he hé qua cửa lớp học ấy được mọi người ra sức vun vén hai người đến với nhau thật tự nhiên. Khi kể đến đây lão nhà thơ còn đùa “ Bà đúng là trẻ bò mà đã biết ve chồng”. Bà cự “ Ai lúc đấy thèm để ý đến ông gần 40 tuổi lại còn đã qua một đời vợ”. Ông quay sang tôi phân trần “ Đấy nhà báo thấy chưa bà ấy là táo tợn lắm”

    Đám cưới của nhà thơ và em gái đồng xanh diễn ra vào ngày 21/12/1953 (16/11 Quý tị) trong một chiều đông “ Nhạc quê hương/ Say đắm/Trong lời em/Từng lời…” Khi ấy nhà thơ đã 37 tuổi còn bà Nhu tròn 18 tuổi. Bà bảo khi ấy bà còn bé đến độ lúc mặc áo cưới còn phải mặc độn gần chục cái áo cho trông ra dáng cô dâu một chút. Và từ đó hai người đã sống với nhau cho đến ngày hôm nay với mười mặt con và vô vàn những hạnh phúc và những nỗi thống khổ đời người.
    Sau đám cưới giữa Hữu Loan và bà Phạm Thị Nhu không lâu thì chiến thắng Điện Biên Phủ, hoà bình lập lại trên miền Bắc. Ông lại hăm hở khăn gói ra Hà Nội công tác ở báo Văn nghệ. Ở nhà vợ ông sinh hạ người con trai đầu lòng. Cuộc sống ngày càng trở nên khó khăn. Ngay trước cải cách ruộng đất và sự kiện nhân văn giai phẩm ông đã lặng lẽ rời Hà Nội trở về quê hương với “Những đêm dài/ Em khóc/ Đâỳ/ Như giếng mưa/ Câm/ Như bồ thóc’’. Ông mang trong mình những cam chịu đến sục sôi và chung sống với những thị phi khẩu thiệt và sự xa lánh của cộng đồng. Cái bất mãn của một người tinh thông Hán ngữ, làu làu Pháp văn thao thiết ấy còn đeo đuổi ông đến tận bây giờ.

    Câu chuyện của chúng tôi thỉnh thoảng lại bị ngắt quãng vì những vị khách yêu thơ tứ phương có việc ngang qua vào thăm ông. Ai cũng vội vã nhưng chân thành. Có người là giáo viên dạy văn ở miền núi về thăm bạn gần đấy cứ ôm lấy lão nhà thơ mà khóc. Có người đến chỉ để gửi ông một túi quà. Có lẽ khó ai dửng dưng nổi khi bước chân vào ngôi nhà ấy khi ông nằm một góc bà nằm một góc và dưới gầm giường có tới 4 cái bô mà những ai đã từng chăm người ốm liệt giường trong bệnh viện đều biết. Tôi đề nghị hai ông bà ra ngồi trước cửa để chụp chung một tấm ảnh kỉ niệm. Hơn nữa tôi không muốn đăng lên báo cái không khí ngột ngạt trong căn nhà. Tôi dìu nhà thơ ra trước cửa đặt ông ngồi vào chiếc ghế nhựa rồi quay vào nhà bế bà ra. Bà vẫn chưa hết đau vì cái chân gãy ngang đùi vừa tháo bột. Qua ống kính máy ảnh tôi nhìn thấy đôi vợ chồng già nua ấy ánh lên nụ cười như muốn tát cạn thời gian vào hai hốc mắt. Nụ cười ngạo nghễ chiến thắng của những người bước qua tất cả những thăng giáng cuộc đời.
    Anh kiêu hãnh
    Có quê hương
    Bất khuất
    Và có người yêu
    Là em gái quê hương
    Anh yêu em
    Muôn vàn
    Như quê ta
    Bất diệt


    * Liệt sĩ, Hy sinh trên đồi Him Lam trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954.
    ** Trung tướng Phạm Hồng Cư.
    Sửa lần cuối bởi Thiên Pax; 18-06-2010 lúc 05:05 AM.

  2. #2
    Ngày tham gia
    21-09-2009
    Bài viết
    96

    Mặc định

    Hồ Dzếnh

    Ông sinh năm 1916 tại tại làng Đông Bích huyện Quảng Xương tỉnh Thanh Hóa. Cha ông là Hà Kiến Huân, người gốc Quảng Đông, mẹ Đặng Thị Văn là người Việt. Ông học trung học, dạy tư, làm thơ, viết báo từ năm 1931 tại Hà Nội. Năm 1953 ông vào Sài Gòn làm báo, năm 1954 trở về Hà Nội tiếp tục viết báo, làm thơ. Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam ngay từ buổi đầu thành lập (1957). Ông mất ngày 13 tháng 8 năm 1991 tại Hà Nội.

