PDA

View Full Version : Các xét nghiệm chuẩn đoán sớm-vì sức khỏe cộng đồng


Trang : [1] 2

3011
15-07-2009, 03:15 PM
CÁC XÉT NGHIỆM CHỨC NĂNG GAN.
Xét nghiệm (XN) chức năng gan giúp ích cho việc: Phát hiện bệnh, chẩn đoán, đánh giá độ nặng của bệnh, theo dõi điều trị và đánh giá tiên lượng của bệnh. Tuy nhiên đối với các XN chức năng gan chúng ta phải lưu ý mấy đặc điểm sau: Không có 1 xét nghiệm nào để đánh giá chức năng gan; XN chức năng gan bình thường hay bất thường cũng không loại trừ được 1 tình trạng nặng nề của bệnh gan; XN chức năng gan bất thường là 1 chỉ điểm đầu tiên của bệnh và gợi ý cho chúng ta các bước tiến hành tiếp theo.
1. Bilirubin: Chẩn đoán vàng da và độ nặng của tình trạng viêm gan.
Tăng bilirubin trực tiếp: Sỏi mật, tắc mật ngoài gan…
Tăng bilirubin gián tiếp (Unconjugated): Tán huyết, phản ứng truyền máu, viêm gan, xơ gan…
2. Alkaline Phosphatase: Giúp chẩn đoán các rối loạn chuyển hóa và các rối loạn ở trẻ sơ sinh.
Men này có nhiều trong các mô, gan, biểu mô ống mật, xương.
Tăng trong: Sinh lý thai kỳ, phát triển xương ở trẻ em; Tắc mật trong hay ngoài gan, xơ gan, ung thư gan; Bướu xương; cường cận giáp; bệnh Paget; Viêm khớp dạng thấp; Nhồi máu cơ tim; Sarcoidosis…
Giảm trong các trường hợp như: Hypophosphatemia, rối loạn dinh dưỡng, thiếu máu, thiếu Vitamine C.
3. SGOT (Serum Glutamic-Oxaloacetic Transaminase).
AST: Aspartate AminoTransferase.
Men này chủ yếu ở các mô có chuyển hóa cao như tim, gan, cơ xương.
Tăng trong các trường hợp tổn thương tế bào gan do viêm, xơ, ung thư; Tổn thương tim do nhồi máu, chấn thương cơ; phỏng; thiếu máu tán huyết cấp; viêm tụy cấp…
Giảm trong một số trường hợp như tiểu đường, thai kỳ, Beriberi…
4. SGPT ( Serum Glutamic- piruvic Transaminase).
ALT: AlanineAminoTransferase.
Chủ yếu dùng để phát hiện các tổn thương ở tế bào gan: Nhạy & đặc hiệu. ngoài ra còn có trong các tế bào thận, tim, cơ, xương.
Tăng: Có tổn thương tế bào gan do nhiều nguyên nhân; tắc mật, viêm cơ, viêm tụy, nhồi máu cơ tim, sốc…
5. Albumin: Chủ yếu được tổng hợp ở gan. Chiếm 65% protein trong máu.
Giảm trong những trường hợp bệnh gan mãn tính & nặng.
Giảm trong những trường hợp mất Protein như phỏng, kém hấp thu, suy dinh dưỡng, thừa nước.
6. Prothombin time (PT): Đo PT có thể giúp phân biệt giữa 1 trường hợp ứ mật và 1 bệnh tế bào gan nặng. Nếu sau khi sử dụng Vitamin K mà PT không được cải thiện thì có thể nghĩ tới tình huống tổn thương tế bào gan nặng.
7. GGT (Gamma- Glutamyl Transferase), công thức máu, cholesterol, glucose…: Các xét nghiệm này tùy vào từng trường hợp cụ thể sẽ có các thay đổi nhưng không đặc hiệu cho chức năng gan.

3011
18-07-2009, 11:41 AM
Trước đây, phải chờ trẻ đủ 18 tháng tuổi mới xác định được trẻ có HIV hay không. Nay, với kỹ thuật chẩn đoán sớm PCR, trẻ mới sinh từ 4 đến 6 tuần tuổi đã có thể lấy máu làm xét nghiệm và có kết quả sau 2-3 tháng. Việc này sẽ giúp trẻ sớm được điều trị thuốc, giảm tỷ lệ tử vong. Tuy nhiên, khó khăn hiện tại là máy xét nghiệm PCR mới chỉ có ở các bệnh viện tuyến tỉnh và trung ương. Bộ Y tế chủ trương, sẽ xây dựng hai trung tâm làm xét nghiệm chẩn đoán sớm HIV ở miền Bắc và miền Nam. Ước tính, nếu công tác dự phòng lây truyền được làm tốt, có thể số trẻ lây nhiễm HIV từ mẹ sẽ giảm từ 30% xuống 10% mỗi năm.

3011
18-07-2009, 11:44 AM
Các nhà khoa học Đức cho biết đã tìm ra một phương pháp giúp chẩn đoán bệnh ung thư phổi từ giai đoạn rất sớm, dựa vào nồng độ chất pleiotrophin trong máu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở bệnh nhân ung thư phổi, hàm lượng chất này tăng 11 lần so với những người khỏe mạnh.
Nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Phillipps ở Marburg (Đức) đã tiến hành nghiên cứu trên 85 bệnh nhân bị hai dạng ung thư phổi và 41 người tình nguyện khỏe mạnh (nhóm đối chứng).
Kết quả cho thấy:
- Chỉ 1 người trong nhóm đối chứng có nồng độ pleiotrophin tăng cao, trong khi tỷ lệ này là 87% ở các bệnh nhân ung thư phổi tế bào nhỏ và 63% ở những bệnh nhân còn lại.
- Mức tăng pleiotrophin tương ứng với độ nặng của bệnh: Ở bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối, nồng độ chất này tăng 62% so với người bệnh giai đoạn đầu.
- Pleiotrophin giúp đánh giá đáp ứng điều trị của người bệnh: Nồng độ pleiotrophin giảm đáng kể ở những ca bệnh đang thoái lui và vẫn tăng cao ở những người không đáp ứng với điều trị.
Theo bác sĩ Zugmaier, trưởng nhóm nghiên cứu, bệnh ung thư phổi thường được chẩn đoán quá muộn, với nguy cơ tử vong rất cao. Vì vậy, thử nghiệm máu giúp phát hiện sớm bệnh, khi còn khả năng điều trị, sẽ là một bước tiến đánh kể.
Pleiotrophin và ung thư phổi
Pleiotrophin được coi là một yếu tố quan trọng trong sự lan truyền ung thư, vì nó kích thích tế bào phân chia, làm tăng nguồn cung cấp máu cho khối u.
Tại các nước phát triển, ung thư phổi là một trong những nguyên nhân tử vong hàng đầu. 9 trên 10 bệnh nhân được chẩn đoán ung thư phổi sẽ bị chết. Bệnh thường chỉ được phát hiện khi đã di căn sang cơ quan khác và không còn đáp ứng tốt với hóa trị liệu. Hútthuốc lá là nguyên nhân hàng đầu gây ung thư phổi. Ho, khạc ra máu, khó thở hoặc thở khò khè có thể là những biểu hiện của bệnh.
Ung thư phổi tế bào nhỏ là một bệnh lý tiến triển rất nhanh, chiếm 20-25 % các bệnh ung thư phổi.

3011
13-08-2009, 04:40 PM
Các nhà khoa học Đức cho biết đã tìm ra một phương pháp giúp chẩn đoánbệnh ung thư phổi từ giai đoạn rất sớm, dựa vào nồng độ chất pleiotrophin trong máu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở bệnh nhân ung thư phổi, hàm lượng chất này tăng 11 lần so với những người khỏe mạnh.
Nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Phillipps ở Marburg (Đức) đã tiến hành nghiên cứu trên 85 bệnh nhân bị hai dạng ung thư phổi và 41 người tình nguyện khỏe mạnh (nhóm đối chứng).
Kết quả cho thấy:
- Chỉ 1 người trong nhóm đối chứng có nồng độ pleiotrophin tăng cao, trong khi tỷ lệ này là 87% ở các bệnh nhân ung thư phổi tế bào nhỏ và 63% ở những bệnh nhân còn lại.
- Mức tăng pleiotrophin tương ứng với độ nặng của bệnh: Ở bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối, nồng độ chất này tăng 62% so với người bệnh giai đoạn đầu.
- Pleiotrophin giúp đánh giá đáp ứng điều trị của người bệnh: Nồng độ pleiotrophin giảm đáng kể ở những ca bệnh đang thoái lui và vẫn tăng cao ở những người không đáp ứng với điều trị.
Theo bác sĩ Zugmaier, trưởng nhóm nghiên cứu, bệnh ung thư phổi thường được chẩn đoán quá muộn, với nguy cơ tử vong rất cao. Vì vậy, thử nghiệm máu giúp phát hiện sớm bệnh, khi còn khả năng điều trị, sẽ là một bước tiến đánh kể.
Pleiotrophin và ung thư phổi : Pleiotrophin được coi là một yếu tố quan trọng trong sự lan truyền ung thư, vì nó kích thích tế bào phân chia và làm tăng nguồn cung cấp máu cho khối u.
Tại các nước phát triển, ung thư phổi là một trong những nguyên nhân tử vong hàng đầu. 9 trên 10 bệnh nhân được chẩn đoán ung thư phổi sẽ bị chết. Bệnh thường chỉ được phát hiện khi đã di căn sang cơ quan khác và không còn đáp ứng tốt với hóa trị liệu. Hút thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu gây ung thư phổi. Ho, khạc ra máu, khó thở hoặc thở khò khè có thể là những biểu hiện của bệnh.
Ung thư phổi tế bào nhỏ là một bệnh lý tiến triển rất nhanh, chiếm 20-25 % các bệnh ung thư phổi.

3011
17-08-2009, 05:36 PM
Triệu chứng?: Căn bệnh này cũng có những triệu chứng như cúm thông thường là sốt, đau cổ họng, hắt hơi, sổ mũi, đau nhức cơ... Ngoài ra, phần lớn người bệnh còn có những biểu hiện khác như đau bụng, buồn nôn hoặc tiêu chảy. Khi bệnh trở nặng, bệnh nhân sẽ: thở nhanh (người lớn trên 30 lần/phút), có cảm giác hụt hơi, chóng mặt đột ngột, tím môi hay đầu chi, lơ mơ...
Phương pháp điều trị : Hiện, có hai loại thuốc đề điều rị vi rút cúm A nói chung là Oseltamivir (Tamiflu) và Zanamivir (Relenza), trong đó, Tamiflu là thuốc ống còn Relenza là thuốc hít. Để có hiệu quả cần điều trị sớm trong vòng 24 giờ đầu sau khi xuất hiện triệu chứng.
Cách phòng tránh: Cho đến thời điểm hiện tại, các nhà khoa học vẫn chưa tìm được một loại vắc xin để có thể phòng ngừa bệnh. Tuy nhiên, chúng ta có thể thực hiện một số biện pháp hạn chế lây lan như sau:
- Tránh không tiếp xúc với người bệnh.
- Khi bị sốt, nên tránh tiếp xúc với càng nhiều người càng tốt.
- Khi ho, nên che miệng bằng khăn giấy, sau đó bỏ vào sọt rác và rửa tay. Có thể ho vào tay áo nếu không có giấy.
- Rửa tay với xà phòng thường xuyên, nhất là sau khi ho.

huyson16
18-08-2009, 02:06 AM
MK... tự dưng thằng em VP lăn đùng ra cúm. Sợ chết khiếp.

3011
18-08-2009, 07:28 AM
MK... tự dưng thằng em VP lăn đùng ra cúm. Sợ chết khiếp.

Thế ạ, thế thì phải cách ly thôi. Ông ấy phải cách lý đấy.

akiller_nh
18-08-2009, 09:49 AM
em cũng bị ho sổ mũi, ngoài 2 triệu chứng ấy ra thì không có cái j nữa ạ :(
em nghi là do nằm điều hòa mà không đắp chắn nên viêm học, mà viêm họng thì có sổ mũi đc không ạ :(

3011
06-09-2009, 10:55 PM
Nhiễm trùng và ung thư Ngày nay người ta biết rõ ung thư không phải do một nguyên nhân gây ra. Mỗi loại ung thư có những nguyên nhân riêng biệt. Một tác nhân sinh ung thư có thể gây ra một số ung thư và ngược lại một loại ung thư có thể do một số tác nhân. Bệnh nhiễm trùng mạn tính, một số loại vi khuẩn, vi rút hoặc ký sinh trùng cũng là một trong những tác nhân sinh ra nhiều loại ung thư.
Nguyên nhân do vi rút
1. Vi rút viêm gan B và ung thư gan nguyên phát
Hiện nay trên toàn thế giới có khoảng hơn 2 tỷ người bị nhiễm vi rút viêm gan B. Trong đó có khoảng 280 triệu người bị viêm gan mãn tính. Ở Việt Nam, những nghiên cứu bước đầu cho thấy tỷ lệ mang vi rút viêm gan B là 12,5% dân số.
Giai đoạn đầu vi rút này xâm nhập vào cơ thể gây ra viêm gan cấp, nhiều khi bệnh chỉ biểu hiện thoáng qua. Khoảng 5-10% bệnh cấp tính trở thành mạn tính. Tổn thương này qua một thời gian dài tiến triển, không có triệu chứng sẽ dẫn đến hai biến chứng quan trọng là xơ gan toàn bộ và ung thư gan.
So với các loại ung thư thì ở nước ta ung thư gan chiếm vị trí thứ ba ở nam giới và vị trí thứ 4 ở nữ giới. Người ta ước tính năm 2000 có khoảng 7.648 trường hợp mới mắc ung thư gan.
Ung thư gan điều trị rất khó khăn và ít hiệu quả. Việc phát hiện ra vi rút viêm gan B gây ung thư gan đã mở ra một phương pháp phòng bệnh rất hiệu quả bằng cách tiêm vắc-xin phòng viêm gan B cho những người có kháng thể HBsAg (-), đặc biệt là ở trẻ sơ sinh. Đó là một biện pháp đơn giản, rẻ tiền nhưng mang lại lợi ích rất lớn cho việc bảo vệ sức khỏe. Ngoài ra, vì bệnh viêm gan vi rút B lây truyền qua đường máu nên chúng ta không nên dùng chung bơm, kim tiêm, chú ý dùng các phương tiện bảo hộ cơ thể khi tiếp xúc với máu... Vi rút cũng lây qua đường tình dục vì thế các hành vi tình dục an toàn không chỉ tránh được lây nhiễm HIV mà còn tránh được lây truyền vi rút viêm gan B, phòng được bệnh viêm gan B tức là phòng được bệnh xơ gan và ung thư gan
2. Vi rút Estein - Barr (EBV) và ung thư vòm mũi họng:
Trong số các yếu tố liên quan đến ung thư vòm thì EBV được xem là quan trọng nhất. Người ta đã phân lập được loại vi rút này trong các khối ung thư vòm mũi họng. Ngoài ra EBV còn là một trong những nguyên nhân chính gây ra ung thư hệ thống hạch bạch huyết.
Ung thư vòm mũi họng là bệnh đứng hàng đầu trong các ung thư ở khu vực đầu mặt cổ. Nước ta là một trong các nước có tỷ lệ mắc cao so với Thế giới. Hàng năm, trung bình có từ 250 - 300 bệnh nhân mới mắc ung thư vòm mũi họng điều trị tại khoa tia xạ Bệnh viện K.
Biểu hiện sớm của ung thư vòm mũi họng là đau đầu, ù tai, ngạt mũi một bên. Các dấu hiệu này rất dễ nhầm với một số bệnh nội khoa, thần kinh v.v... Nhưng điều đặc biệt là các triệu chứng này ở cùng một bên và tăng dần, không đáp ứng với các biện pháp chống viêm, giảm đau thông thường. Ở giai đoạn đầu của bệnh việc điều trị rất có hiệu quả và rẻ tiền. Do đó, nếu thấy các dấu hiệu trên, bạn nên đến các cơ sở chuyên khoa ung bướu để khám và điều trị kịp thời.
3. Vi rút gây u nhú có liên quan mật thiết với các ung thư vùng âm hộ, âm đạo, cổ tử cung ở nữ giới và ung thư dương vật ở nam giới.
Đặc biệt là vi rút gây u nhú loại ở người ( HPV) típ 16 và 18, lây truyền qua quan hệ tình dục. Ung thư cổ tử cung là một trong những ung thư hay gặp nhất ở phụ nữ. Qua số liệu của Ghi nhận Ung thư TP Hồ Chí Minh giai đoạn 1995-1996 cứ 100.000 phụ nữ thì có 26 người mới mắc ung thư cổ tử cung. Ở Hà Nội, tỷ lệ này thấp hơn nhiều, nguyên nhân có thể do tỷ lệ nhiễm vi rút HPV thấp hơn. Ung thư cổ tử cung gặp nhiều ở những phụ nữ quan hệ tình dục sớm, với nhiều đàn ông hoặc có quan hệ với những người đàn ông có quan hệ tình dục với nhiều phụ nữ hoặc với gái mại ***, sinh đẻ nhiều, thiếu săn sóc vệ sinh sinh dục... Đó cũng là những yếu tố thuận lợi cho sự lây nhiễm các loại vi rút u nhú và nhiều bệnh nhiễm trùng sinh dục khác. Ung thư cổ tử cung là bệnh phát triển chậm và khu trú tại chỗ, nên nếu được phát hiện sớm có thể điều trị khỏi hẳn. Để phòng tránh ung thư cổ tử cung chúng ta nên theo chế độ một vợ, một chồng, nhớ săn sóc vệ sinh sau khi giao hợp, đi khám phụ khoa 6 tháng một lần.
4. HIV tuy không phải là tác nhân trực tiếp gây ung thư nhưng ở các bệnh nhân bị nhiễm HIV, hệ miễn dịch suy giảm nên rất dễ mắc các bệnh nhiễm trùng khác.
Người ta thấy rằng tỷ lệ saccôm Kaposi, ung thư cổ tử cung, ung thư hạch ở các bệnh nhân bị AIDS cao hơn hẳn người bình thường.