    Hồ Dzếnh được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007
    Nhà thơ Bùi Giáng trong nhiều tập thi thoại đã cho rằng Hồ Dzếnh là người làm thơ lục bát cực hay, nhưng bù lại thơ thất ngôn chỉ ở mức bình thường. Bài "Rằm tháng giêng", theo Bùi Giáng trong cuốn Thi ca tư tưởng thì: "Người Việt Nam có thể không đọc Nguyễn Du, nhưng không thể nào không đọc bài thơ kia của Hồ Dzếnh".

    Nhà văn Kiều Thanh Quế viết: "Ngòi bút Hồ Dzếnh đã có được lắm đặc tánh khả quan trong khi phô diễn. Nó nên tỏ ra có sức mạnh trong những tiểu thuyết dày dặn, thì tên tuổi của người Minh Hương ấy – Hồ Dzếnh là người Minh Hương, văn học quốc ngữ không nề hà chẳng đón tiếp như đã đón tiếp bao nhiêu nhà văn Việt Nam hữu tài." (Tạp chí Tri Tân số 67, 13/6/1942)

    "Lời giới thiệu" Tuyển tập Hồ Dzếnh – Tác phẩm chọn lọc, NXB Văn Học 1988, nhận định: "Tác phẩm của Hồ Dzếnh không nhiều, lại không tập trung ở một tờ báo hay đặc san nào. Với bản chất trầm lắng, ông luôn luôn khiêm tốn tự cho mình là người mới bắt đầu bước vào nghề viết. Tuy nhiên, với hai tập văn thơ Chân trời cũ và Quê ngoại, Hồ Dzếnh được biết đến như một nhà thơ có chân tài. "

    Nhà thơ Hoài Anh viết về Hồ Dzếnh: "Phần đóng góp quan trọng nhất cho văn học Việt Nam của anh lại là tập Chân trời cũ, thể hiện nếp sinh họat, tính cách, tình cảm, tâm lý của bà con gốc Hoa trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Hồ Dzếnh chỉ kể chuyện về người cha mình, các anh, chị, em mình, con ngựa của cha mình... mà làm cho người đọc Việt Nam rung động tận đáy lòng." (Chân dung văn học, NXB Hội Nhà văn 2001)

    Nhà văn, giáo sư Đặng Thai Mai đánh giá tập truyện Cô gái Bình Xuyên (NXB Tiếng Phương Đông, 1946) viết về cuộc kháng chiến chống Pháp của người dân Nam bộ thời 1945-1946 như là một trong những tín hiệu đầu tiên của văn học kháng chiến.


    Chiều
    Tác giả: Hồ Dzếnh


    Trên đường về nhớ đầy
    Chiều chậm đưa chân ngày
    Tiếng buồn vang trong mây
    Chim rừng quên cất cánh
    Gió say tình ngây ngây

    Có phải sầu vạn cổ
    Chết trong hồn chiều nay?

    Tôi là người lữ khách
    Mây chiều khó làm khuây
    Ngỡ lòng mình là rừng
    Ngỡ hồn mình là mây

    Nhớ nhà châm điếu thuốc
    Khói huyền bay lên cây


    Ngập ngừng

    Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!
    Ðể lòng buồn tôi dạo khắp trong sân
    Ngó trên tay, thuốc lá cháy lụi dần…
    Tôi nói khẽ: Gớm, làm sao nhớ thế?

    Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!
    Em tôi ơi! tình có nghĩa gì đâu?
    Nếu là không lưu luyến buổi sơ đầu?
    Thuở ân ái mong manh như nắng lụa
    Hoa bướm ngập ngừng cỏ cây lần lữa
    Hẹn ngày mai mùa đến sẽ vui tươi
    Chỉ ngày mai mới đẹp, ngày mai thôi!

    Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!
    Tôi sẽ trách – cố nhiên, nhưng rất nhẹ
    Nếu trót đi, em hãy gắng quay về…
    Tình mất vui khi đã vẹn câu thề
    Ðời chỉ đẹp những khi còn dang dở
    Thư viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ
    Cho nghìn sau… lơ lửng… với nghìn xưa…

    Ta mơ thấy Mai về đây hong tóc
    Tóc Mai bay thoảng gió lộng bên trời....

  3. #3
    Ngày tham gia
    21-09-2009
    Bài viết
    96

    Mặc định

    Hồng Nguyên
    Nhà thơ Hồng Nguyên tên khai sinh là Nguyễn Văn Vượng, sinh năm 1924 tại xã Đông Thọ, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông tham gia Hội Văn hóa Cứu quốc từ trước Cách mạng Tháng Tám, là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, ủy viên Ban Chấp hành Hội Văn hóa Cứu quốc Liên khu IV, từng viết bài cho các báo Dân mới, Sáng tạo, Thép mới…

    Năm 1951, Nguyên Hồng lâm trọng bệnh và mất tại quê nhà khi ông đang là Trưởng ty Thông tin Tuyên truyền tỉnh Thanh Hóa.

    Hồng Nguyên sáng tác ở nhiều thể loại khác nhau, trong đó tiêu biểu là thơ và tiểu luận văn học.

    Trong các tác phẩm Hồng Nguyên để lại (Hồn thơ Việt Nam; Đời anh nông dân vô Nam; Nhớ; Những khẩu hiệu trong đêm), bài thơ “Nhớ” là một bài thơ tiêu biểu trong các bài thơ viết về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. “Nhớ” cũng là bài thơ ghi dấu ấn phong cách sáng tác thơ Hồng Nguyên.

    *
    Nhớ

    Lũ chúng tôi
    Bọn người tứ xứ,
    Gặp nhau hồi chưa biết chữ
    Quen nhau từ buổi “Một hai”
    Súng bắn chưa quen,
    Quân sự mươi bài
    Lòng vẫn cười vui kháng chiến
    Lột sắt đường tàu,
    Rèn thêm đao kiếm,
    Áo vải chân không,
    Đi lùng giặc đánh.

    Ba năm rồi gửi lại quê hương.
    Mái lều gianh,
    Tiếng mõ đêm trường,
    Luống cày đất đỏ
    Ít nhiều người vợ trẻ
    Mòn chân bên cối gạo canh khuya
    Chúng tôi đi
    Nắng mưa sờn mép ba lô,
    Tháng năm bạn cùng thôn xóm.
    Nghỉ lại lưng đèo
    Nằm trên dốc nắng.
    Kì hộ lưng nhau ngang bờ cát trắng.
    Quờ chân tìm hơi ấm đêm mưa.
    - Đằng nớ vợ chưa?
    - Đằng nớ?
    - Tớ còn chờ độc lập
    Cả lũ cười vang bên ruộng bắp,
    Nhìn o thôn nữ cuối nương dâu.

    Chúng tôi đi mang cuộc đời lưu động,
    Qua nhiều nơi không nhớ hết tên làng.
    Đã nghỉ lại rất nhiều nhà dân chúng
    Tôi nhớ bờ tre gió lộng
    Làng xuôi xóm ngược mái rạ như nhau
    Có nắng chiều đột kích mấy hàng cau.
    Có tiếng gà gáy xóm,
    Có “Khai hội, yêu cầu, chất vấn!”
    Có mẹ hiền bắt rận cho những đứa con xa.
    Trăng lên tập hợp hát om nhà.

    Tôi nhớ
    Giường kê cánh cửa,
    Bếp lửa khoai vùi
    Đồng chí nứ vui vui,
    Đồng chí nứ dạy tôi dăm tối chữ,
    Đồng chí mô nhớ nữa,
    Kể chuyện Bình – Trị – Thiên,
    Cho bầy tôi nghe ví,
    Bếp lửa rung rung đôi vai đồng chí
    - Thưa trong nớ hiện chừ vô cùng gian khổ,
    Đồng bào ta phải kháng chiến ra ri.

    Đêm đó chúng tôi đi
    Nòng súng nghiêng nghiêng,
    Đường mòn thấp thoáng…
    Trong điếm nhỏ,
    Mươi người trai tráng,
    Sờ chuôi lựu đạn.
    Ngồi thổi nùn rơm
    Thức vừa rạng sáng.
    Nhìn trời sương nhẩm bước chúng tôi đi
    Chúng tôi đi nhớ nhất câu ni:
    Dân chúng cầm tay lắc lắc:
    “Độc lập nhớ rẽ viền chơi ví chắc!”

    (1948)

    Ta mơ thấy Mai về đây hong tóc
    Tóc Mai bay thoảng gió lộng bên trời....

  4. #4
    Ngày tham gia
    21-09-2009
    Bài viết
    96

    Mặc định

    Trần Mai Ninh
    Trần Mai Ninh tên thật là Nguyễn Thường Khanh. Ông sinh năm 1917 tại Thanh Hóa. Thời trẻ, Trần Mai Ninh tham gia phong trào yêu nước Mặt trận dân chủ (1936-1939) của Đảng Cộng sản Đông Dương. Ông làm phóng viên, biên tập viên cho các báo Bạn dân, Thời thế (1937), Tin tức, Thế giới, Người mới (1938), Bạn đường (1939)... Khi Mặt trận dân chủ bị chính quyền thuộc địa đàn áp, Trần Mai Ninh về quê hoạt động ở chiến khu Ngọc Trạo. Ông bị nhà cầm quyền bắt giam nhưng sau đó vượt ngục và tham gia giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám ở Nam Trung bộ. Sau đó Trần Mai Ninh tham gia kháng chiến ở Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hòa.