3011
08-09-2009, 01:54 PM
Ho là một trong các dấu hiệu của ung thư phổi.
Đa số bệnh nhân ung thư phổi lúc đầu đều ho khan hoặc ho có đờm, thường vào buổi sáng. Ho kéo dài, các thuốc chống viêm, trị ho không có tác dụng. Một nửa số người bệnh ho ra ít máu lẫn đờm.
Bệnh nhân ung thư cũng thường bị đau ngực. Thường không có điểm đau rơ rệt, đau bên có tổn thương giống viêm dây thần kinh liên sườn. Có khi đau quanh bả vai, mặt trong cánh tay.
Hiện tượng khó thở chỉ gặp khi khối u chèn ép hoặc làm tắc khí phế quản, gây xẹp phổi, hoặc ung thư đă di căn màng phổi gây tràn dịch màng phổi. Ngoài ra, bệnh nhân c̣n bị khó nói hoặc nói giọng khàn do khối u chèn ép vào dây thần kinh, khó nuốt do thực quản bị chèn ép, gầy sút, sốt nhẹ...
Việc chụp phổi bằng kỹ thuật X-quang thông thường, chụp cắt lớp vi tính hoặc chụp cộng hưởng từ có thể cho thấy khối u ở vị trí nào của phổi, kích thước bao nhiêu. Để chẩn đoán đúng và phân loại ung thư, góp phần quyết định phương pháp điều trị, cần xét nghiệm mô bệnh học và tế bào học.
Để phát hiện sớm ung thư phổi, nam giới từ 40 tuổi trở lên nếu nghiện thuốc lá kèm ho khan hoặc có đờm kéo dài nên đến bệnh viện 4 tháng một lần để chiếu chụp phổi, lấy đờm, dịch phế quản làm xét nghiệm tế bào học (5-8% số người đi khám được phát hiện ung thư phổi sớm). Ở cả hai giới từ 40 tuổi trở lên, nếu có các dấu hiệu sút cân, ho kéo dài hoặc ho ra máu, đau ngực, khó thở, khó nói hoặc khó nuốt th́ cần đi khám và làm các xét nghiệm.

3011
15-09-2009, 02:45 PM
Đánh giá đúng để có chiến lược điều trị đúng
UTCTC là bệnh ung thư hay gặp ở phụ nữ, chỉ đứng sau ung thư vú và ung thư buồng trứng, đặc biệt hay gặp ở các nước kém phát triển. Về chẩn đoán, ngoài dựa vào triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân (thường là rong kinh hay ra huyết bất thường) và thăm khám âm đạo, hiện nay phương pháp để sàng lọc sớm UTCTC là phương pháp soi tế bào phiến đồ âm đạo (Pap), để chẩn đoán xác định, người ta dùng soi cổ tử cung và sinh thiết. Tuy nhiên, để quyết định chiến lược điều trị UTCTC cần phải đánh giá được giai đoạn của bệnh theo bảng phân giai đoạn của Hiệp hội sản phụ khoa quốc tế (FIGO- International Federation of Gynecology and Obstetrics) mà trên thế giới hiện đang dùng. Đây chính là nhiệm vụ của chẩn đoán hình ảnh mà trong đó đặc biệt là chụp CHT. Chụp CHT có từ trường cao 1.5 Tesla sẽ đánh giá được các yếu tố: kích thước khối u, mức độ xâm lấn của u vào lớp cơ cổ tử cung, đáy dây chằng rộng, thành bên tiểu khung, các tạng lân cận (bàng quang, trực tràng), xâm lấn vào ống âm đạo. Trên cơ sở đó sẽ giúp bác sĩ điều trị có được chỉ định điều trị phù hợp nhất.
Chiến lược điều trị UTCTC hoàn toàn phụ thuộc vào giai đoạn của bệnh. Trước đây và trong phần lớn các bệnh viện tại Việt Nam hiện nay, các bác sĩ lâm sàng vẫn dựa vào thăm khám âm đạo và sinh thiết để đánh giai đoạn của bệnh. Tuy nhiên sinh thiết chỉ đánh giá được các giai đoạn ung thư tại chỗ và ung thư giai đoạn tiền lâm sàng, còn thăm khám âm đạo đánh giá các giai đoạn tiến triển hơn của bệnh có độ chính xác rất thấp (độ chính xác 68- 83%) ở ung thư giai đoạn lâm sàng, khi kích thước khối u ở mức độ 4cm. Trong giai đoạn ung thư phát triển ra ngoài cổ tử cung, chỉ ở 2/3 trên âm đạo và chưa tới thành bên tiểu khung thì chỉ đánh giá được 46-61%.
Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác như siêu âm hay chụp cắt lớp vi tính cũng có rất ít giá trị trong đánh giá mức độ xâm lấn tại chỗ của UTCTC. Trong khi đó, CHT từ trường cao 1.5 Tesla có độ phân giải cao, có chuỗi xung T1 xóa mỡ, có khả năng đánh giá được các yếu tố: kích thước khối u, mức độ xâm lấn của u vào lớp cơ, vào đáy dây chằng rộng, thành bên tiểu khung, các tạng lân cận (bàng quang, trực tràng), vào ống âm đạo sẽ là phương pháp chẩn đoán hình ảnh tối ưu để giúp phân giai đoạn UTCTC.
Phân loại giai đoạn UTCTC trên CHT :
Hình ảnh của UTCTC trên CHT là tổn thương dạng khối hay đám thâm nhiễm, tăng nhẹ tín hiệu trên T2, tín hiệu trung gian trên T1, bắt thuốc sau tiêm gadolium nhưng kém hơn cơ thành ống cổ tử cung, vị trí xuất phát từ phần nội mạc của ống cổ tử cung hoặc phần lỗ ngoài cổ tử cung. Tổn thương có thể nằm khu trú trong cổ tử cung hay xâm lấn ra ngoài vào các cấu trúc lân cận, xâm lấn xuống dưới vào ống âm đạo hay lên trên vào trong buồng tử cung. Có thể thấy dấu hiệu gián tiếp là hình ảnh ứ dịch- máu trong buồng tử cung.
Kích thước của tổn thương để áp dụng trong phân giai đoạn của FIGO là kích thước đo được trên chiều lớn nhất của khối u, trên chuỗi xung T2. Cần lưu ý là trong đánh giá UTCTC, chuỗi xung T2 là chuỗi xung quan trọng nhất. Theo một số tác giả nước ngoài, không cần chụp chuỗi xung T2 FatSat để đánh giá u mà chỉ sử dụng khi muốn đánh giá di căn hạch.
các giai đoạn UTCTC trên CHT 1.5 Tesla:
- Tổn thương ung thư giai đoạn tiền lâm sàng, khi khối u xâm lấn ở mức độ vi thể thường kín đáo vào hay có âm tính giả trên CHT, nếu có chỉ thấy u rất nhỏ tăng tín hiệu trên T2, trong ống cổ tử cung, lớp cơ thành cổ tử cung giảm tín hiệu còn nguyên vẹn, cân đối. Trong trường hợp trên, soi cổ tử cung và sinh thiết có u, không rõ trên CHT trên T2 thì nên tiêm đối quang từ. Cũng chính vì vậy theo các tác giả nước ngoài, những trường hợp khối u trên lâm sàng dưới 2cm có thể cân nhắc chỉ định chụp CHT.
- Tổn thương giai đoạn lâm sàng phá vỡ lớp cơ giảm tín hiệu thành cổ tử cung, nhưng vẫn còn một viền giảm tín hiệu bao quanh u.
- Tổn thương giai đoạn ung thư phát triển ra ngoài cổ tử cung, chỉ ở 2/3 trên âm đạo và chưa tới thành bên tiểu khung.
- Tổn thương giai đoạn ung thư phá vỡ hình giảm tín hiệu của thành ống âm đạo tới đoạn 1/3 dưới âm đạo hoặc u lan tới thành tiểu khung, xâm lấn cơ bịt trong, cơ lê, cơ nâng hậu môn hoặc u gây giãn niệu quản.
- Tổn thương giai đoạn cấu trúc tín hiệu tổ chức u lan vào gây mất hình ảnh giảm tín hiệu thành bàng quang hay thành trực tràng hoặc di căn xa vào các tạng hay cấu trúc giải phẫu khác.
Các dấu hiệu di căn hạch, di căn xa có thể phát hiện trên chuỗi xung T2 FatSat trên các lát cắt qua ổ bụng ở mức cao hơn.

3011
15-09-2009, 02:51 PM
Người bệnh có thể tự phát hiện qua hoạt động vệ sinh buổi sáng: người bệnh khó chải răng, khó súc miệng, khó ăn sáng nhất là khi soi gương thấy mất cân xứng nửa mặt, nhân trung lệch về một bên, môi miệng xếch về một bên.
Người bệnh không nhắm kín được mắt ở bên liệt, không huýt sáo, không thổi được (thổi lửa)..., không chúm môi được. Có thể có rối loạn vị giác (cảm giác nếm) ở 2/3 trước của lưỡi và rối loạn thính giác (nghe kém). Thường do tổn thương nứt xương đá gặp sau sang chấn sọ (ngã đập đầu xuống đất gây rạn nứt xương đá).
Có thể có một số chứng khác như: ù tai, nghe kém và mỏi chân tay bên đối diện (đối diện với nửa mặt bị liệt).
Người bệnh có thể có biểu hiện nhắm mắt không kín ở hai bên, nét mặt mất sự linh hoạt..., miệng há với môi vểu ra và nước bọt chảy ra. Đó là liệt mặt ở cả hai bên ở người lớn thường gặp trong viêm đa rễ thần kinh, ở trẻ em thường là thể thân não của người bệnh bại liệt.
Nguyên nhân :
- Do u não
- U ở cầu não, u góc cầu tiểu não.
- U nền sọ: chú ý tới u màng não ở nền sọ.
- Biến chứng thần kinh của u vòm họng.
- Do sang chấn: sang chấn, ngã, đụng dập gãy rạn nứt xương đá.
- Do viêm nhiễm:
Viêm màng não, nhất là viêm màng não do lao.
Viêm nhiễm rễ dây thần kinh: liệt dây VII hai bên - thể thân não của bệnh bại liệt, liệt hai bên nửa mặt và thường gặp ở trẻ em.
Biến chứng của viêm tai cấp tính, mạn tính, viêm tuyến mang tai, viêm xương đá. Liệt dây VII ngoại biên "do lạnh". Thường gặp với bệnh cảnh đột ngột, sau khi tiếp xúc với trời lạnh, ngáp và bị liệt có thể đó là do nhiễm khuẩn tiềm tàng, biểu hiện ra do lạnh...
Có một thể uốn ván dễ nhầm là liệt dây VII với co cứng hàm, khó nhai, co thắt cơ vòng mi.
Zona hạch gối: Zona là bệnh cấp tính do virus hướng thần kinh phạm vào hạch gối gây liệt mặt đột ngột. Đặc điểm là phát ban: ban đỏ, mụn nước ở quanh vành tai, vùng viền ống tai ngoài; có thể phạm cả vùng dây VII nên có thể có ban đỏ, mụn nước mọc ở 2/3 trước lưỡi. Cần chú ý đừng để vỡ mụn nước, vì sẽ làm dải ban đỏ, mụn nước lan rộng gây chèn ép nhiều nơi.
Điều trị : Người bệnh cần được bác sĩ chuyên khoa thần kinh khám và điều trị, căn bản là điều trị theo nguyên nhân. Đối với liệt nửa mặt chưa rõ nguyên nhân hoặc "do lạnh" cần tiến hành những biện pháp sau:

Điều trị nội khoa : Giữ mặt cho ấm (quấn khăn len nếu trời lạnh).
Vitamin B1 liều cao: 0,025g-10 ống/ ngày, cho dài ngày.
Kháng sinh ampicilin 1-2 g/ngày. Kháng viêm prednisolone, hydrocortancyl.
Thường xuyên nhỏ mắt bằng dung dịch chloramphenicol trong trường hợp nặng. Không được dùng strychnine vì dễ chuyển sang co cứng.
Vật lý trị liệu :Cho người bệnh chạy điện nóng và làm sóng ngắn ngay ngày đầu.Có thể cho chạy điện dẫn Iod hoặc Ca. Có thể dùng dòng điện galvanie.
Thường xuyên tập các động tác ở mặt, ở trán, ở môi miệng.
Châm cứu bên liệt các huyệt giáp xa, địa thương, thảo đường, có thể châm thêm các huyệt ấn đường, nghinh hương, hợp cốc. Cũng có thể châm thêm các huyệt trên ở bên lành.

huyson16
15-09-2009, 04:05 PM
Bác cho em hỏi
Ở Thanh Hóa đã có máy xạ trị ung thư chưa hả bác???
Nhu cầu có lớn không?.

Cám ơn bác nhiều.

3011
16-09-2009, 06:17 PM
Chưa có bạn ạ.

3011
16-09-2009, 06:47 PM
Trước đây, việc xạ trị ung thư ở Việt Nam chỉ được thực hiện bằng máy xạ trị Cobalt, một loại máy xạ trị sử dụng đồng vị phóng xạ Cobalt-60 . Sử dụng các tia gamma, có hai mức năng lượng 1,17 và 1,33MeV. Như vậy, trong xạ trị ung thư, loại máy này không cho phép thực hiện kỹ thuật điều biến cường độ (IMRT) không điều trị linh động, hiệu quả với các khối u ở những độ nông sâu khác nhau.
Ngày nay, với sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật, đặc biệt là công nghệ vi sóng, các loại máy gia tốc ra đời với những nguồn phát sóng siêu cao tần. Trong xạ trị, sự ra dời của máy gia tốc là một bước ngoặt mới trong điều trị ung thư. Với máy gia tốc, người sử dụng có thể thay đổi liều xạ trị cho phù hợp với tính chất và độ nông sâu của từng khối u khác nhau.
1. Tổng quan : Máy gia tốc là thiết bị công nghệ cao, cho phép gia tốc các loại hạt mang điện tới những năng lượng khác nhau: từ thấp đến cao và siêu cao. Ngoài ra, với chùm hạt thứ cấp đa dạng thu được sau quá trình gia tốc các hạt mang điện Neutron, Meson, các ion nặng… đã mở rộng phạm vi ứng dụng của máy gia tốc. Vì vậy có thể coi máy gia tốc là một nguồn phóng xạ nhân tạo đặc biệt phát ra đủ các loại hạt có cường độ và năng lượng mong muốn.
2. Máy gia tốc xạ trị :
Với ứng dụng trong xạ trị ung thư, máy gia tốc tuyến tính (linac) của hãng Siemens có thể tạo ra các chùm bức xạ photon và electron với năng lượng thích hợp cho việc điều trị các trường hợp ung thư khác nhau. Máy có thể phát ra hai loại bức xạ. Đó là bức xạ Photon và bức xạ electron.Với mỗi loại bức xạ, máy phát có nhiều mức năng lượng khác nhau do đó có thể sử dụng rất linh hoạt và hiệu quả cho mọi loại bệnh ung thư khác nhau.
Các mức năng lượng cÇn thiÕt của máy gia tốc tuyến tính (với người Việt Nam):
Máy gia tốc tuyến tính có thể phát ra 2 mức năng lượng photon và 6 mức năng lượng electron.
a. Hai mức năng lượng photon 6 MV và 15 MV
1.1 6MV: điều trị não, đầu, cổ, ngực, phổi, bệnh bạch huyết, thấp chóp xương chậu và các bệnh trẻ em.
1.2 15MV: điều trị não, phổi, bệnh bạch huyết, tuyến tụy, thấp chóp xương chậu và thấp khung chậu.
b. Sáu mức năng lượng điện tử Eletron 5MeV, 6 MeV, 8 MeV, 10 MeV, 12 MeV, 14 MeV điều trị hiệu quả khối u ở sát bề mặt như ung thư da và ung thư vú.
3. Những tính năng ưu việt mới :
Máy gia tốc có những tính năng ưu việt sau:
- Đầu máy có thể chuyền động quanh giường bệnh nhân, giúp dễ dàng tạo ra các góc chiếu khác nhau.
- Đầu máy có gắn ống chuẩn trực (collimator) giúp định hướng tốt chùm bức xạ.
- Collimator cũng có thể xoay quanh trục, giúp trường chiếu bao sát khối u hơn, nhờ việc chọn hướng tối ưu.
- Có hai cặp ngàm chuyển động độc lập, hoặc đối xứng giúp dễ dàng trong việc tạo ra các trường chiếu có độ mở khác nhau tùy vào yêu cầu.
- Nhờ cặp ngàm này mà có thể tiến hành xạ trị theo một kĩ thuật mới-Kĩ thuật xạ trị tiên tiến JO-IMRT (xạ trị điều biến cường độ) mà không cần ống chuẩn trực đa lá MLC (Multi-lief collimator)

3011
16-09-2009, 06:49 PM
Đây là kỹ thuật xạ trị tiên tiến nhất hiện nay, nhằm tạo ra phân bố liều lượng tối ưu trên các khối u có hình dạng phức tạp, bằng việc điều biến cường độ chùm tia bức xạ - IMRT (Intensive Modulation Radio Therapy) với hai cặp ngàm (Jaw) có lắp sẵn trên đầu máy gia tốc.
Đối với mỗi góc chiếu thì sẽ có nhiều trường chiếu khác nhau được tạo nên bằng hai cặp ngàm, để có thể tạo ra được một kế hoạch điều trị tốt nhất.
1.Lợi ích của kỹ thuật JO - IMRT:

11 Điều trị bệnh nhân được kết quả tốt hơn.