    Ông lại bị chính quyền thực dân bắt và qua đời trong tù năm 1947. Trần Mai Ninh để lại nhiều tác phẩm, nhưng nổi tiếng hơn cả là bài thơ Nhớ máu.
    Phong cách

    Thanh Thảo, trên báo Thanh niên ngày 23 tháng 7 năm 2006, viết về phong cách thơ Trần Mai Ninh và bài thơ Nhớ máu:

    Ơ cái gió Tuy Hòa...
    Cái gió chuyên cần
    Và phóng túng.
    Gió đi ngang, đi dọc,
    Gió trẻ lại lưng chừng
    Gió nghĩ,
    Gió cười,
    Gió reo lên ***g lộn

    ...Bắt đầu từ ngọn gió dữ dội ấy, thơ Việt hiện đại có thêm một nhà thơ, một bài thơ bất tử: bài Nhớ máu. Hãy đọc lại bài thơ này với niềm đam mê, với tình yêu, và chúng ta sẽ thấy, cái nhịp thơ Nhớ máu ấy chính là nhịp rock, một loại hard rock mà ngay tới bây giờ cũng chưa dễ thưởng thức được trọn vẹn. Thơ bắt đầu từ ngôn ngữ, nhưng trên cả ngôn ngữ, siêu-ngôn-ngữ chính là nhịp thơ, chứ không phải vần thơ. Nhịp thơ đẩy bài thơ vọt lên phía trước, ấn vào vô thức người đọc, khuấy động tận đáy sâu tâm cảm người đọc. Đã nhiều năm tôi đọc Nhớ máu, ở nhiều hoàn cảnh và tâm trạng khác nhau, và sau cùng, cái "ấn" vào tôi sâu nhất vẫn là nhịp (rhythm), cái nhịp kỳ lạ của bài thơ này:

    - A, gần lắm!
    Ta gần máu,
    Ta gần người,
    Ta gần quyết liệt.
    Ơ hỡi, Nha Trang!
    Cái đô thành vĩ đại

    Thanh Thảo nhận xét thơ của Trần Mai Ninh có thể hóa thân không chỉ vào âm nhạc, hội họa, điêu khắc, mà cả vào điện ảnh nữa! Và những montage dứt điểm trong bài Nhớ máu là những montage mà một đạo diễn điện ảnh mạnh tay nghề có thể thưởng thức sâu sắc. "Quắc mắt nhìn vào thăm thẳm tương lai" Trần Mai Ninh có thể thấy bài thơ của mình ròng ròng nơi "tối cao vinh dự". Nơi ấy, chắc chắn không phải là một giải thưởng, dù là giải thưởng to đến đâu! Nơi ấy, là hồn dân tộc, là khí huyết bừng bừng của những người yêu nước trung trực, là nơi "Việt Nam rồi đứng dậy - Sáng vô chừng!".

    Bài thơ Nhớ máu tiêu biểu cho phong cách dữ dội, sâu sắc và quan điểm sáng tác đầy nhiệt huyết của Trần Mai Ninh, như chính ông đã viết trong tiểu luận Sống đã rồi viết văn (1944):

    Một nhà văn muốn sáng tác cho thực có giá trị trong suốt cả một đời, điều quan hệ nhất, là suốt cả một đời, nhà văn ấy phải học, học ở nơi trang sách của đồng loại, và nhất là học ngay bằng máu thịt của mình tung ra giữa trời hoạt động, trong một sự sống ngang tàng, chăm chỉ, không dừng một phút.

    Tác phẩm

    * Nhớ máu (thơ)
    * Tình sông núi (thơ)
    * Thằng Tuất (truyện vừa, 1939)
    * Trừ họa (truyện ngắn, 1941)
    * Ngơ ngác (truyện dài, 1941)
    * Sống đã rồi viết văn (tiểu luận, 1944)
    * Thơ văn Trần Mai Ninh (tuyển tập, 1980)

    Vinh danh

    Trần Mai Ninh được trao giải thưởng cấp nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007.[3]

    Hội nhà báo tỉnh Thanh Hóa cũng lấy tên Trần Mai Ninh đặt cho giải thưởng cao quý nhất của hội. Tại Thanh Hóa còn có một trường học mang tên ông.

    Tại quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh cũng có một con đường mang tên Trần Mai Ninh.


    Nhớ máu




    Ơ cái gió Tuy Hoà…

    Cái gió chuyên cần

    Và phóng túng.

    Gió đi ngang, đi dọc,

    Gió trẻ lại - lưng chừng

    Gió nghỉ,

    Gió cười,

    Gió reo lên ***g lộng.



    Tôi đã thấy lòng tôi dậy

    Rồi đây

    Còn mấy bước tới Nha Trang

    - A, gần lắm!

    Ta gần máu,

    Ta gần người,

    Ta gần quyết liệt.



    Ơi hỡi Nha Trang!

    Cái đô thành vĩ đại

    Biết bao người niệm đọc tên mi.



    Và Khánh Hoà vĩ đại!

    Mắt ta căng lên

    Cả mặt

    Cả người,

    Cả hồn ta sát tới

    Nhìn mi!

    Ta có nhớ

    Những con người

    Đã bước vào bất tử!

    Ơ, những người!

    Đen như mực, đặc thành keo

    Tròn một củ

    Hay những người gầy sắt lại

    Mặt rẹt một đường gươm

    Lạnh gáy,,,

    Lòng bàn tay

    Khắc ấn chuỗi dao găm.

    Chân bọc sắt,

    Mắt khoét thủng đêm dày



    Túi chứa cả Nha Trang… họ bước

    Vương Gia Ngại… Cung Giũ Nguyên

    Chút chít Hoàng Bá San… còn nữa!



    Cả một đàn chó ghẻ

    Sủa lau nhau

    Và lần lượt theo nhau

    Chết không ngáp!



    Dao găm để gáy,

    Súng màng tang



    Ồng ộc xối đầy đường máu chó.

    Chúng nó rú.

    Cả trại giặc kinh hoàng:

    Ta mơ thấy Mai về đây hong tóc
    Tóc Mai bay thoảng gió lộng bên trời....

  5. #5
    Ngày tham gia
    20-01-2008
    Bài viết
    28

    Mặc định

    Cảm ơn tác giả vì bài viết.
    Một tỉnh truyền thống và ham học như tỉnh ta còn nhiều, nhiều nữa các con người làm rạng danh cho Thanh Hóa.
    Những bài viết thế này sẽ làm chúng ta hiểu hơn về quê hương...

  6. #6
    Ngày tham gia
    21-09-2009
    Bài viết
    96

    Mặc định Thôi Hữu

    Nhà thơ Thôi Hữu, tên thật là Nguyễn Đắc Giới, còn có tên riêng là Trần Văn Tấn với bút hiệu Tân Sắc, quê huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá.

    Ông học tại trường Kỹ nghệ thực hành Huế. Từ năm 1939, ông bắt đầu sáng tác văn chương, có thơ đăng ở báo Bạn Đường (Thanh Hóa). Giác ngộ cách mạng ông bỏ học từ năm 1940 làm nghề thợ điện, tích cực hoạt động trong đoàn Thanh niên Dân chủ. Cuối năm 1943, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và được điều từ Huế ra Hà Nội hoạt động. Giữa năm 1944, ông bị bắt và bị giam ở Hỏa Lò, nhưng đến cuối năm đã vượt ngục thành công, trở lại với công tác bí mật, tham gia Hội Văn hóa Cứu quốc.

    Sau Cách mạng tháng Tám ông cộng tác các báo Sự Thật, Thủ Đô của Liên khu I, Vệ Quốc quân của Quân đội Nhân dân.

    Ngày 16-12-1950 ông hi sinh trên đường đi công tác trong vụ oanh tạc của máy bay Pháp, hưởng dương 31 tuổi.


    Thép Mới khi được tin ông mất đã viết như sau: “Thôi Hữu là một nhân cách đặc biệt của làng báo làng văn... Nhớ Thôi Hữu chúng ta yêu mãi lòng yêu viết của anh, yêu quý những bài thơ bài văn nhỏ anh đã viết, xót xa nghĩ đến những tác phẩm của anh định viết chưa viết được... Thôi Hữu tương lai, Thôi Hữu hy vọng”. Và viết trên báo Văn nghệ: “Bóng của Thôi Hữu, bóng của Trần Đăng, bóng của tất cả những anh em đã mất, sẽ mãi mãi cùng chúng ta đi lên trên các ngả đường đêm của chiến dịch tới”.

    Nhà văn Tô Hoài, người có biệt tài đặc tả chân dung, từ dáng vẻ bên ngoài đến nội giới bên trong thì nhận thấy Thôi Hữu có “đôi mắt sâu thẳm, một miệng cười khỏe mà hiền”, và một “vẻ đẹp rất đàn ông”.

    Lên Cấm Sơn

    Tôi lên vùng Cấm Sơn

    Đi tìm thăm bộ đội

    Đây bốn bề núi, núi

    Heo hút vắng tăm người

    Đèo cao rồi lũng hẹp

    Dăm túp lều chơi vơi

    Bộ đội đóng ở đó

    Cách xa hẳn cuộc đời

    Ngày ngày ngóng đợi tin xuôi ngược

    Chỉ thấy mây xanh bát ngát trời

    Họ đã từng dự trận

    Từ Tiên Yên, Đầm Hà

    Về An Châu, Biển Động

    Thấm thoắt hai năm qua



    Cuộc đời gió bụi pha xương máu

    Đói rét bao lần xé thịt da

    Khuôn mặt đã lên màu tật bệnh

    Đâu còn tươi nữa những ngày hoa!

    Lòng tôi xao xuyến tình thương xót

    Muốn viết bài thơ thấm lệ nhoà

    Tặng những anh tôi từng rỏ máu

    Đem thân xơ xác giữ sơn hà



    Quây quần bên nến trám

    Chúng tôi ngồi hàn huyên

    Bao giờ vinh nhục

    Bao nhiêu phút ưu phiền

    Của đời người chiến sĩ

    Đêm thâu kể triền miên:

    "Có khi gạo hết tiền vơi

    Ổi xanh hái xuống đành xơi no lòng

    Có đêm gió bấc lạnh lùng

    Áo quần rách nát lá dùng che thân

    Khó khăn đau ốm muôn phần

    Lấy đâu đủ thuốc mặc dần bệnh nguôi

    Có phen chạy giặc tơi bời

    Rừng sâu đói rét, không người hỏi han".