1.2 Giúp bệnh nhân cảm thấy thoải mái nhờ thời gian điều trị được rút ngắn.

1.3 Tiết kiệm thời gian và tiền bạc vì không cần phải đúc khuôn chắn xạ.

1.4 Trong khi điều trị kỹ thuật viên không phải đi ra đi vào nhiều lần để thay đổi khuôn chắn và nêm.

1.5 Bệnh nhân không bị electron tán xạ gây ra bởi khuôn chắn và nêm.

1.6 Mô tơ của ngàm rất bền, không hay bị hư hỏng như mô tơ của ống chuẩn trực đa lá (MLC) - Tiết kiệm được tiền bảo dưỡng do máy hư háng.
2. So sánh giữa máy Cobalt và gia tốc : Đối với những khối u nằm rất nông, khi tia xạ của máy cobalt xuyên qua da vào đến nơi thì liều xạ vẫn còn quá lớn so với yêu cầu (100% ở độ sâu cách mặt da 0,5 cm). Trường hợp này sẽ được xử lý rất tốt với máy gia tốc, bởi các chùm điện tử có thể giảm rất nhanh, đáp ứng yêu cầu điều trị. Hơn nữa, tia xạ sẽ mất hẳn ở độ sâu 5 cm. Cả hai điều này khiến những vùng lành ít bị tổn thương hơn.
Đối với những khối u ở sâu, ví dụ như một khối u nằm giữa phổi, cách bề mặt da trung bình 8 cm, liều xạ của máy cobalt khi vào đến đây lại quá thấp, chỉ còn 40%, trong khi liều xạ của máy gia tốc có thể đạt 70%, giúp việc điều trị đạt hiệu quả.
Ngoài ra, máy gia tốc còn an toàn hơn vì nó ngừng phát tia khi tắt máy, còn ở máy cobalt thì chất phóng xạ vẫn phân rã và phát tia liên tục.

3011
26-09-2009, 10:32 PM
Việc chẩn đoán bệnh viêm khớp dạng thấp và hoại tử đầu xương vô khuẩn, trong một số trường hợp, nếu chỉ dựa trên hình ảnh X-quang, sẽ chậm được phát hiện. Phương pháp chụp cộng hưởng từ mà Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội, bắt đầu triển khai sẽ giúp khắc phục tình trạng này.
Theo một nghiên cứu của Bệnh viện Bạch Mai, viêm khớp dạng thấp đứng đầu bảng các bệnh về xương - khớp và hoại tử đầu xương vô khuẩn cũng đã lọt vào danh sách 15 bệnh hay gặp nhất.
Viêm khớp nhưng chẩn đoán lao xương
Trước đây, để chẩn đoán viêm khớp dạng thấp, bệnh nhân phải xét nghiệm máu, chẩn đoán lâm sàng và chụp X-quang. Nhưng trong nhiều trường hợp, chưa đến giai đoạn viêm khớp dạng thấp điển hình (hỏng nhiều khớp), hình ảnh không thể rõ ràng trên X-quang nên rất khó chẩn đoán. Đã có bệnh nhân do tổn thương xuất hiện dần, qua X-quang, ban đầu lại được chẩn đoán và điều trị về... lao xương! Nhiều trường hợp do không “đọc” được bệnh, bác sĩ chỉ điều trị được triệu chứng bên ngoài, như giúp giảm đau, bớt sưng tấy...

Với phương pháp chụp X-quang, tổn thương chỉ có thể nhìn thấy khi xương đã hỏng rõ ràng. Kỹ thuật cộng hưởng từ cho phép nhìn thấy hình ảnh màng hoạt dịch tăng sinh (phình to), kể cả những sụn khớp hỏng. Do đó, ngay khi bệnh nhân mới có triệu chứng biểu hiện của tổn thương một khớp, nhờ cộng hưởng từ cũng có thể xác định sớm được bệnh nhân có bị viêm khớp dạng thấp hay không để đưa ra phương án điều trị hợp lý.

Theo bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Lan, phó trưởng khoa cơ - xương khớp, Bệnh viện Bạch Mai, ưu điểm đặc biệt của phương pháp này là chụp cộng hưởng từ không hề dùng đến tia X, nên có thể chẩn đoán điều trị cho cả những đối tượng nhạy cảm như phụ nữ mang thai.
Phát hiện lúc chưa đau khớp
Trên thực tế, phương pháp cộng hưởng từ đã được áp dụng chẩn đoán thoát vị đĩa đệm, u ở đốt sống từ khá lâu. Tuy nhiên, gần đây bệnh viện mới bắt đầu triển khai áp dụng phương pháp cộng hưởng từ cho chẩn đoán sớm bệnh viêm khớp dạng thấp và hoại tử đầu xương vô khuẩn.
Hoại tử vô khuẩn xảy ra khi mạch máu nuôi chỏm xương đùi không đủ, làm cho chỏm xương bị cùn mòn dần rồi mất hẳn dẫn đến tàn phế. Theo bác sĩ Nguyễn Mai Hồng, khoa cơ xương khớp, đây là bệnh trước rất hiếm gặp nhưng một phần do điều kiện sống thay đổi, bệnh gặp nhiều ở nam giới, lứa tuổi trung niên, thường xuyên uống rượu (phần lớn bệnh nhân có tiền sử bị gout). Một số trường hợp viêm khớp dạng thấp, dùng thuốc giảm đau có chứa corticoid kéo dài cũng có thể gây hoại tử. Con đường duy nhất để can thiệp khi bệnh đã để lại di chứng tiêu hẳn chỏm xương đùi là thay khớp nhân tạo. Chi phí cho một lần thay khớp là không nhỏ, khoảng 1.000 USD.
Cộng hưởng từ sẽ phát hiện bệnh ngay từ giai đoạn không đau khớp, chưa thể nhìn thấy trên tia X. Hoại tử vô khuẩn thường làm chỏm xương đùi bị tăng áp lực do hoại tử nên ngay sau khi phát hiện, các bác sĩ sẽ nhanh chóng can thiệp bằng cách khoan giảm áp, hướng dẫn bệnh nhân cử động “tiết kiệm” khớp, kéo dài thời gian sử dụng khớp.

3011
26-09-2009, 10:34 PM
Máy CT-scan Brilliance - 6 slice của hãng Phillip có phần mềm tự điều chỉnh liều tia nhằm giảm xạ cho người bệnh. Kỹ sư hãng Phillip cho biết ngoài các chức năng thông thường như chụp sọ não, xoang, bụng và ngực, máy còn có chức năng chụp mạch máu toàn thân, chụp mạch máu não số hoá xoá nền để xác định các dị dạng mạch máu não và chẩn đoán sớm các trường hợp nhồi máu não. Đặc biệt, máy cũng có phần mềm để xác định các tổn thương và bệnh lý ở phế quản, phổi, đường tiêu hoá.

3011
26-09-2009, 10:38 PM
Y hoc hiện đại sẽ cho biết có thể phát hiện sớm các dị dạng nhiễm sắc thể, đặc biệt là bệnh đao, dị dạng hình thái thai (dị tật ở mắt mũi, môi, tim, phổi và các cơ quan nội tạng khác của thai nhi).
Nhiều công nghệ mới chẩn đoán dị dạng thai nhi được ứng dụng ở trung tâm như sinh thiết bánh rau, chọc hút nước ối, lấy máu tĩnh mạch rốn... Đây là các kỹ thuật tiên tiến đang được áp dụng tại một số nước có nền y học phát triển.
Trong thời gian tới các trung tâm sẽ nghiên cứu việc sàng lọc thai trong cộng đồng và sàng lọc bệnh lý trong những ngày đầu tiên trẻ mới chào đời.

3011
28-09-2009, 12:18 PM
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), ung thư vú là một bệnh thường gặp nhất ở phụ nữ, chiếm 23% trong số các bệnh ung thư ở phụ nữ. Tỷ lệ mắc mới có chiều hướng tăng nhanh, bình quân 1,5%/năm có khi lên đến 7%/năm.
Thống kê của Hội Phòng, chống ung thư Việt Nam tại Hà Nội, người dân mắc bệnh ung thư vú (UTV) có tỷ lệ cao nhất, TP Hồ Chí Minh đứng thứ hai, sau đó đến các thành phố: Cần Thơ, Hải Phòng, Thái Nguyên và tỉnh Thừa Thiên-Huế... Tỷ lệ mắc mới bệnh ung thư vú tăng nhanh từ độ tuổi 30 đến 34 và ở tuổi 60 với tỷ lệ 128/100 nghìn người.
Hội thảo Quốc gia chuyên đề ung thư vú tại Huế tháng 8-2009 đã thu hút hơn 200 đại biểu là các chuyên gia đầu ngành về lĩnh vực điều trị ung thư trong nước và quốc tế. Hội thảo đã nghe báo cáo Ðiều trị nội khoa ung thư vú của GS,TS Nguyễn Bá Ðức, TS Trần Văn Thuấn và đồng nghiệp, bao gồm điều trị hóa chất, nội tiết, sử dụng kháng thể đơn dòng và các biện pháp hỗ trợ. Việc phối hợp các phương pháp nội khoa với phẫu thuật xạ trị theo trình tự hợp lý đối với từng giai đoạn cụ thể sẽ cho kết quả điều trị cao nhất. Phương pháp này có thể làm giảm tối đa khả năng tái phát, di căn với bệnh ở giai đoạn sớm. Ðiều trị nội khoa còn làm giảm nhẹ triệu chứng phát triển ung thư, kéo dài thời gian và nâng cao chất lượng sống khi bệnh đã ở giai đoạn muộn. Những trường hợp ở giai đoạn tiến triển tại chỗ khối u lớn, xâm lấn rộng, di căn hạch nhiều, phương pháp điều trị này giúp phẫu thuật dễ dàng hơn, thậm chí giữ nguyên và làm giảm sự phát triển của UTV. Báo cáo Vai trò xạ trị trong điều trị ung thư vú của Bệnh viện K, khẳng định thành công việc điều trị UTV trong nhiều năm. Xạ trị được áp dụng điều trị cho tất cả các giai đoạn của UTV, bảo tồn cho các trường hợp UTV giai đoạn sớm (cắt một phần của khối u). Xạ trị sau phẫu thuật cắt tuyến vú làm tăng tỷ lệ kiểm soát tại chỗ. Ðối với người bệnh đã bước vào giai đoạn muộn có khối u khu trú tại vùng, cần phải phối hợp nhiều hình thức bao gồm xạ trị, phẫu thuật, hóa trị. Xạ trị còn đóng vai trò quan trọng trong điều trị triệu chứng, nhằm giảm đau và chống chèn ép; Báo cáo Y học hạt nhân trong chẩn đoán và điều trị ung thư vú của PGS,TS Phan Sĩ An, Bệnh viện Bạch Mai cho thấy, y học hạt nhân có thể phát hiện được các khối u đa nhân (đa ổ và đa tâm), tái phát ở những vùng chung quanh dự báo và đánh giá cho hóa trị; Ðịnh vị nhũ ảnh và sinh thiết mở sang thương vú không sờ thấy được là báo cáo của Bệnh viện Ung bướu TP Hồ Chí Minh cho thấy tầm quan trọng của phương pháp định vị nhũ ảnh và sinh thiết trong việc chẩn đoán và phát hiện sớm UTV. Ðối với những trường hợp bất thường trên nhũ ảnh mà không sờ thấy trên lâm sàng và siêu âm vú thì việc sinh thiết mở tuyến vú dưới định vị của nhũ ảnh là điều cần thiết phải làm. Ðể đạt kết quả tốt đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa bác sĩ phẫu thuật và bác sĩ hình ảnh học. Phương pháp này sẽ giúp phát hiện UTV ở giai đoạn sớm, góp phần giảm bớt chi phí điều trị, bớt gánh nặng tâm lý và kéo dài thời gian sống cho người bệnh; Báo cáo Phương pháp sinh thiết lõi trong chẩn đoán ung thư vú của TS Nguyễn Văn Bằng và Phạm Nguyên Cường, Bệnh viện Ða khoa Trung ương Huế, chia sẻ kinh nghiệm về thủ thuật có độ chính xác cao. Tại Bệnh viện Ða khoa Trung ương Huế, với kỹ thuật Tái tạo vú tức thì bằng mảnh ghép mẫu mô không tế bào của TS Nguyễn Ðình Tùng đã đem lại niềm vui và hạnh phúc cho nhiều bệnh nhân UTV phải phẫu thuật cắt hết phần ngực có khối u làm mất đi vẻ đẹp tự nhiên của phụ nữ. Kỹ thuật này đạt được những giá trị thẩm mỹ nhất định, thời gian mổ ngắn, không để lại nhiều sẹo trên cơ thể, tỷ lệ tai biến thấp, bệnh nhân phục hồi sức khỏe nhanh. Tôi gặp chị N.T.T, 45 tuổi, Phú Vang (Thừa Thiên -Huế), đến dự hội thảo và được chị cho biết: Khi nhận được kết quả của bệnh viện báo là tôi bị UTV, tôi rất đau khổ và sợ hãi. Mấy ngày liền tôi không ăn uống được. Chồng tôi đã động viên, khuyên tôi nên vào viện để điều trị, anh ấy bảo y học bây giờ phát triển nhanh nếu phát hiện và điều trị sớm khả năng khỏi bệnh rất cao. Sau nhiều lần suy nghĩ, tôi quyết định vào bệnh viện. Mặc dù được các bác sĩ giải thích cặn kẽ, nhưng tôi vẫn không sao chấp nhận được khi thấy một bên ngực mình bị cắt hoàn toàn. Tôi đã khóc và hoang mang, lo sợ với thân hình dị dạng thì tình cảm vợ chồng sẽ ra sao. Người luôn ở bên cạnh giải thích, động viên tôi rất nhiều là chị Hoa, Ðiều dưỡng trưởng, và người mang đến sự tự tin và hạnh phúc cho tôi là bác sĩ Tùng, Phó Trưởng khoa Trung tâm Ung bướu, Bệnh viện Ða khoa Trung ương Huế. Anh đã phẫu thuật tạo hình lại phần ngực đã bị cắt cho tôi. Ðến bây giờ đã hơn ba năm, sức khỏe của tôi rất ổn định, bộ ngực đã cân đối như trước đây.Tôi rất biết ơn sự chăm sóc tận tình của các bác sĩ, điều dưỡng, họ là những người đem lại niềm vui và hạnh phúc cho tôi và gia đình.
Theo GS, TS Nguyễn Bá Ðức, Phó Chủ tịch Hội Phòng, chống ung thư Việt Nam, mỗi năm có khoảng hơn 1,1 triệu phụ nữ được chẩn đoán là ung thư vú, chiếm 10% các bệnh ung thư và chiếm 23% các bệnh ung thư của phụ nữ. Trong số hơn 410 nghìn trường hợp tử vong mỗi năm, trong đó UTV chiếm khoảng 14% các nguyên nhân ung thư ở nữ và chiếm 1,6% các nguyên nhân tử vong ở phụ nữ trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, UTV đứng hàng thứ nhất trong các loại ung thư phụ nữ dễ mắc. Trong khi đó, việc phát hiện sớm bệnh và chữa khỏi hoàn toàn căn bệnh này là rất cao nếu mỗi người có kiến thức về bệnh UTV.
Phó Giám đốc Bệnh viện K, TS Trần Văn Thuấn, cho biết: UTV là một trong các loại bệnh ung thư thường gặp của phụ nữ, người mắc bệnh do nhiều nguyên nhân do chủ quan và thiếu hiểu biết, nên khi phát hiện bệnh UTV thì đã muộn. Nếu được phát hiện sớm, cơ hội chữa khỏi bệnh có thể lên tới 80%, nếu bệnh ở giai đoạn cuối, thì việc điều trị chỉ để kéo dài sự sống của người bệnh. Tại Bệnh viện K, mỗi năm điều trị hàng trăm ca UTV, nhưng có hơn 50% số người bệnh đã chuyển sang giai đoạn khó điều trị. Ở giai đoạn sớm, bệnh thường không có các biểu hiện rõ rệt và không gây đau đớn cho người bệnh. Khi khối u tiến triển, người bệnh sẽ thấy có các triệu chứng sau: khối u cứng, không đau, không đồng nhất, bờ không rõ, dính vào thành ngực hoặc da trên vú, khó di động; vú to ra hoặc có thay đổi hình dáng của vú, núm vú bị lún hoặc xù xì, chảy máu; da vùng vú dày lên hoặc thay đổi mầu sắc, sần sùi như vỏ quả cam... Ðể phòng, tránh UTV chúng ta nên xây dựng chế độ ăn hợp lý, ít chất béo động vật, ăn nhiều rau xanh, hoa quả tươi, hạn chế dùng thuốc nội tiết tố nữ thay thế kéo dài ở thời kỳ mãn kinh... Cách tốt nhất là thường xuyên đi khám, kiểm tra phòng ngừa để được can thiệp kịp thời đối với căn bệnh này.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến UTV là do đột biến gien BRCAI, BRCAII và những rối loạn về nội tiết, môi trường sống cũng đóng vai trò quan trọng, dinh dưỡng không hợp lý chiếm tỷ lệ 35 - 40%. Ngoài ra còn các nguyên nhân khác như phơi nhiễm phóng xạ, nhiễm chất độc hóa học (trong đó có đi-ô-xin)... căng thẳng trong công việc; uống rượu bia nhiều, và không rèn luyện thân thể.