    Đến nay họ về đây

    Giữ vững miền núi Cấm

    Thổ phỉ quét xong rồi

    Đồn Tây xa chục dặm

    Kiến thiết lại bản xóm

    Bị giặc đốt tan tành

    Trên nền tro đen kịt

    Vàng hoe màu mái gianh

    Họ đi tìm dân chúng

    Lẩn trốn trong rừng xanh

    Về làm ăn cày cấy

    Tiếp tục đời yên lành



    Tiếng hát lừng vang trong gió núi

    Ngày vàng ngân giọng trẻ ê a

    Ở đây bản vắng rừng u tối

    Bộ đội mang gieo ánh chói loà

    Ở đây đường ngập bùn phân cũ

    Xẻng cuốc khua vang điệu dựng nhà

    Ở đây những mặt buồn như đất

    Bộ đội cười lên tươi như hoa.



    Họ vẫn gầy, vẫn ốm

    Mắt vẫn lõm, da vàng

    Áo chăn chưa đủ ấm

    Ăn uống vẫn tồi tàn

    Nhưng vẫn vui vẫn nhộn

    Pháo cười luôn nổ ran



    Lòng tôi bừng thức tình trai mạnh

    Muốn viết bài thơ nhộn tiếng cười

    Tặng những anh tôi trong lửa đạn

    Qua nghìn gian khổ vẫn vui tươi.

    Ta mơ thấy Mai về đây hong tóc
    Tóc Mai bay thoảng gió lộng bên trời....

  7. #7
    Ngày tham gia
    21-09-2009
    Bài viết
    96

    Mặc định Cầm Giang

    Ngày Thơ Việt Nam - Nguyên Tiêu Đinh Hợi (2007). Văn Miếu, Quốc Tử Giám Hà Nội. Trung tâm văn hóa doanh nhân Việt Nam công bố 100 bài thơ hay do Trung tâm tổ chức bình chọn. 100 bài thơ của 100 nhà thơ được vinh danh trong đó có 3 bài thơ "đậm chất Tây Bắc" là các bài: "Núi Mường Hung, dòng sông Mã" của nhà thơ Cầm Giang; "Nhớ vợ" của Cầm Vĩnh Ui; "Em tắm" của Bạc Văn Ùi. Thực ra cả 3 bài thơ này đều của nhà thơ Cầm Giang, một người con xứ Thanh.
    Theo nhà văn Hoàng Quảng Uyên đã từng đi lại nhiều lần về Khách Nhi, Vĩnh Thịnh, Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc) để thăm hỏi gia đình, gặp cô giáo Lương Nguyên (con gái nhà thơ) và thắp hương viếng mộ nhà thơ Cầm Giang.

    Anh đã cho chúng ta thấy rõ hơn “ẩn số Cầm Giang” để anh tri âm với nhà thơ tài hoa, với những bài thơ hay đóng góp không nhỏ cho nền thơ ca đương đại của chúng ta. Anh Uyên cho biết bản lý lịch mà Cầm Giang khai năm 1967 từ mỏ Cẩm xin chuyển về dạy học ở Vĩnh Phúc:

    Tên thường dùng: Lương Cầm Giang

    Tên khai sinh: Lê Gia Hợp

    Ngày sinh: 2/5/1931

    Nơi sinh: Xóm 3, Nguyệt Viên, Hoằng Quang, Hoằng Hóa, Thanh Hóa…

    Và như chúng ta biết từ năm học 1968 anh chuyển về dạy học đến khi anh qua đời năm 1989 khi mới 59 tuổi đời.

    Có người nói: Cầm Giang bỏ vợ là chị Lê Thị Vịnh ở quê, trong khi chưa ly dị đã cưới cô Nguyễn Thị Kiên ở Khách Nhi nên “phạm luật”!

    Có biết đâu rằng gia đình anh “ép” anh lấy vợ từ 14 tuổi, anh không chấp nhận và bỏ đi lang thang ra Nam Định, Hà Nội rồi gặp ông Lương Hữu Ca, người có lòng từ tâm, nên anh được ông nhận làm con nuôi (vì thế mà họ Lê đổi thành họ Lương).

    Mối lương duyên “ép buộc” đó gần 20 năm anh và cô Vịnh mới chính thức ly dị ở ngay quê nhà. Lại có người nói: Ở quê nhà anh là địa chủ, nên “lý lịch nặng”, anh phải bỏ nhà ra đi, thay tên đổi họ để đi bộ đội, làm y tá, làm thầy giáo.

    Do “nặng căn” như thế nên ở đâu anh cũng bị “mặc cảm”. Ngay khi về dạy học ở Vĩnh Tường, cũng có những kẻ “xơ cứng” cho là con địa chủ, không có bằng sư phạm chính quy mà Ty GD lại cho dạy cấp 2.

    Tuy anh không có bằng cấp chính quy, nhưng ở bộ đội, anh đã dạy học, rồi anh tự học ở sách, ở đời, ở bạn nên anh trở thành giáo viên dạy giỏi cấp huyện, cấp tỉnh và đặc biệt anh giảng văn, dạy lịch sử rất hay.

    Anh còn là “bác sĩ” của những người nghèo luôn được miễn phí cả Tây y và Đông y, rồi anh dạy phụ đạo cho HS giỏi, HS yếu không bao giờ thu tiền.

    Con người như anh thật tài hoa mà đầy trắc ẩn, anh có nhiều bài thơ tự sự chép trong nhật ký rất hay, nếu sau này những bài thơ đó được tập hợp trong “Tuyển tập Cầm Giang” thì bạn đọc sẽ chia sẻ thêm những buồn vui, cay đắng cuộc đời của anh.

    Người vợ cuối cùng của anh (vợ thứ ba) là bà Đỗ Thị Chắt đã hết lòng vì anh, vì các con anh, nên bây giờ con cái anh đã nên người và luôn nghĩ về sự thua thiệt của người cha kính yêu của mình.

    Các con anh hy vọng Hội Nhà văn VN quan tâm việc “khôi phục” hội viên cho ông vì ông đã dự Đại hội thành lập Hội Nhà văn VN, năm 1957, nay đã 50 năm qua đi và Hội hãy giúp đỡ “phần hồn” cho Cầm Giang có được “Tuyển tập Cầm Giang” (cả thơ và văn).

    Còn với quê hương xứ Thanh hay quê hương Vĩnh Phúc, những người yêu thơ, mến mộ Cầm Giang góp sức mình ghi nhớ một tài năng, một con người Thơ như Cầm Giang.


    Núi Mường Hung dòng sông Mã




    Anh là núi Mường Hung

    Em là dòng sông Mã

    Sông nhiều rêu, nhiều cá

    Núi nhiều thú, nhiều măng

    Chiều bóng anh che sông

    Sớm mắt em long lanh

    Sáo cành cây ạnh thổi vang lanh lảnh

    Gió lùa qua miệng anh lại mỉm cười

    Rộn ràng em thuyền độc mộc ngược xuôi

    Như trăm nỗi băn khoăn khi đến tuổi

    Nếu trời làm em sóng nổi

    Anh ngả mình ngăn lại lúc phong ba

    Em là búp bông trắng

    Anh là ngọn lúa vàng



    Thi nhau lớn đẹp nương

    Toả mùi thơm cùng nghe chim hót

    Em cứ về nhà trước

    Đợi anh ở bên sông

    Anh làm no lòng mương

    Em làm vui ấm bản

    Nếu con gấu giẫm gãy cành bông trắng

    Lá lúa anh sẽ cứa đứt chân

    Nếu lúa này chuột, khỉ dám đến ăn

    Sợi bông em sẽ bay mù mắt nó



    Anh là rừng thẳm

    Em là suối sâu

    Cây rừng anh làm cầu

    Bắc ngang lên dòng suối

    Hoa sim nở đỏ chói

    Soi bóng xuống lòng em

    Nếu hùm về, suối em thành thác

    Nếu sói về, rừng anh sẽ thành chông

    Quyết chẳng chịu đau lòng

    Đời chúng ta rừng núi

    Suối em phá tan bóng tối

    Rừng anh chặn lại bão dông

    Để anh lớn mãi thành núi Mường Hung

    Em ngoan chảy thành dòng sông Mã.

    Ta mơ thấy Mai về đây hong tóc
    Tóc Mai bay thoảng gió lộng bên trời....

  8. #8
    Ngày tham gia
    21-09-2009
    Bài viết
    96

    Mặc định

    EM TẮM
    Bạc Văn Ùi
    Sao anh lại rình
    Trộm xem em tắm?
    Da của em ngần trắng
    Da của ái của êm
    Tay của em lấm lem
    Tay của than của bụi
    Tay của rừng của núi
    Tay của đất của nương.
    Em tắm xong lại sạch
    Vẫn ngát thơm hoa rừng
    Da của em trắng ngần
    Là của anh tất cả,
    Không phải người xa lạ
    Việc gì mà trộm xem!
    Em tắm suối giữa mường
    Tắm trong mối yêu thương
    Có anh đang đứng giữ
    Chớ để Tây đến mường.

    Nhớ vợ
    Cầm Vĩnh Ui
    Tôi nhớ vợ tôi lắm
    Xin được về hai ngày
    Nhà tôi ở Mường Lay
    Có con sông Nậm Rốm
    Ngày kia tôi sẽ đến
    Lại cầm súng được ngay
    Tôi càng bắn đúng Tây
    Vì tay có hơi vợ
    Cho tôi đi, đừng sợ
    Tôi không chết được đâu
    Vì vợ tôi lúc nào
    cũng mong chồng mạnh khỏe
    Cho tôi đi, anh nhé
    về ôm vợ hai đêm
    Vợ tôi nó sẽ khen
    chồng em nên người giỏi
    Ngày kia tôi về tới
    Được đi đánh cái đồn
    Hay được đi chống càn
    Là thế nào cũng thắng
    Nếu có được trên tặng
    cho một cái bằng khen
    Tôi sẽ dọc đôi liền
    Gửi cho vợ một nửa

    Ta mơ thấy Mai về đây hong tóc
    Tóc Mai bay thoảng gió lộng bên trời....