3011
05-10-2009, 11:32 AM
Xét nghiệm ung thư được chia làm ba loại: xét nghiệm sàng lọc, phát hiện sớm và chẩn đoán. Xét nghiệm sàng lọc (khi người bệnh chưa hề có triệu chứng) có thể thực hiện với ung thư gan.


Những người thuộc nhóm nguy cơ cao nên đi xét nghiệm sàng lọc là những đối tượng từng ăn phải lạc (đậu phộng) thối, gạo mục hoặc đã có tiền sử bị các bệnh viêm gan, nhất là viêm gan siêu vi C.

Xét nghiệm phát hiện sớm (người bệnh cũng chưa có triệu chứng) có thể thực hiện với ung thư tuyến tiền liệt. Còn lại, xét nghiệm chẩn đoán là thực hiện với những người đã có triệu chứng để theo dõi, điều trị bệnh. Xét nghiệm này có thể làm với tất cả các loại ung thư.

Nói chung, chúng ta đã có thể xét nghiệm để biết trước khả năng bị ung thư của những loại bệnh khá phổ biến ở Việt Nam. Gan thì do thói quen uống rượu và tuyến tiền liệt lại còn phổ biến hơn, đi tiểu nhiều lần trong đêm chính là triệu chứng bộ phận này có vấn đề. Kết quả đều khá chính xác.

Hiện nay tại Hà Nội mới chỉ có hai nơi thực hiện xét nghiệm cả hai chỉ tố fPSA và PSA để phát hiện sớm ung thư tiền liệt tuyến, đó là Bệnh viện trung ương quân đội 108 và Bệnh viện đa khoa Tràng An. Tại TP Hồ Chí Minh, Trung tâm xét nghiệm Medic, Bệnh viện Ung bướu và Bệnh viện Hoàn Mỹ cũng có dịch vụ này.

Xét nghiệm sàng lọc ung thư gan đã khá phổ biến, một số bệnh viện cấp tỉnh cũng thực hiện được. Chi phí một xét nghiệm sàng lọc ung thư gan chỉ khoảng 60.000 đồng, tiền liệt tuyến là 140.000 đồng (với hai chỉ tố).

3011
05-10-2009, 11:34 AM
Tại sao phải phát hiện sớm ung thư và các tổn thương- Ung thư là căn bệnh rất nguy hiểm với tỉ lệ gây tử vong rất cao. Ở Việt Nam ước tính mỗi năm có khoảng 150.000 trường hợp mới mắc và khoảng 75.000 trường hợp tử vong.
- Tuy nhiên, ung thư không phải là căn bệnh vô phương cứu chữa, 1/3 bệnh ung thư là có thể phòng ngừa, 1/3 có thể chữa khỏi khi được chẩn đoán sớm, việc chăm sóc bổ trợ sẽ làm tăng chất lượng sống cho 1/3 bệnh nhân ung thư còn lại.
- Các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh thông thường (CT, MRI, X-quang, siêu âm..) không thể phát hiện sớm các tế bào ung thư hoặc các tổn thương ở các cơ quan ở giai đoạn sớm (giai đoạn phân tử, tế bào..) nên hầu hết bệnh nhân đều được phát hiện ở giai đoạn muộn, hiệu quả điều trị không cao.
- Phát hiện sớm tế bào ung thư giúp bác sĩ có những phương pháp điều trị tối ưu để chữa khỏi hoặc kéo dài cuộc sống cho bệnh nhân.
- Tương tự như vậy, tổn thương ở các cơ quan khác trong cơ thể nếu được phát hiện sớm sẽ được điều trị và chăm sóc hiệu quả hơn.
- Trong các phương pháp chẩn đoán hình ảnh hiện nay, PET/CT là hệ thống có khả năng phát hiện sớm tế bào ung thư và tổn thương trong cơ thể ở giai đoạn tế bào và phân tử - giai đoạn sớm nhất, bên cạnh đó, PET-CT còn có khả năng phân loại u lành hay ác tính, đánh giá tình trạng các cơ quan trong cơ thể.
Giới thiệu hệ thống PET/CT
Máy PET/CT (Positron Emission Tomography – Computed Tomography) là một hệ thống kết hợp giữa máy PET (Positron Emission Tomography: Máy chụp cắt lớp bằng bức xạ Positron) và máy chụp cắt lớp vi tính (CT–Scanner: Computed Tomography). Đó không chỉ là sự kết hợp về nguyên tắc vật lý, nguyên tắc hoạt động, PET/CT cũng là sự kết hợp giữa hình ảnh chức năng, chuyển hoá ở mức độ tế bào, mức độ phân tử, giúp chẩn đoán sớm, đặc hiệu của PET với hình ảnh cấu trúc giải phẫu rõ nét của các cơ quan, định vị chính xác của CT. Do vậy PET/CT có khả năng phát hiện tổn thương và các biến đổi bất thường trong cơ thể ở những giai đoạn rất sớm – mức độ phân tử - đặc biệt là sự hình thành, phát triển và di căn của các khối u. Các kết quả ghi bằng máy PET/CT góp phần nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị ung thư; đặc biệt là đánh giá được đáp ứng của bệnh sau mỗi đợt điều trị, giúp bác sĩ lựa chọn phác đồ tối ưu đảm bảo hiệu quả điều trị cao nhất cho bệnh nhân. Không chỉ vậy ghi hình PET/CT còn giúp chẩn đoán, theo dõi các bệnh thần kinh, tim mạch, nội tiết chuyển hoá.
Máy PET/CT là một trong những thiết bị chẩn đoán hình ảnh sử dụng kỹ thuật Y học hạt nhân (YHHN) hiện đại nhất hiện nay. Bệnh nhân được uống hoặc tiêm một liều dược chất phóng xạ (DCPX) tập trung đặc hiệu vào tổ chức cần ghi hình. Sau khi nhận liều một thời gian nhất định đủ để cho DCPX tập trung và phân bố vào tổ chức bệnh lý, bệnh nhân được đưa vào máy để chụp đồng thời xạ hình PET và chụp cắt lớp CT.
Đúng như tên gọi PET/CT, máy PET/CT gồm 02 hệ thống thu nhận và tạo ảnh của PET và CT. Trước hết bệnh nhân được chụp bằng hệ thống CT đa dãy, sau đó được chụp với hệ thống PET trên cùng một giường và hệ trục tọa độ. Máy tính sẽ kết hợp ghép hình ảnh PET và hình ảnh CT ghi nhận được và cho ta hình ảnh PET/CT.
Về mặt ứng dụng lâm sàng, ảnh CT cung cấp hình ảnh cấu trúc giải phẫu rõ nét của các cơ quan cần chụp (Structure Image) nhưng không đánh giá được hoạt động chức năng và trạng thái của các cơ quan. Khác với CT, ảnh PET là hình chức năng (Functional Image) cho phép đánh giá trạng thái hoạt động chức năng và quá trình biến đổi chất của cơ quan cần chụp. Nếu là hai ảnh riêng rẽ, bệnh nhân phải trải qua hai lần chụp, chi phí tốn kém đồng thời khả năng chẩn đoán và đánh giá tình trạng bệnh lý không cao. Nhưng, nếu hai ảnh này được chụp và ***g ghép, kết hợp ngay lập tức và ngay tại vùng quan tâm thì hình ảnh nhận được rất rõ nét và chính xác. Hình ảnh nhận được cho thấy đồng thời cấu trúc giải phẫu và hình ảnh chức năng cơ quan cần thăm khám. Với hình ảnh PET/CT, thầy thuốc dễ dàng và nhanh chóng đưa ra kết quả chẩn đoán tình trạng bệnh lý của người bệnh.

3011
05-10-2009, 12:10 PM
Thiết bị chẩn đoán - Hiện tại trên toàn quốc có 23 máy MRI phân bố như sau :
Hà Nội : 9 máy
BV Bạch Mai
BV Việt Đức
BV Saint-Paul
BV Quân Y 103
TT Amtic
TT chẩn đoán (178 Thái Hà)
TT chẩn đoán (107 Tôn Đức Thắng)
BV Việt Xô (1T)
BV 108 (1,5T)

Huế – Đà Nẵng : 3 máy
BV Trung Ương Huế (1,5T China)
BV Đa khoa Đà Nẵng (open – Hitachi)
BV Hoàn Mỹ – Đã Nẵng (open – Toshiba)
TPHCM : 11 máy
Medic (3 máy : 2 GE 1,5T và 1 open)
BV Chợ Rẫy (2 máy : 1T và 1,5T Siemens)
BV Đại học Y (1,5T Siemens)
BV Thống nhất (1,5T Philip)
BV 115 (1,5T Siemens)
BV Vạn Hạnh (open - Siemens)
BV Chấn thương Chỉnh hình (open – Hitachi)
BV 175 (open – Philip)
Đồng bằng Sông Cửu Long : 1 máy
BV Đa khoa Kiên Giang (open – Hitachi)
TỔNG CỘNG : 23 MÁY (CÓ 11 MÁY LOẠI SIÊU DẪN)

3011
05-10-2009, 12:13 PM
U màng não (Meningiome) là khối u xuất phát từ tế bào màng nhện. Tỷ lệ mắc khối u màng não khá cao chiếm tới 15-25% các khối u thần kinh trung ương. Các vị trí thường gặp của u màng não là dọc theo các xoang tĩnh mạch dọc và vùng nền sọ. Bệnh thường tiến triển từ từ với các triệu chứng tuỳ thuộc vào vị trí, kích thước khối u như: đau đầu, mờ mắt, động kinh co giật, liệt các dây thần kinh sọ, liệt yếu nửa người; để lâu không điều trị sẽ dẫn tới tăng áp lực nội sọ, hôn mê, tử vong.

Các phương pháp để điều trị u màng não là phẫu thuật, tia xạ và gần đây là phương pháp xạ phẫu bằng dao Gamma quay với nhiều ưu điểm vượt trội.

Về bệnh học, đa số các khối u màng não là lành tính, tuy nhiên do đặc điểm của các khối u màng não là phát triển lan man dọc theo màng não, bám dính vào các cơ quan tổ chức xung quanh như xương, mạch máu, thần kinh, vì vậy phẫu thuật đơn thuần đa số không lấy bỏ hết được tổn thương sẽ dẫn tới bệnh tái phát.

Xạ phẫu bằng dao Gamma quay (Rotating Gamma Knife) với ưu điểm định vị chính xác các tổn thương với sai số 0,1mm cho phép tiêu diệt tận ngóc ngách ẩn náu của tế bào khối u, giảm tối đa nguy cơ tái phát. Theo các nghiên cứu của Hiệp hội xạ phẫu Hoa Kỳ, Hiệp hội xạ phẫu quốc tế, tỷ lệ kiểm soát của bệnh lên tới 90-97% khi theo dõi 10-15 năm.

Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu Bệnh viện Bạch Mai là cơ sở đầu tiên ở Việt Nam sử dụng hệ thống dao Gamma quay thế hệ mới nhất của Hoa Kỳ gắn với hệ thống CT, MRI mô phỏng. Từ tháng 7/2007 đến 9/2009, Trung tâm đã điều trị thành công cho hơn 150 trường hợp khối u màng não, đạt tỷ lệ kiểm soát bệnh cao đồng thời ít biến chứng, ít tác dụng phụ. Từ những kết quả thu được có thể khẳng định điều trị các khối u màng não bằng dao gamma quay là phương pháp nhẹ nhàng, an toàn, đạt hiệu quả cao.

Hệ thống dao Gamma quay này cũng dựa theo nguyên lý của dao gamma cổ điển là sự hội tụ chính xác của các chùm tia gamma từ nguồn cobalt-60 vào tổn thương, nhưng thay cho mũ cố đinh nặng nề là hệ thống collimator quay quanh đầu bệnh nhân giúp giảm liều tối thiểu tại các cấu trúc lành xung quanh, hệ thống định vị tự động hoá có độ chính xác cao giúp cho việc điều trị thuận tiện, an toàn, chính xác và hiệu quả. Bệnh nhân chỉ cần gây tê tại chỗ và tỉnh táo trong suốt quá trình xạ phẫu, thời gian nằm viện ngắn. Nhiều bệnh nhân khỏi bệnh và cải thiện nhiều các triệu chứng lâm sàng trở lại sinh hoạt lao động bình thường, đặc biệt là các trường hợp không thể can thiệp bằng phương pháp khác nếu không điều trị bệnh nhân sẽ tử vong.

Chỉ định điều trị của Gamma quay đối với u màng não là:

- Các khối u màng não có kích thước dưới 5 cm

- Điều trị sau mổ các khối u màng não mà phẫu thuật mở không thể lấy hết được

- Các khối u màng não tái phát

- Các trường hợp chống chỉ định gây mê

Ưu điểm của phương pháp xạ phẫu Gamma quay đối với u màng não:

- Các khối u ở sâu trong não, các khối u nền sọ mà phẫu thuật không thể lấy bỏ hết

- Các khối u gần hay trong các cơ quan quan trọng như mạch máu, các dây thần kinh sọ, thân não...

- Có thể điều trị được nhiều khối u một lúc (thể NF2)
- Thực hiện xạ phẫu nhẹ nhàng, an toàn, bệnh nhân vẫn ăn uống bình thường, không phải gây mê, có thể ra viện ngay sau khi xạ phẫu

- Hiệu quả kiểm soát bệnh cao, ít tái phát.

3011
05-10-2009, 12:15 PM
Thông tin này vừa được đưa ra tại buổi họp báo ra mắt sản phẩm Sensability, giúp tự kiểm tra ung thư vú tại nhà của Gabrielle Holistic Inc. Singapore sẽ có mặt trên thị trường Việt Nam.

Bác sĩ Tuyên cũng cho biết: Chiếm tới 30% trong số các ca ung thư, Hà Nội là nơi có tỷ lệ bệnh nhân ung thư vú cao nhất nước. Đây là bệnh gây tử vong cao, song nếu phát hiện sớm thì bệnh hoàn toàn có khả năng chữa trị dứt điểm.

Theo các chuyên gia, tế bào ung thư vú khi mới hình thành thường nhỏ như hạt cát nên rất khó phát hiện. Nếu để tế bào này phát triển thành những khối u lớn hơn 2cm, thì khả năng chữa trị thành công sẽ thấp.

3011
05-10-2009, 12:18 PM
Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (Assisted Reproductive Technologies) là những kỹ thuật Y Sinh học được áp dụng để điều trị vô sinh. Từ khi phương pháp Thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) thành công năm 1978 ở Anh, khái niệm các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hình thành và phát triển rất mạnh trên toàn thế giới. Ở các nước phát triển, hiện có khoảng 1-5% số em bé sinh ra hiện nay là từ các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (không kể thụ tinh nhân tạo). Người ta ước tính có trên nửa triệu chu kỳ hỗ trợ sinh sản được thực hiện mỗi năm trên toàn thế giới. Trên thế giới đã có hàng triệu em bé ra đời từ các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Tại Việt Nam, con số này có thể đạt đến 1000 vào năm nay và hiện nay có khoảng 250 em bé ra đời mỗi năm từ các kỹ thuật TTTON.

Theo phân tích của nhiều trung tâm, thụ tinh nhân tạo (hay IUI) không xếp vào các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (Assisted Reproductive Technologies – ART). Người ta định nghĩa rằng các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản bao gồm những kỹ thuật điều trị vô sinh, trong đó, có chọc hút trứng và đem trứng ra bên ngoài cơ thể. Tuy nhiên, trong điều kiện các kỹ thuật điều trị vô sinh vừa mới phát triển, để đơn giản và dễ hiểu trong việc sử dụng thuật ngữ, chúng tôi đề nghị nhập kỹ thuật thụ tinh nhân tạo vào các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Thụ tinh nhân tạo (artificial insemination) Thụ tinh nhân tạo (TTNT) là một trong những kỹ thuật điều trị vô sinh phổ biến nhất, đặc biệt trong hoàn cảnh nước ta hiện nay. Hiện nay, hầu hết các trung tâm trên thế giới đều áp dụng kỹ thuật kỹ thuật bơm tinh trùng sau chuẩn bị vào buồng tử cung (IUI) để thực hiện thụ tinh nhân tạo. Do đó, khi nói đến TTNT, có thể hiểu là IUI với tinh trùng đã chuẩn bị.

Một số kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hiện nay không còn hoặc ít được sử dụng như bơm tinh trùng đã chuẩn bị vào cổ tử cung, bơm môi trường chứa tinh trùng vào đến vòi trứng và ổ bụng. Thụ tinh trong ống nghiệm và chuyển phôi (IVF/ET) Kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) có nghĩa là cho trứng và tinh trùng kết hợp với nhau trong phòng thí nghiệm (thay vì trong vòi trứng người phụ nữ). Sau đó, phôi hình thành sẽ được chuyển trở lại vào buồng tử cung. Quá trình phát triển của phôi và thai sẽ diễn ra bình thường trong tử cung người mẹ. Tỉ lệ thành công của mỗi chu kỳ điều trị IVF/ET trung bình trên thế giới hiện nay khoảng 25%. Tỉ lệ này phụ thuộc vào tuổi bệnh nhân, chỉ định điều trị và phác đồ điều trị của từng trung tâm. Một số kỹ thuật phát sinh từ TTTON Chuyển giao tử vào vòi trứng (GIFT), chuyển hợp tử vào vòi trứng (ZIFT) chuyển phôi vào vòi trứng (TET). Các kỹ thuật này chỉ có thể thực hiện cho những trường hợp có ít nhất một vòi trứng hoàn toàn bình thường về mặt giải phẫu và chức năng. Kỹ thuật chuyển giao tử hoặc phôi vào vòi trứng phải được thực hiện qua phẫu thuật nội soi ổ bụng. Tỉ lệt thành công của các kỹ thuật này nói chung không cao hơn kỹ thuật TTTON, trong khi đó chi phí cao hơn, cần nhiều trang bị phức tạp hơn, tỉ lệ tai biến cao hơn và tỉ lệ thai ngoài tử cung cũng cao hơn. Do đó, các kỹ thuật này hiện chỉ được áp dụng rất ít, chủ yếu vì lý do tín ngưỡng.

Tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (Intracytoplasmic Sperm Injection) Kỹ thuật được ra đời nhằm khắc phục tình trạng tỉ lệ thụ tinh thấp hoặc không thụ tinh khi thực hiện TTTON do bất thường quá trình thụ tinh hay chất lượng tinh trùng thấp. Với kỹ thuật này, người ta có thể tạo một hợp tử hoàn chỉnh bằng một trứng và một tinh trùng duy nhất. Đây được xem là một cuộc cách mạng trong điều trị vô sinh do nguyên nhân ở nam giới. ICSI hiện nay đã chiếm khoảng 50% các chu kỳ thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và là một kỹ thuật không thể thiếu ở một trung tâm HTSS. Kỹ thuật này có thể cho tỉ lệ thụ tinh cao hơn, làm số phôi có được nhiều hơn, nhiều khả năng chọn lọc được phôi tốt để chuyển vào buồng tử cung. Kỹ thuật ICSI hiện nay có thể thực hiện với tinh trùng tươi hoặc sau trữ lạnh; tinh trùng trong tinh dịch hoặc tinh trùng sinh thiết từ mào tinh và tinh hoàn.

Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với sự tham gia của “người thứ ba” Các kỹ thuật điều trị trên cũng dựa trên cơ sở kỹ thuật của các KTHTSS đã trình bày. Tuy nhiên, do tính chất của bệnh lý vô sinh, để điều trị, cần có sự hỗ trợ về sinh học của người thứ ba. Đây là những kỹ thuật điều trị có liên quan nhiều đến các vấn đề y học, pháp lý, nhân đạo và quan niệm đạo đức xã hội. Các kỹ thuật này bao gồm: - Xin tinh trùng: kỹ thuật này để điều trị cho các trường hợp vô sinh nam hoàn toàn không có tinh trùng. - Xin trứng: kỹ thuật này áp dụng cho những trường hợp người vợ bị cắt buồng trứng, buồng trứng bị suy yếu. Trứng xin từ người thứ ba có thể để thực hiện TTTON hoặc ICSI với tinh trùng chồng sau đó chuyển phôi lại vào tử cung người vợ. - Xin phôi: phôi dư từ các cặp vợ chồng làm TTTON sau khi đã thành công, có đủ con, được tự nguyện hiến lại cho ngân hàng phôi. Phôi được chuyển vào tử cung người xin. - Mang thai hộ: kỹ thuật này thường được áp dụng cho những trường hợp người phụ nữ có buồng trứng bình thường nhưng đã bị cắt tử cung hoặc bị bệnh lý nội khoa nặng (Ví dụ: bệnh tim) khiến việc mang thai có thể nguy hiểm đến tính mạng của mẹ và con. Tinh trùng chồng và trứng người vợ được cho TTTON. Sau đó phôi được chuyển vào tử cung người mang thai hộ. Sự phát triển rất nhanh của các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đã đặt cho chúng ta một vấn đề lớn về quản lý.

3011
12-10-2009, 05:22 PM
Dùng thuốc hạ sốt quá nhiều hoặc truyền đạm hay vitamin vì thấy người mất nước là những sai lầm thường gặp với các bệnh nhân sốt xuất huyết, dễ gây biến chứng, hoặc khiến bệnh nặng hơn.
Các bệnh viện tại Hà Nội đang quá tải vì bệnh nhân sốt xuất huyết. Đặc biệt có nhiều người nhập viện muộn với các biến chứng: chảy máu nội tạng, sốc, trụy mạch... Thạc sĩ Nguyễn Hồng Hà, Phó viện trưởng Viện Các bệnh truyền nhiễm và nhiệt đới Quốc gia khuyến cáo bệnh nhân cần lưu ý một số điều sau để tránh bệnh biến chứng nặng.
1. Không có thuốc điều trị đặc hiệu
Sốt xuất huyết là bệnh do virus, diễn biến bệnh là quá trình tự nhiên giữa cơ thể với virus. Có người nhẹ, có người nặng, nhưng không thể đoán trước được trường hợp nào sẽ diễn tiến nặng.
Việc điều trị, tác động chỉ mang tính chất hỗ trợ. Rối loạn đến đâu điều trị đến đấy để qua giai đoạn nguy hiểm, không thể chặn trước được. Diễn tiến bệnh tối đa là một tuần, có người kéo dài hơn.
2. Không thể hạ ngay cơn sốt
Tâm lý của nhiều người đang khỏe mạnh, tự dưng sốt, người mệt mỏi khi đến bác sĩ thì yêu cầu chữa hết sốt ngay. Đây là quan niệm sai lầm, đặc biệt là với bệnh sốt xuất huyết vì sốt do virus nên nhiệt độ hạ rồi quay lại ngay.
Thực tế, sốt là phản ứng bảo vệ của cơ thể. Virus gây bệnh đã kích thích cơ thể gây sốt nhưng chính những cơn sốt như thế có tác dụng khống chế virus, làm virus không phát triển.
Nhiều người vì muốn hạ sốt nên đã dùng thuốc hạ sốt nhiều lần (4-5 lần một ngày) dẫn đến lạm dụng thuốc. Hậu quả là phản ứng tự bảo vệ của cơ thể yếu, hồi phục kém, thậm chí gây ảnh hưởng đến tế bào gan. Nhiều bệnh nhân bị sốt xuất huyết đã làm tăng men gan nhưng khi uống nhiều lần thuốc hạ sốt thì càng làm suy gan nặng nề hơn.
Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là không cần hạ sốt. Với những bệnh sốt cao quá, cần phải can thiệp vì có thể dẫn đến co giật. Tùy từng bệnh nhân cụ thể mà áp dụng cách nào. Ca nhẹ có thể chỉ cần nằm nơi thoáng mát, chườm đá, nặng hơn thì phải hạ nhiệt, dùng thuốc an thần, tránh cơn co giật.
3. Ba ngày đầu bị sốt bệnh nhân không nên truyền dịch
Trong 3 ngày đầu, bệnh nhân thường có biểu hiện mất dịch: sốt cao, vã mồ hôi, thở nhanh, đau mình mẩy, chán ăn, thậm chí có người nôn, sợ không dám ăn. Lúc này, nhiều người thường nghĩ đến truyền dịch nhưng điều này là không nên. Bệnh nhân đang bị sốt cao, phản ứng của cơ thể rất mạnh, nên nếu truyền dịch người bệnh hay bị sốc.
Vì thế, giải pháp tốt nhất là nếu người bệnh còn ăn uống được thì bù bằng nước hoa quả, nước thường, nước rau, oresol.... Trường hợp không ăn uống được, nôn và muốn truyền dịch phải có sự chỉ định của bác sĩ. Tuyệt đối không truyền dung dịch đạm, hay có pha vitamin vì rất hay bị sốc.
Trong quá trình truyền, phải theo dõi sát khi thấy người bệnh rét run, nhiệt độ tăng thì phải bỏ truyền dịch ngay. Nếu không khi bị sốc sẽ rất nguy hiểm, thậm chí dẫn đến tử vong.
Giai đoạn này, bệnh nhân có thể tự điều trị tại nhà.
4. Từ ngày thứ 4 là giai đoạn nguy hiểm của bệnh
Bệnh nhân xuất hiện nhiều biến chứng nguy hiểm như: tụt huyết áp, đau bụng, chảy máu bất thường, tràn dịch màng phổi... Vì thế khi thấy bệnh nhân nằm vật vã, sốt li bì, chướng bụng, khó thở, đi tiểu ít, chảy máu bất thường cần đưa đi khám bác sĩ.
Đây là giai đoạn tăng thấm, bệnh nhân dễ bị thoát dịch qua màng bụng. Các bác sĩ có thể quyết định truyền dịch với tốc độ nhanh hơn tốc độ thấm ra ngoài của cơ thể và phải được theo dõi chặt chẽ để phát hiện kịp thời bất thường.
5. Khi bệnh đã hồi phục thì không nên truyền dịch
Ngay cả khi đã xuất viện, bệnh nhân cũng phải mất 7-10 ngày để hồi phục lại. Dù đã khỏi, nhưng bệnh nhân vẫn có triệu chứng mệt mỏi, đứng lên hoa mắt chóng mặt. Vì thế nhiều người muốn truyền dịch để mau chóng khỏe.
Tuy nhiên, đây lại là giai đoạn thừa nước, truyền dịch vào sẽ rất nguy hiểm, có thể gây phù phổi, cấp cứu không kịp có thể tử vong.

3011
17-10-2009, 09:29 PM
Khi đầu ra của một dự án hoặc một phương án điều trị đạt được hiệu quả như nhau, người quản lý y tế cần phải phân tích chi phí tối thiểu (Cost Minimization Analysis). Dự án nào, phương án điều trị nào có chi phí thấp hơn đã lựa chọn, được coi là hiệu quả hơn.

Lấy ví dụ chúng ta tổ chức bữa ăn mẫu phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em (SDDTE) tại một xã miền núi, chúng ta phải tính toán chặt chẽ đầu vào của hoạt động – phải xác định được làm ở thôn nào, bao nhiêu người cần nghe về chuyên đề này… Vì sao phải tính toán, vì chúng ta luôn luôn có tiền ít, thời gian ít, nhân lực ít. Ví dụ khi chúng ta tính ra được số chi phí cho huyện A thấp hơn huyện B mà 2 huyện đều có kết quả làm giảm được 5% tỷ lệ SDDTE <5 tuổi thì dự án ở huyện A được coi là có hiệu quả hơn.
Hoặc như đối với chương trình an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP), đối tượng của chương trình là người kinh doanh chế biến thực phẩm. Mục tiêu mong đợi của người làm chương trình là giảm số vụ ngộ độc thực phẩm. Nhưng đây không phải là điều chúng ta nắm được mà chúng ta chỉ nắm chắc là “quản lý được các cơ sở kinh doanh chế biến thực phẩm”. Chỉ số đầu ra của chương trình là số cơ sở kinh doanh chế biến thực phẩm quản lý được. Khi đó chúng ta sẽ tính được chi phí tối thiểu bằng cách lấy tổng số tiền đầu tư cho chương trình chia cho số cơ sở quản lý được. Điều mà chúng ta cần làm là phải xác định chính xác mẫu số của phép chia, để từ đó tính được chi phí tối thiểu, qua đó chúng ta có thể thấy được cán bộ chương trình, dự án đó có làm tốt chức năng của mình không? Cấp giấy chứng nhận ATVSTP có xứng đáng không? Có đầy đủ các tiêu chí đề ra không? Ví dụ như số cơ sở đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật quy định ATVSTP, từ đó mới có được chỉ số “giảm số cơ sở có nguy cơ nhiễm trùng thực phẩm”, chỉ số “giảm số người ăn phải các thực phẩm nhiễm trùng gây ngộ độc thực phẩm”. Vấn đề của người cán bộ chương trình là từ kiến thức, kinh nghiệm của mình việc chọn lựa cơ sở nào để kiểm tra, để tiến hành xét nghiệm …
Mẫu số trong chi phí tối thiểu là các đơn vị được thực hiện đúng theo các tiêu chí quy định, từ đó chúng ta phân tích để có được công tác lập kế hoạch cho chương trình năm sau, lần sau tốt hơn, tính toán được nguồn lực, kinh phí cần đầu tư như thế nào là hợp lý. Lập kế hoạch kinh phí liên quan chặt chẽ đến những hoạt động mà chúng ta làm chưa tốt, những cơ sở làm chưa tốt.
* Phân tích chi phí hiệu quả (Cost Effectiveness Analysis)
Lấy ví dụ hoạt động giám sát côn trùng chỉ số muỗi. Giám sát được bao nhiêu con là chỉ số chuyên môn. Người quản lý chương trình cần phải quan tâm là bao nhiêu giám sát đúng quy trình, bao nhiêu làm không đúng quy trình. Từ đó tính ra chi phí hiệu quả, chất lượng chương trình ở chỗ nào, hiệu quả chỗ nào. Chọn ai thực hiện số tiền thấp nhất là hiệu quả. Ví dụ trong cùng thời gian, người A có số lần giám sát đúng quy trình là 18 lần, trong khi người B chỉ giám sát đúng quy trình 12 lần. Vậy người A giám sát hiệu quả hơn người B. Chi phí hiệu quả nói lên kỹ năng thực hiện công tác được giao của cán bộ. Từ đó, có thể có mức trả lương, hoặc khen thưởng đúng với năng lực của cán bộ đó. Điều này còn muốn nói lên không phải người làm nhiều năm hơn thì luôn lương cao hơn người mới .

3011
17-10-2009, 09:39 PM
Các nghiên cứu trước đây về tình dục và internet như cộng đồng tình dục trực tuyến (Burke 2000), tình dục trên mạng (Ross và CS. 2005) và hẹn hò qua mạng (Davis và CS.2006). Ross (2005) đã ghi nhận rằng phương tiện giao tiếp điện tử này đã tạo ra một bình diện mới cho sự gần gũi nhờ kỹ năng cho phép việc liên lạc, giao tiếp vượt qua những khoảng cách lớn về không gian hoặc giao tiếp mặt đối mặt. Internet ảnh hưởng lên tình dục con người qua một số cơ chế: cho phép thực hiện tình dục ảo, mở rộng kỹ năng về mạng lưới liên lạc (và số lần liên lạc), và hỗ trợ việc sử dụng nhiều danh tính. Hiện nay, nghiên cứu về internet và tình dục vẫn đang ở giai đoạn khởi đầu. Internet xuất hiện như là một phương tiện quan trọng giúp cho thanh thiếu niên thể hiện “cái tôi” trong tình dục với người khác (Stern 2002). Internet cũng được biết đến là một nguồn mà thanh thiếu niên sử dụng rộng rãi để tìm kiếm thông tin về sức khỏe tình dục (Kanuga và Rosenfeld 2004).
Tiến sĩ Ngô Đức Anh - Giảng viên trường Sức khỏe Dân số, Đại học Queensland vừa qua đã có nghiên cứu “Ảnh hưởng của internet lên thực hành tình dục trong thanh thiếu niên tại Hà Nội” với mục đích tìm hiểu thanh thiếu niên sử dụng internet để phát triển các hành vi nhận dạng tình dục như thế nào?
Nghiên cứu phân tích thông tin từ các thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu, trò chuyện qua mạng và ghi chép thực địa cho thấy thanh thiếu niên có sử dụng internet để tìm kiếm và thu thập các thông tin về tình dục, những thông tin không có được từ các nguồn khác như gia đình và nhà trường. Thanh thiếu niên tìm mọi cách để không phụ thuộc vào cha mẹ và người lớn trong việc tìm kiếm thông tin về vấn đề giới và tình dục. Internet không chỉ cung cấp thông tin, mà còn thúc đẩy sự tương tác, dẫn đến những kinh nghiệm xã hội mới. Giao tiếp trực tuyến cũng góp phần vào sự phát triển các kỹ năng liên quan đến sự thân mật, gần gũi trong quá trình hình thành và duy trì các mối quan hệ.
Giới trẻ sử dụng internet để trao đổi về tình dục, phương tiện này tạo ra một không gian khá kín đáo để họ có thể tìm hiểu và phát triển các kỹ năng thể hiện không lời và có lời, hẹn hò và các mối quan hệ thân mật, tình cảm. Giới trẻ nhận thấy rằng trò chuyện qua mạng với người yêu dễ dàng hơn là nói chuyện trực tiếp mặt đối mặt, khi họ thể hiện tình cảm hoặc cảm xúc của mình. Phân tích các cuộc trò chuyện qua mạng chỉ ra rằng thanh thiếu niên không ngại ngùng khi thể hiện tình cảm với người yêu: “Anh yêu em nhiều lắm, anh nhớ em nhiều lắm. Thời gian nói chuyện với em thật tuyệt vời, anh rất hạnh phúc. Anh cảm thấy anh đang sống thật với chính mình...”
Bên cạnh việc trò chuyện qua mạng, một số bạn trẻ tham gia nghiên cứu đã xây dựng và điều hành những diễn đàn trực tuyến để họ có thể tham gia vào các thảo luận nhóm. Những người sử dụng internet cũng tạo ra hoặc sửa đổi cách thức hẹn hò của mình:
“Cách đây vài ngày, một thanh niên đưa tin một nơi lý tưởng để hẹn hò lúc hoàng hôn – nơi Đại lộ mới mở. Em đã đưa bạn gái đến đó – Đúng là không thể tin được (Bạn nam, 19 tuổi).
Hoặc như:
“Em thường hỏi bạn bè trong diễn đàn những kinh nghiệm của họ về nụ hôn đầu tiên. Một bạn đã gửi cho em một clip từ phim Hàn quốc biểu diễn nụ hôn của một cặp – trông ngạc nhiên lắm (Bạn nam, 19 tuổi).
Nhiều thanh niên thống nhất quan điểm cho rằng tình cảm lãng mạn giảm đi theo thời gian, vì thế diễn đàn qua mạng đóng vai trò tích cực trong việc giúp những người tham gia duy trì sự lãng mạn trong mối quan hệ.
Các cuộc trao đổi trực tuyến diễn đàn, bắt đầu là sự thể hiện bản thân, tiếp theo là hẹn hò và sau đó đến các quan hệ, gắn kết lãng mạn và nghiêm túc hơn. Tuy nhiên, các bạn trẻ trong nghiên cứu cũng cho rằng tình yêu qua mạng là sự chia tay, không hạnh phúc và thất vọng. Các bạn đều nói rằng internet ảnh hưởng lên các mối quan hệ của họ một cách tích cực. Những điều họ học được về tình yêu tình dục, chuẩn mực giới và mong đợi về giới đã giúp họ trong mối tương tác với người yêu:
“Sau khi vào website để tìm kiếm thông tin về tình yêu, giới tính và sức khỏe tình dục, em cảm thấy mình có kinh nghiệm hơn và trưởng thành hơn trong suy nghĩ và hành động”. (Bạn nam, 18 tuổi).
“Trước đây, em thường chỉ thấy hấp dẫn với những người đàn ông đẹp trai, con nhà giàu. Nhưng giờ qua internet em thấy rằng những người đàn ông này thường xảo quyệt và không yêu bất cứ cô gái nào một cách nghiêm túc. Nhiều cô gái đã đi phá thai vì họ”. (Bạn nữ, 18 tuổi).
Còn đối với quan hệ tình dục trước hôn nhân: “Phim ảnh mô tả các mối quan hệ tình dục trước hôn nhân kích thích sự ham muốn tình dục của em. Khi cảm giác này qua đi, em nghĩ rằng em không nên có quan hệ tình dục để giữ gìn trinh tiết và phẩm giá của mình. Em bị sốc khi đọc một bài báo về việc những bạn gái cấp ba thiếu kinh nghiệm tình dục được coi là lạc hậu.” (Bạn nữ, 19 tuổi).
Hoặc đôi khi cảnh cáo các bạn gái cẩn trọng hơn trong tình dục: “Lúc em 14,15 tuổi, em đã đọc nhiều câu chuyện trên internet, có những đoạn mang thai ngoài ý muốn, rồi người con trai bỏ đi. Em rất lo sợ em sẽ rơi vào tình huống như thế. Vì vậy, khi em đi chơi với con trai, nếu em cảm thấy anh ta có ý nghĩ đen tối – như mời em đến một nơi hẻo lánh, em sẽ từ chối ngay.” (Bạn gái, 19 tuổi).
Qua internet, các bạn trẻ biết được về cuộc sống của những người bạn cùng trang lứa ở những nước khác và phát hiện ra rằng giới trẻ ở xã hội phương Tây thường quan hệ tình dục trước hôn nhân. Các bạn gái trong nghiên cứu cũng nhận ra rằng có sự bất bình đẳng giới trong những chuẩn mực của người Việt Nam liên quan đến vấn đề trinh tiết. Các bạn nam có nhiều bạn tình thì được nhìn theo hướng tích cực là “đào hoa”, còn bạn gái thì bị cho là “lẳng lơ”. Một bạn nam 19 tuổi nói: “Em chỉ mới có bạn gái được 2 tháng và chúng em chưa có quan hệ tình dục. Ở xã hội phương Tây, nếu đàn ông không bắt đầu quan hệ tình dục với bạn gái thì bạn gái ấy sẽ rời bỏ anh ta”.

3011
20-10-2009, 05:30 PM
Tại sao bị sốt xuất huyết?
Sốt xuất huyết là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do siêu vi trùng tên là Dengue (Đăn-gơ) gây ra. Bệnh lây do muỗi vằn hút máu truyền siêu vi trùng từ trẻ bệnh sang trẻ lành.
Muỗi vằn có nhiều khoang trắng ở lưng và chân, thường sống ở trong nhà, đậu trong những chỗ tối như gầm bàn, gầm giường, hốc tủ. Quần áo treo trên vách…, chích hút máu người cả ngày lẫn đêm.
Vì sao sốt xuất huyết nguy hiểm?
Xuất huyết xảy ra quanh năm, đặc biệt vào mùa mưa, có thể bộc phát thành dịch đe doạ sinh mạng trẻ em và sức khỏe cộng đồng.
Bệnh có thể trở nặng bất ngờ, gây tử vong cao.
Bệnh chưa có thuốc trị đặc hiệu và thuốc phòng ngừa.
Ai dễ bị sốt xuất huyết?
Trẻ em từ 1-15 tuổi đều có thể bị bệnh, nhiều nhất là lứa tuổi 3-8 tuổi. Đôi khi người lớn cũng mắc bệnh.
Làm sao biết bị sốt xuất huyết?
Khi thấy những dấu hiệu sau:
Sốt (nóng) cao 39-400 , đột ngột, liên tục trong 3-4 ngày liền.
Xuất huyết (chảy máu) thường ở nhiều dạng:
Xuất huyết dưới da: Làm lộ trên mặt da những chấm nhỏ màu đỏ, đốm đỏ hay vết bầm. Phân biệt với vết muỗi cắn bằng cách căng da chung quanh chấm đỏ, nếu chúng vẫn còn là do xuất huyết, ngược lại nếu biến mất thì đó là vết muỗi cắn. Chảy máu cam, chảy máu chân răng, nướu răng.
Ói hoặc đi cầu ra máu (nước ói màu nâu, phân lợn cợn như bã cà phê hoặc đỏ tươi). Đau bụng: Sốc là dấu hiệu nặng, thường xuất hiện từ ngày thứ 3-6 của bệnh, đặc biệt lúc trẻ đang sốt cao chuyển sang hết sốt và có thể xảy ra kể cả khi không thấy rõ dấu hiệu xuất huyết. Dấu hiệu sốc gồm:
Trẻ mệt, li bì hoặc vật vã , Chân tay lạnh , Tiểu ít , Có thể kèm theo ói hoặc đi cầu ra máu.
Lưu ý: Không phải tất cả trẻ bị sốt xuất huyết đều bị sốc. Tuy nhiên nên thận trọng theo dõi tất cả trẻ đang bị nghi ngờ sốt xuất huyết để kip thời phát hiện những dấu hiệu nguy hiểm kể trên.
Làm gì khi nghi ngờ bị sốt xuất huyết?
Đưa trẻ đi khám bệnh ngay. Nếu trường hợp nhẹ, có thể chăm sóc tại nhà như sau: Cho trẻ nghỉ ngơi, tránh chạy nhảy.
Cho ăn nhẹ: cháo, súp, sữa…
Cho uống nhiều nước hơn bình thường, có thể dùng nước chín để nguội, nước Oresol (nước biển khô, cách pha: 1 gói pha vào 1 lít nước, uống 100-150ml nước/kg cân nặng/ngày), nước cam vắt, nước chanh đường…
Hạ sốt với thuốc Paracetamol, lau nước ấm khi sốt cao.
Không cho trẻ uống Aspirin (vì gây thêm xuất huyết), không cắt lễ hay cạo gió, không quấn kín hoặc mặc áo nhiều khi trẻ đang sốt, không cữ ăn, không nhịn uống. Theo dõi bệnh và mang ngay đến bệnh viện khi thấy có các dấu hiệu trở nặng bất ngờ:
Trẻ mệt nhiều hơn, vẻ âu lo bứt rứt, li bì hoặc vật vã
Tay chân lạnh, đau bụng nhiều hơn
Ói nhiều, da đổi màu bầm, môi tím lại.
Cách phòng bệnh sốt xuất huyết?
Cho trẻ mặc quần áo dài tay, ngủ mùng cả ban đêm lẫn ban ngày. Không để trẻ nơi thiếu ánh sáng, ẩm thấp để tránh muỗi chích (đốt).
Thoa thuốc chống muỗi lên những vùng da lộ ra ngoài để bảo vệ trẻ mọi lúc, cả ngày lẫn đêm. Đậy kín lu, vại, hồ, bể chứa nước, không tạo nơi cho muỗi đẻ và hàng tuần nên cọ rửa với bàn chải để trứng muỗi rơi ra; thả cá 7 màu diệt lăng quăng (bọ gậy). Dọn dẹp nhà cửa ngăn nắp, sạch thoáng, không treo quần áo làm chỗ cho muối trú đậu, loại bỏ các vật chứa nước đọng (gáo dừa, lon, đồ hộp, ly, chén, chai lọ bể, vỏ xe…), thay nước bình bông mỗi ngày, đổ dầu hôi hoặc pha nhiều muối vào chén nước chống kiến chân tủ thức ăn để triệt nơi sinh sản của muỗi. Có thể dùng thuốc diệt muỗi hoặc nhang trừ muỗi.

3011
20-10-2009, 05:32 PM
Đây là bệnh nhiễm trùng cấp tính hệ thần kinh trung ương do virus viêm não Nhật Bản gây ra. Bệnh có diễn biến nặng, nguy cơ tử vong và di chứng cao.
Virus được truyền sang người do bị muỗi đốt. Loại muỗi mang vai trò này có tên là culex, muỗi đốt vật chủ mang mầm bệnh, sau đó đốt sang người, thực hiện vai trò truyền bệnh. Muỗi culex ưa hoạt động trong và ngoài nhà, hút máu về đêm 18-22 giờ, sau đó giảm dần rồi ngưng hoạt động vào khoảng 8 giờ sáng. Vật chủ mang mầm bệnh là lợn và một số loài chim.
Ở Việt Nam có hai nhóm chim có khả năng truyền bệnh. Một là các loài chim sống trong làng mạc, lũy tre, trên cây ăn quả như sẻ, chích chòe... Hai là các loài kiếm ăn ngoài đồng, ít vào làng như cò, sáo, quạ... Do vậy, vào mùa có nhiều quả chín, tần suất bệnh cũng tăng lên. Mùa viêm não thường là hè, phổ biến từ tháng 5 đến tháng 7.
Trẻ em hay bị viêm não Nhật Bản B nhưng tỷ lệ mắc theo lứa tuổi thay đổi từ năm này sang năm khác. Trong phần lớn trong các vụ dịch, bé trai mắc bệnh nhiều hơn bé gái, thường ở lứa tuổi 2-7.
Đặc điểm biểu hiện của bệnh: Sốt xuất hiện đột ngột và thường là sốt cao từ 39 đến 40 độ C, kèm theo đau đầu (trẻ còn bú thường có những cơn khóc thét), nôn hoặc buồn nôn. Bệnh nhân có thể rối loạn tri giác các mức (ngủ gà, li bì, hoặc hôn mê); co giật (thường là toàn thân). Một số dấu hiệu hiếm gặp hơn hoặc xuất hiện muộn gồm liệt, tăng trương lực cơ, rối loạn hô hấp, bí tiểu tiện.
Bệnh viêm não Nhật Bản không có thuốc chữa đặc hiệu, điều trị triệu chứng là chủ yếu. Để ngăn chặn nguy cơ tử vong, giảm thiểu biến chứng, di chứng, cần điều trị kịp thời, tích cực tại các cơ sở y tế. Muốn vậy, các bà mẹ cần cảnh giác và theo dõi cẩn thận khi thấy con có biểu hiện sốt để kịp đưa các cháu đến các cơ sở y tế. Bệnh nhân sẽ được điều trị hạ sốt, chống co giật, chống suy thở, chống phù não, bồi phụ nước điện giải và chăm sóc dinh dưỡng. Biện pháp tích cực nhất để phòng bệnh là tiêm vacxin viêm não Nhật Bản đúng và đầy đủ. Vacxin viêm não được khuyến nghị tiêm cho trẻ từ 12 tháng tuổi trở lên, nhắc lại sau một tuần, tiêm mũi thứ 3 sau một năm và có thể tiêm nhắc lại sau 3-4 năm cho đến 15 tuổi.

3011
21-10-2009, 12:48 PM
Việc chẩn đoán UTBT dạng tế bào biểu mô giai đoạn sớm dựa trên: siêu âm qua ngã âm đạo, định lượng CA 125/huyết thanh.
- Với máy siêu âm 3-D có độ phân giải cao, với đầu dò chuyên dùng và bác sĩ siêu âm có tay nghề, kết quả siêu âm BT qua ngã âm đạo có thể đạt độ tin cậy chẩn đoán 80%.
- Nếu kết quả định lượng CA 125 > hoặc bằng 35U/mL: nghĩ đến UTBT. Lưu ý: chỉ có khoảng 50 - 60% UTBT giai đoạn I, II có CA 125 tăng.
Cần nhớ: việc xác định UTBT vẫn đặt cơ sở chủ yếu vào kết quả giải phẫu bệnh mẫu mô bệnh của khối u BT có được khi thực hiện nội soi ổ bụng, sinh thiết.
Việc tầm soát UTBT chỉ được áp dụng hiện nay với phụ nữ trên 40 tuổi, thuộc nhóm nguy cơ cao: có tiền sử gia đình nhiều người thân bị UT vú, UT BT; có gen BRCA 1, BRCA 2 đột biến, hoặc có tiền sử gia đình mắc hội chứng Lynch II (UT đại tràng không đa pô-líp di truyền).
CA 125 có phải là dấu ấn Ung Thư Buồng Trứng?
CA 125 (Cancer Antigen 125) là protein được tìm thấy trên bề mặt tế bào của 80% các UTBT dạng tế bào biểu mô, với số nồng độ cao rất nhiều hơn bình thường. CA 125 cũng có hiện diện trong huyết thanh của một số UT khác như: UT nội mạc tử cung, UT tụy, UT tai vòi, UT đại tràng…

Ngoài ra, một số tình huống bệnh lý khác ở phụ nữ cũng có nồng độ CA 125 tăng như: bệnh lạc nội mạc tử cung, viêm tụy, mang thai, viêm nhiễm vùng chậu.
Ngày nay, vai trò của CA 125 trong UTBT dạng biểu mô được xác định:
- Có giá trị chẩn đoán xác định UTBT: khi CA 125 tăng cao 3 - 4 lần trị số bình thường (CA 125: 35U/mL) kết hợp với kết quả siêu âm ngã âm đạo, CT-scan bụng và ở phụ nữ sau mãn kinh bị căng chướng bụng dưới rốn kéo dài.
- Có giá trị trong việc theo dõi điều trị: nồng độ CA 125 trong huyết thanh người bệnh UTBT đã phẫu trị, hóa trị sẽ giảm, trở về trị số bình thường khi kết quả điều trị tốt. Nếu CA 125 tăng trở lại, và liên tục tăng thêm theo thời gian, có thể là dấu hiệu bệnh UTBT không đáp ứng điều trị hoặc có tái phát. Người bệnh cần được thăm khám lại và siêu âm bụng, chụp scan bụng kiểm tra.

3011
21-10-2009, 12:57 PM
GS Phạm Thụy Liên, nguyên Giám đốc Bệnh viện K, Chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam cho biết, do nhận thức thấp, người dân, thậm chí cả những người có tri thức cũng nghĩ rằng, mắc ung thư coi như nhận án tử hình.
Phần lớn bệnh nhân phát hiện bệnh khi đã muộn, di căn, khó có khả năng sống sót, dù được điều trị tích cực tại bệnh viện bằng các phương tiện kỹ thuật hiện đại, khiến người mắc bệnh ung thư mất hết niềm tin vào khoa học.
Vì lý do đó, họ đi tìm một chỗ dựa tinh thần, và những ông lang có cách chữa bệnh kỳ bí, mang màu sắc tâm linh dễ khiến họ tin theo. Người bệnh chỉ còn biết trông cậy vào một sự thần kỳ để giúp họ vượt qua cơn khủng hoảng, tuyệt vọng. Đó chính là nguyên nhân mà những ông lang vườn có thể vẫn có “đất” hành nghề.
GS-TSKH Lê Thế Trung, nguyên Giám đốc Bệnh viện 103, Chủ tịch Hội Ung thư Hà Nội, là người bỏ nhiều thời gian nghiên cứu những bài thuốc đông y chữa trị ung thư. Theo GS Trung, đúng là một số bài thuốc đông y có khả năng hỗ trợ điều trị bệnh ung thư, và ông nhấn mạnh chỉ là hỗ trợ điều trị, chứ đông y không thể chữa khỏi hẳn được căn bệnh này như phần lớn những ông lang vẫn quảng cáo.
Những bệnh nhân đang điều trị ung thư bằng phương pháp xạ trị, hóa trị, hoặc uống thuốc Tây, cảm thấy cơ thể lúc nào cũng mệt mỏi, khó thở, vì lượng hồng cầu sụt giảm rất nhiều. Trong khi đó, “bài thuốc trị ung thư” của các ông lang chủ yếu là thuốc mát, bổ, có tác dụng bồi bổ sức khỏe, thậm chí tăng lượng hồng cầu.
Vì vậy, người mắc bệnh ung thư, không điều trị ở bệnh viện nữa mà đi uống thuốc “mát, bổ” của các ông lang, sẽ thấy cơ thể dễ chịu tạm thời. Điều nghiêm trọng là, do thiếu hiểu biết nên bệnh nhân tưởng rằng thuốc của những ông lang này là “thần dược”, nếu uống đều đặn sẽ khỏi bệnh.
Niềm tin của người bệnh trong hoàn cảnh đó cũng có tác dụng khiến người bệnh phấn chấn hơn. Thế nên, các ông lang thường khẳng định bệnh nào họ cũng chữa được và chữa cho ai cũng khỏi, chỉ có điều người bệnh phải có niềm tin tuyệt đối vào thuốc và phác đồ điều trị của họ.
Nguy hại ở chỗ, lời đồn về những ông lang vườn lan truyền rất nhanh, khiến người bệnh nhìn nhận họ như “thần y”, có khả năng chữa bách bệnh. Niềm tin ấy khiến người bệnh không đến bệnh viện điều trị nữa mà cứ theo đuổi phương pháp điều trị của lang vườn, để rồi tiền mất, tật mang.
Khi nhận ra những bài thuốc của lang vườn không thể chữa trị được bệnh, gia đình họ mới đưa đến bệnh viện thì đã muộn, khối u đã di căn đi khắp cơ thể, hạch đã nổi khắp nơi. Khi đó, dù điều trị bằng phương tiện hiện đại, cũng không có nhiều hiệu quả.
Bệnh ung thư không nguy hiểm nếu phát hiện sớm
GS Phạm Thụy Liên cho biết, nền y tế nước ta chưa coi trọng việc phòng bệnh hơn chữa bệnh, do đó, phần lớn bệnh nhân ung thư khi phát hiện đều đã ở giai đoạn cuối, nên dù có điều trị vẫn khó có thể cứu được người bệnh.
Theo GS Liên, có tới 200 loại ung thư được phát hiện. Trong đó, khó chữa nhất là ung thư tụy, máu, phổi, gan, thực quản, phế quản… Phần lớn các loại ung thư đều có thể chữa được, thậm chí chữa khỏi hẳn nếu được phát hiện sớm, bệnh chưa di căn. Như vậy, bị ung thư chưa phải đã hết.
Ông Liên ví dụ, như người Nhật được tuyên truyền đầy đủ về bệnh ung thư và mỗi người dân đều quan tâm tìm hiểu, do đó, họ phát hiện bệnh ung thư rất sớm.
Ở Nhật, 70% số người mắc bệnh ung thư được cứu sống, nhưng không phải vì họ có hệ thống điều trị bệnh ung thư hiện đại nhất thế giới, mà là họ đặt việc chẩn đoán bệnh, khám lâm sàng lên vị trí quan trọng nhất.
Ung thư dạ dày rất nguy hiểm, thế nhưng, người Nhật đã cứu sống 50% số bệnh nhân mắc ung thư dạ dày, do phát hiện sớm và mổ nội soi. Còn ở nước ta, nói ra thật bi kịch, phần lớn bệnh nhân ung thư dạ dày bị chết, mà nguyên nhân là do phát hiện muộn.
Theo GS Liên, nếu mọi người thấy đau ở dạ dày, đi chẩn đoán bằng x-quang, nội soi sẽ phát hiện dễ dàng. Với phương tiện ở bệnh viện huyện cũng phát hiện được và một bác sĩ phẫu thuật giỏi có thể mổ và cắt phéng khối u, xử lý dứt điểm căn bệnh này.
Bản thân GS Liên cũng bị ung thư vòm họng. Ông kể, hồi đang ngồi họp ở Hội Ung thư, ông thấy cộm ở họng, liền sờ nắn và phát hiện ra cục u bằng hạt ngô. Ông liền bảo với mọi người rằng, có lẽ mình bị ung thư rồi. Mấy giáo sư, tiến sĩ cười tưởng ông nói đùa.
Chỉ mất 15 phút chiếu chụp bằng máy x-quang, các bác sĩ đã phải công nhận ông bị ung thư vòm họng. Mặc dù ung thư đã di căn, nhưng do mới di căn nên ông lập tức được tiến hành phẫu thuật, rồi xạ trị trong vòng một tháng. Do phát hiện sớm, điều trị kịp thời nên 15 năm nay ông vẫn sống khỏe mạnh và hiện tại ông đã 86 tuổi.
Từ câu chuyện của bản thân GS Liên có thể thấy rõ, căn bệnh ung thư sẽ không phải quá nguy hiểm nếu phát hiện sớm. Chẳng hạn, bệnh ung thư da, nếu để ý một chút thì rất dễ phát hiện và nếu phát hiện sớm thì chỉ cần xạ trị vài lần là khỏi.
Ung thư vú dễ phát hiện nhất. Chỉ cần thấy có khối u lạ là phải đi khám và phẫu thuật ngay lập tức. Nếu phát hiện sớm, phẫu thuật kịp thời, người bệnh sẽ khỏe mạnh bình thường.
Thế nhưng, thật buồn khi hàng trăm bệnh nhân ung thư vú lại tìm lên Vĩnh Phúc nhờ ông lang Phùng Đắc Chung chữa trị bằng… kim nhọn và đắp thuốc. Do nhận thức thấp nên mỗi năm, ở nước ta, bệnh ung thư vú đã cướp đi sinh mạng của rất nhiều phụ nữ

3011
21-10-2009, 01:09 PM
Nuốt khó là tình trạng cần nhiều thời gian và nỗ lực để đưa thức ăn nước uống từ miệng xuống dạ dày, đôi khi kèm đau, cókhi không nuốt được. Ước tính có tới 35% người trên 50 tuổi có cảm giác nuốt khó ít nhất một lần trong tuần.
Triệu chứng này có thể gặp trong các bệnh lý như:
- Tâm vị không giãn: Cơ thắt ở đoạn dưới thực quản không giãn đúng cách để thức ăn vào dạ dày, bệnh thường kèm theo yếu cơ thành thực quản.
- Hẹp thực quản do sẹo: Thường do biến chứng của bệnh lý trào ngược dạ dày-thực quản.
- Rối loạn co bóp thực quản: Thường xuất hiện từng đợt và nặng dần theo thời gian.
- Các khối u thực quản, ung thư thực quản: Thường nuốt khó tăng dần, lúc đầu nuốt khó với thức ăn, sau với nước uống, thậm chí nuốt nước bọt cũng thấy khó.
- Có các túi thừa ở hầu, thực quản, khiến thức ăn có thể đọng lại.
- Nuốt khó do nguyên nhân miệng hầu: Chủ yếu là các rối loạn và thương tổn về thần kinh như bệnh parkinson, đột quỵ não hoặc các thương tổn vùng cột sống...
Nuốt khó nếu không được tìm căn nguyên để điều trị sẽ gây ra các biến chứng như suy dinh dưỡng, rối loạn nước và điện giải do bệnh nhân không ăn uống được. Tuy nhiên, điều quan trọng là nếu coi thường triệu chứng nuốt khó, có thể bạn không biết minh đang mắc bệnh nguy hiểm để chữa trị kịp thời.

huyson16
21-10-2009, 02:36 PM
Bác ơi.
Em có bệnh đi lên thang máy là 1/2 đầu cứ ong ong.. mất thăng bằng.
Đã uống hoạt huyết dưỡng não.. nhưng cũng chỉ bớt chút ít.
Bác xem có cách nào không.. bốc cho em mấy thang thuốc với.

Cám ơn bác nhiều.

3011
23-10-2009, 11:48 AM
Bác ơi.
Em có bệnh đi lên thang máy là 1/2 đầu cứ ong ong.. mất thăng bằng.
Đã uống hoạt huyết dưỡng não.. nhưng cũng chỉ bớt chút ít.
Bác xem có cách nào không.. bốc cho em mấy thang thuốc với.



- Thứ nhất là chóng mặt tư thế lành tính: Đây là triệu chứng hay gặp nhất. Cơn chóng mặt thường ngắn, xảy ra khi thay đổi tư thế đầu, tư thế nằm, ngồi; thường mắc phải sau chấn thương đầu, viêm mê đạo (thuộc vùng ốc tai) do siêu vi, tắc mạch máu ở vùng sau cổ.
- Thứ hai là bệnh Menière, biểu hiện chóng mặt nặng kèm theo nôn ói kéo dài, ù tai, nặng tai, giảm thính lực một hoặc cả hai bên tai (nếu bị tái phát nhiều lần).
- Thứ ba là chóng mặt sau chấn thương sọ não, kèm nặng đầu, khó tập trung, choáng váng, hồi hộp, sợ ánh sáng...
- Ngoài ra, còn có các dạng bệnh tiền đình ngoại biên khác như: viêm tai xương chũm mạn tính, xơ cứng tai, các loại thuốc gây tổn thương tiền đình - ốc tai như: một vài loại thuốc kháng sinh, thuốc lợi tiểu, thuốc chống ung thư, thuốc giảm đau, rượu, xạ trị...
Điều trị: Thuốc chỉ giúp giải quyết tức thời những cơn chóng mặt cấp. Về lâu dài, bệnh nhân cần chủ động phòng ngừa bằng cách luyện tập thường xuyên các động tác sau:
Tập đầu và cổ: Ngửa đầu ra sau, cúi đầu xuống, nghiêng đầu sang phải và sang trái hết cỡ. Quay đầu tròn chữ O bên phải rồi bên trái (khoảng 10-15 lần). Nằm ngửa trên giường, để một tay ở đỉnh đầu, một tay dưới cằm, thật mềm cổ, nhẹ nhàng vặn mạnh cằm về bên trái, rồi về bên phải, có tiếng kêu răng rắc là tốt. Sau đó, ***g các ngón tay với nhau để vào sau gáy, kéo mạnh gập cằm về phía ngực (khoảng 10 lần).
Xoa mặt, mắt, tay: Hai bàn tay xiết mạnh vào nhau cho nóng, xoa đều vào mặt, hốc mắt và tai để tác động vào các nút thần kinh tai, mắt, mặt (khoảng 10 lần).
Tập thể dục như bình thường nhưng phải làm được 3 động tác cơ bản sau đây: Chạy đi chạy lại nhẹ nhàng 8-10 phút. Đứng hơi dạng hai chân, cúi người xuống, đầu ngón tay chạm vào ngón chân cái, vung hai tay và quay mặt về bên trái rồi về bên phải hết cỡ (nhớ là quay cả mặt). Làm 10 lần.
Rối loạn tiền đình là một hội chứng mà nguyên nhân do khá nhiều bệnh gây ra. Thông thường với người lớn tuổi thì khả năng rối loạn tiền đình do rối loạn tuần hoàn não như hẹp động mạch cảnh, xơ vữa động mạch, cao huyết áp gây ra. Một nguyên nhân nữa cũng hay gặp ở tuổi này là sự xuất hiện của các khối u trong hộp sọ như u não, u tiểu não, u dây thần kinh số 8...

3011
23-10-2009, 11:52 AM
Những người trên 70 hoặc trên 50 tuổi có tiền sử bị tiểu đường hoặc hút thuốc, đều có thể xếp vào đối tượng nguy cơ bị bệnh lý động mạch ngoại vi (BLÐMNV) (Peripheral Arterial Disease - PAD). Căn bệnh này có thể dẫn tới đau chân nghiêm trọng, ảnh hưởng đến việc đi lại. Nhưng điều quan trọng hơn, sẽ làm tăng nhiều lần nguy cơ xảy ra những tai biến ở não và ở tim (Bệnh nhân BLÐMNV dễ bị đột quỵ hoặc những cơn đau tim hơn). Như vậy vấn đề chẩn đoán sớm bệnh là việc rất quan trọng.
Bệnh thường chỉ xảy ra ở những người có tuổi (sau 50 tuổi), cũng giống như bệnh cao huyết áp.
Hiện nay ở Mỹ, người ta bắt đầu chú ý tới BLÐMNV chính vì tính cách "thông thường" của nó. Ước tính chỉ riêng ở Mỹ hiện đã có tới 8-12 triệu người bị BLÐMNV. Bệnh xuất hiện khi động mạch bị mỡ đóng mảng, gây tắc nghẽn không dẫn đủ máu tới chân - nói chung là xuống chi dưới.
Trước nay, người ta thường chỉ nói tới động mạch vành tim (nhồi máu cơ tim), hay các động mạch đưa máu lên não (tai biến mạch máu não). Nhưng giờ đây, chúng ta nên lưu ý tới các triệu chứng đau chân ở người lớn tuổi, ảnh hưởng không tốt tới việc đi lại và sinh hoạt hàng ngày.
TRIỆU CHỨNG BỆNH LÝ ĐỘNG MẠCH NGOẠI VI(BLÐMNV )
Theo cách mô tả kinh điển, khi bị BLÐMNV, bệnh nhân phải đi cà nhắc (claudication) vì đau cơ bắp chi dưới. Nhiều khi chứng đau biểu hiện dưới dạng vọp bẻ (cramping), nhưng đôi khi chỉ có cảm giác mỏi (fatigue) hoặc đau nhức (aching), tê dại (numbness). Vị trí các triệu chứng nói trên xuất hiện thường nhất là ở bắp chuối, nhưng cũng có thể ở cơ bắp đùi (thigh) hoặc mông (buttock). Các khớp không có triệu chứng gì.
Ðiều này rất đáng lưu ý đối với người lớn tuổi bỗng dưng ít đi lại, những không phải vì đau khớp.
LÀM THẾ NÀO ÐỂ CHẨN ÐOÁN BLÐMNV?
Ngoài các triệu chứng lâm sàng kể trên, chỉ cần đến bác sĩ đo huyết áp, so sánh huyết áp chi trên với huyết áp chi dưới là có thể xác định được vấn đề.
Trước nay, chúng ta thường chỉ quen đo huyết áp ở cánh tay, nhưng hiện nay đã có thể tự đo huyết áp ở cổ tay, thậm chí ở ngón trỏ, miễn là đặt băng thắt ở ngang tầm mức tim. Với BLÐMNV, người ta chỉ cần đo thêm huyết áp ở mắt cá chân là có thể chẩn đoán được bệnh, vì định nghĩa chuẩn xác (standard definition) của BLÐMNV là có một chỉ số (áp huyết) mắt cá chân - cánh tay bất thường (abnormal value of the ankle-brachial index). Chỉ số mắt cá chân - cánh tay (ankle-brachial index = ABI) là thử nghiệm được thực hiện với một ống nghe điện tử (electronic stethoscope) và một băng thắt đo huyết áp thông thường ở phòng khám. Thử nghiệm tiến hành đo huyết áp ở mắt cá chân và cánh tay, do đó bác sĩ có thể dễ dàng so sánh huyết áp ở hai vị trí này. Khi nhận thấy huyết áp ở mắt cá chân thấp hơn ở cánh tay, có nghĩa là động mạch giữa tim và chi dưới bị tắc nghẽn. Tức là có bệnh lý động mạch ngoại vi.
Hiện nay đã có nhiều phương tiện "hiện đại" để chẩn đoán bệnh tim mạch, tuy nhiên phí tổn thực hiện các xét nghiệm này cũng rất cao. Chẳng hạn với máy Doppler, người ta có thể vừa nghe vừa nhìn thấy hình ảnh tim đập. Trong khi đo huyết áp lại rất dễ dàng và đơn giản, không tốn kém, chỉ khoảng 10 phút là có kết quả ngay; Lại không gây biến chứng, không có tác dụng phụ, không đau!
CÁC XÉT NGHIỆM MÁU KHÁC:
Không cần thiết cho việc chẩn đoán bệnh mà là để "kiểm tra tình trạng sức khỏe tổng quát". Những người ở tuổi này, nhất là nếu có tiền sử tiểu đường, cần kiểm tra định kỳ đường huyết (blood sugar), hoặc có ý nghĩa hơn nữa là hemoglobin A1c, đo cholesterol trong máu và một số xét nghiệm máu khác căn cứ vào tình trạng sức khỏe tổng quát như: creatinine, huyết sắc tố v.v...

3011
05-11-2009, 04:02 PM
Khám lâm sàng
Là phương pháp lâu đời, được áp dụng rộng rãi nhất. Thầy thuốc cần phải biết rõ những triệu chứng ban đầu chính yếu của các loại ung thư khác nhau. Người thầy thuốc đầu tiên khám bệnh là người có trách nhiệm nặng nề trong việc chẩn đoán sớm để bệnh nhân có nhiều hy vọng được chữa khỏi.Cần khai thác tỉ mỉ tiền sử của bệnh nhân.
Tiền sử gia đình mắc một số bệnh ung thư như ung thư tuyến giáp, đại trực tràng, ung thư vú, buồng trứng...
Tiền sử xã hội là quan trọng. Tỷ lệ ung thư cổ tử cung cao hơn ở những nhóm quần thể mà điều kiện kinh tế xã hội thấp.
Tiền sử hôn nhân và giới tính cũng quan trọng. Số lượng sinh đẻ và quá trình cho con bú có một số ảnh hưởng đến tỷ lệ ung thư vú, cũng như sinh hoạt tình dục sớm có liên quan đến tỷ lệ tăng cao ung thư cổ tử cung.
Những tập quán cá nhân như hút thuốc lá làm tăng tỷ lệ ung thư phế quản, nhai thuốc hay hút thuốc tẩu làm tăng tỷ lệ ung thư miệng.
Cần lưu ý đến những triệu chứng báo động sau:
Thay đổi thói quen ruột, bàng quang như tiêu chảy kéo dài không rõ nguyên nhân, đái dắt, đái khó kéo dài...
Vết lở loét kéo dài không khỏi với các thuốc điều trị thông thường.
Chảy máu, tiết dịch bất thường.
Một u ở vú hoặc ở bất kỳ nơi nào của cơ thể, có khi chỉ là chỗ dày lên.
Khó nuốt, rối loạn tiêu hóa kéo dài.
Nốt ruồi thay đổi kích thước, màu sắc, nhất là chảy máu.
Ho dai dẳng, khàn tiếng kéo dài.
Cận lâm sàng
Chụp Xquang được chỉ định cho những bệnh nhân có triệu chứng ung thư phổi hay những ung thư ở các vị trí khác có thể di căn vào phổi. Chụp Xquang kết hợp chất cảm quan để phát hiện ung thư dạ dày, đại tràng. Chụp vú có hệ thống có kết quả tốt hơn trong phát hiện sớm ung thư vú. Chụp Xquang có kết quả tốt trong phát hiện sớm ung thư vú. Chụp Xquang xương có thể phát hiện được các ung thư xương, nhất là đối với các thanh thiếu niên có triệu chứng đau xương khớp chưa rõ nguyên nhân.
Chụp nhiệt chủ yếu dùng cho các khối u dưới da như ung thư vú, ung thư hắc tố.
Chụp nhấp nháy với các đồng vị phóng xạ được sử dụng để chẩn đoán ung thư, phát hiện các di căn xương, gan, xác định các nhân lạnh ở giáp trạng...
Siêu âm được áp dụng nhiều để phát hiện các tổn thương u ở sâu hay trong các cơ quan nội tạng.
Chụp cắt lớp vi tính cho phép chụp hàng loạt hình rất rõ và chính xác theo chiều ngang của cơ thể (như các khoanh dồi) ở mọi mức cao thấp, để trình bày hình khối ba chiều của các cơ quan trong cơ thể và tránh được sự chồng chất các hình ảnh. Chụp cắt lớp vi tính có khả năng phát hiện các khối u đường kính xấp xỉ 1cm trong nhiều cơ quan, kể cả các cơ quan nằm sâu trong cơ thể khó với tới như: não, thận và tụy tạng.
Chụp cộng hưởng từ là một phương pháp làm hiện hình mới nhất có thể cho một hình cắt ngang ở bất cứ một bình diện nào chứ không phải chỉ ở một diện trục. Chụp cộng hưởng từ cho phép phát hiện sự khác biệt tín hiệu giữa mô lành và mô bệnh nhờ thành phần nước trong mô không giống nhau. Cộng hưởng từ hạt nhân có thể cho phép phân biệt được một số tổn thương tùy theo mức độ cộng hưởng từ trường của hạt nhân.
Chụp hình qua kháng thể đơn dòng: Kháng thể đơn dòng là loại kháng thể chỉ phản ứng đặc hiệu với riêng một loại kháng nguyên nhất định. Khi được tiêm vào cơ thể, kháng thể sẽ tìm đúng đối tượng là các kháng nguyên đặc hiệu nằm trên bề mặt các tế bào ung thư, lượng đồng vị phóng xạ gắn trên kháng thể đơn dòng sẽ được đo bằng máy Gamma và như vậy sẽ làm hiện hình khối u với vị trí và kích thước rõ ràng.

3011
09-11-2009, 07:47 AM
Sốt Dengue xuất huyết (DXH) được phát hiện ở Việt nam từ năm 1959. Những năm đầu DXH chỉ xuất hiện ở một vài địa phương với các ổ dịch nhỏ, số người mắc bệnh ít, tỷ lệ tử vong cao. Nhưng về sau, dịch càng lan rộng, với số người mắc bệnh ngày càng nhiều. Ðỉnh cao là các năm 1983, 1987 với qui mô toàn quốc. Tỷ lệ mắc bệnh chung cho cả nước từ 41,02 (1981) đến 462,24/100.000 dân (1987). Do công tác điều trị đạt đạt được nhiều tiến bộ nên tỷ lệ tử vong giảm từ 2,7 (1983) xuống còn 0,16 (1994) /100.000 dân. Tỷ lệ mắc bệnh giữa các năm và giữa các miền dao động rất khác nhau , Tỷ lệ mắc bệnh ở miền Trung và miền Nam thường cao hơn nhiều lần so với miền Bắc. Kết quả theo dõi những năm có dịch lớn (1983, 1987, 1991) cho thấy miền Nam có 87,2% số huyện thị xuất hiện bệnh; tỷ lệ này ở miền Trung là 58,7% miền Bắc là 59,5%; Tây nguyên chỉ có 29,5%. Kết quả khảo sát những vùng này đều thấy sự hiện diện của Aedes aegypti với mật độ cao. Càng về sau, bệnh tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Trung và Nam. Năm 1995-1996, tỷ lệ mắc bệnh ở miền Nam chiếm 66-67% so với 2-3% ở miền Bắc.
DXH phát triển theo mùa rõ rệt. Tính tần số mắc trung bình hàng tháng trong 5 năm (1991-1995) cho thấy bệnh xảy ra suốt năm. Tuy nhiên, dịch thường bùng phát mạnh vào mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 10 và đỉnh cao thường vào tháng 8. Giám sát biến dộng biến động mật độ muỗi Aedes aegypti cho thấy sự tăng các ca bệnh trong mùa mưa phù hợp với sự gia tăng mật độ muỗi Aedes aegypti.
Nhóm tuổi mắc bệnh chủ yếu là trẻ em.. Nói chung tỷ lệ mắc bệnh ở nhóm trẻ dưới 15 tuổi trong cả nước là 69,8%. Tỷ lệ này ở miền Nam là頹6,7% , ở miền Trung là 71,6% , ở miền Bắc là 41,1%.
Theo dõi sự phân bố cuả các typ e virut Dengue qua các vụ dịch DXH cho thấy có sự thay dổi vai trò gây bệnh của các type virút.
Những vụ dịch xảy ra trước năm 1990-1995 chủ yếu là do virut Dengue I.
Năm 1987 type gây dịch chủ yếu là Dengue II.
Năm 1997 (đến tháng 8/97) type gây dịch chủ yếu là Dengue III.
Các nghiên cứu về trung gian truyền bệnh đã xác dịnh Aedes aegypti là vectơ chủ yếu. Loài muỗi này sống gần người, ở trong nhà. Kết quả khảo sát tại Hà nội cho biết có 64,8-83% muỗi bắt được là Aedes aegypti. Giám sát sự biến động cuả Aedes aegypti tại TP Hồ chí Minh từ 1975-1990 cho thấy có 39,42% muỗi và 96,42% muỗi và 96,42% lăng quăng là Aedes aegypti khi khảo sát trong và xung quanh nhà dân.
Muỗi Aedes aegypti hút máu chủ yếu vào buổi sáng sớm và chiều tối. Sau khi hút máu muỗi trú ẩn trong nhà. Nơi đậu nghỉ là những mắc dây vắt quần áo, chăn màn (80,54%), tỷ lệ nhỏ khác đậu ở những bình bông, mái tranh những vật dụng gia đình khác (hình 9).
Ổ chứa lăng quăng Aedes aegypti chủ yếu là các vật chứa nước sạnh như lu vại, hồ do con người tạo ra.
Ðể triển khai nhiều biện pháp phòng chống dịch, kể cả việc phun hoá chất dạng khí dung ULV cho toàn thành phố thị xã; nhưng hiệu qủa thấp, Dịch DXH vẫn xảy ra hàng năm với số lượng hàng chục ngàn người mắc. Do đó vấn đề tiếp tục nghiên cứu về DXH,những yếu tố gây dịch, vấn đề hợp tác nghiên cứu giữa các viện trong toàn quốc, giữa các nước trong khu vực với sự hợp tác và giúp đỡ của các nước, các tổ chức quốc tế là vô cùng quan trọng. Vấn đề là làm sao thu hút được sự quan tâm, ý thức trách nhiệm của cả xã hội, của các cấp chính quyền, các nghjành hữu quan, và mọi người dân trong cộng đồng đều có ý thức tự giác tham gia cải thiện môi trường, kiểm soát các vật chứa không để cho Aedes aegypti có nơi sinh sản và phát triển.

3011
11-11-2009, 12:17 PM
Hội chứng mạch vành cấp

• Việc đánh giá, theo dõi hơn 6 triệu bệnh nhân đau ngực đến khoa cấp cứu đặt ra một vấn đề to lớn đối với nền y tế của nước Mỹ, tiêu tốn hơn 12 tỷ đô la mỗi năm. Đánh giá sự nguy hiểm đe doạ tính mạng của đau ngực trong bệnh lý tim mạch bao gồm Hội chứng mạch vành cấp, bóc tách động mạch chủ, và thuyên tắc động mạch phổi. Hơn 50% được nhập viện do thay đổi điện tim và men tim và x-quang ngực, không loại trừ được hội chứng mạch vành cấp, bóc tách động mạch chủ hay thuyên tắc động mạch phổi. Các điều tra cho thấy tỉ lệ nhập viện giảm còn 2 đến 5%, tuy nhiên vẫn còn 2% bệnh nhân sau khi xuất viện còn mang bệnh lý nguy hiểm này gây tàn phế và tử vong ở Mỹ
• Hội chứng mạch vành cấp là nguyên nhân thường gặp nhất đối với đau thắt ngực ở những bệnh nhân có bệnh lý tim mạch nguy hiểm. Việc đánh giá chính xác và hiệu quả của hội chứng này là rất quan trọng, do những biến chứng của bệnh mạch vành là nguyên nhân chính gây tử vong ở Mỹ. Trong đa số các bệnh nhân, có triệu chứng nghi ngờ bệnh tim thiếu máu cục bộ ở khoa cấp cứu. Có 21% được xác nhận là không có thiếu máu cơ tim và 55% lại không có bệnh lí tim mạch. Số còn lại được chẩn đoán là đau thắt ngực, ổn định (6%) hay bệnh tim thiếu máu cục bộ cấp tính (17% gồm đau thắt ngực không ổn định 9% và nhồi máu cơ tim 8%).
• Người ta ước tính rằng có 2 – 10% bệnh nhân có Hội chứng mạch vành cấp ở khoa cấp cứu được xuất viện không hợp lí do chẩn đoán sai. Để giảm bớt tỉ lệ này, nhiều bác sĩ đã chấp nhận nhiều trường hợp nghi ngờ động mạch vành cấp tại khoa cấp cứu. Điều này làm tăng quá mức chi phí y tế đặc biệt đối với những bệnh nhân ít có nguy cơ của bệnh tim mạch căn bản.

Trung tâm đau thắt ngực là một kiểu mẫu đánh giá Hội chứng mạch vành cấp

• Để đánh giá những bệnh nhân Hội chứng mạch vành cấp có cần nhập viện hay không, trong nhiều thập kỉ qua đã nổ lực thành lập những trung tâm đau thắt ngực để đánh giá, phát hiện những bệnh nhân có nguy cơ Hội chứng mạch vành cấp. Đã có những thành công nhất định, tuy nhiên nhiều bệnh nhân không có bệnh mạch vành vẫn tiếp tục trả chi phí chẩn đoán trong khoảng 24giờ (trung bình) ở 1 trung tâm điển hình.
• Các chất markers tim mạch (CPK, tropinin) là những xét nghiệm tiêu chuẩn để chẩn đoán nhồi máu cơ tim. Tuy nhiên phải mất 6 đến 12 giờ sau chúng mới tăng và nhiều bệnh nhân thiếu máu cục bộ cơ tim không diễn tiến thành nhồi máu bị bỏ sót
• Siêu âm tim đánh giá hạn chế trong nhồi máu cơ tim, đặc biệt khi bệnh nhân đau thắt ngực thầm lặng hay đau thắt ngực ổn định. Nhiều trung tâm đau thắt ngực vào cuối những năm 90, đã dùng SPECT ở khoa cấp cứu. Đáng chú ý là, 22% đến 34% bệnh nhân có hình ảnh SPECT bình thường cuối cùng được chẩn đoán là động mạch vành cấp. Đánh giá tim mạch can thiệp bằng cách chụp Tc 99m có giá trị loại trừ bệnh rất cao, trên 99%. Tuy nhiên độ nhạy thấp.
• Những bệnh nhân đau ngực không phải do tim mạch nhưng vẫn nguy hiểm, ví dụ thuyên tắc phổi, tách động mạch chủ thì những kĩ thuật vừa nêu không có giá trị chẩn đoán. Nhằm thay thế và khắc phục nhược điểm của các phương tiện khác, MRI tỏ rõ hiệu quả không chỉ trong Hội chứng mạch vành cấp mà còn trong thuyên tắc phổi, tách động mạch chủ. Những nghiên cứu gần đây cho thấy độ nhạy 84%, độ đặc hiệu 85% trong chẩn đoán động mạch vành cấp và nhồi máu đồng thời đánh giá được chức năng tưới máu tuy nhiên MRI đòi hỏi phải có các chuyên gia kĩ thuật và cần có bác sĩ tại chỗ để chọn lọc hình ảnh, điều này làm giảm sự tiện dụng của phương pháp chẩn đoán hàng đầu này.
• Kết quả là chiến lược theo dõi bệnh đau thắt ngực với markers tim và ECG bình thường đã không phân loại đúng yếu tố nguy cơ. Trong số 2,8 triệu bệnh nhân nhập viện hàng năm ở khoa cấp cứu, một số lớn không có nguy cơ Hội chứng mạch vành cấp nguyên nhân chính là do không đánh giá đúng bệnh lí và sự tiến triển của bệnh lí tim mạch.

3011
11-11-2009, 12:18 PM
Mulidetector CT (MDCT) - Một đột phá mới trong đánh giá Đau thắt ngực

• Những nghiên cứu gần đây cho thấy rằng đáng giá thang điểm (CAC – Coronary Artery Calcium) – (Calci động mạch vành) bằng MDCT (Multidetector CT) rất có hiệu quả trong chẩn đoán và phân loại yếu tố nguy cơ động mạch vành cấp ở khoa cấp cứu. Chúng cho thấy mối quan hệ mật thiết, giữa thang điểm CAC và tình trạng xơ vữa mạch vành. Nghiêm cứu đa trung tâm cho thấy trình độ nhạy cao trên 95%, độ đặc hiệu cũng cao trên 95%. Khi mạch vành không bị calci hoá hay calci hóa không đáng kể tiên lượng nguy cơ tim mạch rất thấp ở cả bệnh nhân có hay không có triệu chứng, bao gồm những bệnh nhân có triệu chứng được chụp mạch vành.
• Trong hầu hết các bệnh nhân Hội chứng mạch vành cấp (80 – 95%) hiện tượng tắc mạch vành đáng kể >70% có thể được tìm thấy bằng chụp động mạch vành (nếu tắc hẹp >70% cần phải tái tạo mạch vành hoặc đặt stent). MDCT 16 – 64 lát cắt động mạch vành gần đây cho thấy độ chính xác cao 90 – 95% trong chẩn đoán mức độ hẹp này ở bệnh nhân đau thắt ngực. Đặc biệt, khi so sánh chụp động mạch vành – mạch vành cản quang (CA – CTA) (Coronary Artery – CT Angiography). Với chụp mạch vành cản quang thông thường cho thấy rằng thang điểm CAC rất có giá trị trong đánh giá nguy cơ tắc hẹp mạch vành. Động mạch vành không calci hoá (CAC = 0) loại trừ tình trạng tắc hẹp với độ chính xác cao > 95%. Bên cạnh đó những nghiên cứu gần đây cũng cho thấy sự thống nhất giữa MDCT và siêu âm nội mạch trong đánh giá tình trạng sơ vữa mạch vành.

Chụp mạch vành CT

• Sau sự xuất hiện MDCT , CA – CTA đã trở thành một bước đột phá nhanh chóng. So với hình ảnh CT trước đây nó có thuận lợi là thời gian chụp ngắn hơn chỉ trong một nhịp nín thở (20 – 30 giây) độ phân giải cao hơn (0,5 x 0,5 x 1 mm) và quét rộng hơn nên có thể dùng rộng rãi ở các bệnh viện tại Mỹ. Hình ảnh 3 chiều cho phép quan sát được nhiều mặt sau khi đã chụp xong khiến CT trở thành công cụ tối ưu đánh giá toàn bộ tình trạng nguy hiểm của bệnh lí ***g ngực và ổ bụng.
• Với chụp động mạch CT, lòng mạch vành đoạn gần và đoạn giữa được quan sát để chẩn đoán trường hợp hẹp > 70% với độ nhạy 91%, độ đặc hiệu 84%. Quang trọng hơn nữa chụp mạch vành CT giúp phát hiện những mảng sơ vữa “mềm” không bị calci hoá trong lòng mạch vành, điều mà không thể phát hiện được khi chụp mạch vành thông thường. Chúng ta biết rằng mảng xơ vừa mềm khi vỡ ra đóng một vai trò quan trọng hơn nhiều so với tình trạng hẹp lòng mạch vành. Những nghiên cứu gần đây gợi ý rằng chụp CT qua ngã ECG có khả năng đo chức năng dung tích phổi tương đương với MRI. Ơ những bệnh nhân mạch vành cấp, chụp mạch vành CT giúp phát hiện tình trạng tưới máu bất thường, đặc biệt là nhồi máu cơ tim cấp.
• Tóm lại, chụp mạch vành CT đánh giá cả lòng mạch vành lẫn tình trạng calci hoá mãng xơ vữa, tưới máu cơ tim và chức năng thất trong Hội chứng mạch vành cấp, đồng thời đánh giá bệnh lí tim mạch khác nhau như bóc tách động mạch chủ và thuyên tắc phổi ở những bệnh nhân đau ngực. Trong thực hành lâm sàng tốc độ hiệu quả và khả năng tầm soát rộng của chụp mạch vành CT trở thành phương pháp lựa chọn trong cấp cứu. Đồng thời, để theo dõi bệnh nhân đau thắt ngực tại khoa cấp cứu.

Thang điểm: CAC cách dùng trong khoa cấp cứu

• Bốn nghiên cứu lớn đánh giá việc dùng thang điểm CAC trong khoa cấp cứu. Những nghiên cứu này với sự hợp tác 569 bệnh nhân đau ngực ở khoa cấp cứu mà ECG và men tim bình thường cho độ nhạy