  9. #9
    Ngày tham gia
    18-12-2016
    Vị trí hiện tại
    Venezuela
    Bài viết
    392

    Mặc định в каком значении используется слово чин в современном русском языке?

    Что, необходимо знать, подключая гирлянду на ёлке?

    скачать тбили и жека кто там хочешь я тебя защищу от солнца
    iphone скачать программы
    скачать бесплатно книги бесплатно без регистрации
    скачать машины для slrr ваз 2106
    скачать песню мой плот юрий лоза
    ася скачать 7
    сх скачать бесплатно
    скачать читы на кс соурс v88 аим
    скачать игры экшен 2010 года через торрент
    скачать nirvana nevermind
    скачать аже оф империя 1
    скачать скайп для x64
    скачать mathcad 15 rus
    скачать homefront 2 the revolution
    скачать астро файл менеджер на андроид на русском
    скачать сплинтер селл конвикшен торрент с русской озвучкой механики
    музыка даёшь молодёжь
    унылое г скачать
    stalker тч скачать
    скачать w.a.s.p 1984
    скачать картинки с добрым утром парню
    скачать музыку бесплатно песню днепрова радовать
    isendsms скачать бесплатно для windows 10
    скачать улитка боб в космосе
    скачать сверхъестественное 2 сезон через торрент
    скачать samp 0.3z r4 клиент
    скачать mcpixel pc
    скачать hd скины для майнкрафт 1.8.9
    эмма м скачать мрз
    ас сд слушать
    конфигурационный модуль qload-sm скачать
    скачать озвучку для wot 0.9.10
    скачать уйгурские песни саниям исмаил
    скачать тяжелый рок минусовка
    скачать тачки 1 через торрент
    скачать уматурман в городе лето
    fl studio 10 скачать торрент русская версия полная для windows 7
    скачать программу алиэкспресс на русском языке
    скачать фри паскаль для windows 8
    скачать тяжелый рок на русском языке
    сталкер чн скачать мод
    скачать xip
    скачать утилиту доктор веба
    скачать ьтф
    скачать словарь синонимов русского языка бесплатно
    скачать тут зайцев нет на андроид бесплатно 4.9
    скачать бесплатно md5 checker
    скачать тяжелую музыку через торрент бесплатно в хорошем качестве
    swtor скачать 2016
    скачать эпоха империй 3 на русском языке
    скачать кс 1.6 v43 hlds
    скачать sg deadzone на пк
    скачать веселую русскую народную песню
    скачать тундру для world of tanks 0 9 13
    гр алиса скачать бесплатно mp3 в хорошем качестве
    скачать шапку для ютуба онлайн
    скачать ис браузер
    скачать openvpn config file
    худы для самп 0.3e
    скачать эффекты для sony vegas pro 13 волны
    смотреть онлайн и скачать бесплатно в хорошем качестве фильмы
    песня увезу тебя я в тундру скачать бесплатно
    скачать циан на ноутбук
    блондинка в эфире скачать торрент в хорошем качестве hd 720 бесплатно
    скачать хеллбой герой из пекла 2004
    скачать светлана лобода твои глаза 2016
    скачать ударный отряд котят 4
    скачать call of duty 4 modern warfare remastered через торрент
    скачать эш против зловещих мертвецов 1 сезон через торрент
    скачать wurst 1.8.9
    скачать шёпот в темноте на зайцев нет
    скачать эх лук лучок олег опарин
    скачать флеш рояль с трешбокса
    ария слушать все песни подряд онлайн
    скачать сразу все песни homie
    скачать цифровые часы на рабочий стол бесплатно
    скачать установщик windows 10 бесплатно
    awolnation – mf скачать
    терминал скачать на компьютер
    слушать и скачать бесплатно музыку новинки 2015 русские в машину

  10. #10
    Ngày tham gia
    16-06-2010
    Vị trí hiện tại
    Cồn Trạng Lột
    Bài viết
    438

    Mặc định ĐÒ LÈN (Nguyễn Duy)

    Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá
    níu váy bà đi chợ Bình Lâm
    bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật
    và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần.

    Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị
    chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng
    mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm
    điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng.

    Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế
    bà mò cua, xúc tép ở đồng Quan
    bà đi gánh chè xanh Ba Trại
    Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn.

    Tôi trong suốt giữa hai bờ hư - thực
    giữa bà tôi và tiên phật thánh thần
    cái năm đói, củ dong riềng luộc sượng
    cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm.

    Bom Mỹ giội, nhà bà tôi bay mất
    đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền
    Thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết
    bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn!

    Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại
    dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi
    khi tôi biết thương bà thì đã muộn
    bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi!
    Đồng Trụ Chí Kim Đài Dĩ Lục
    Đằng Giang Tự Cổ Huyết Do Hồng

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •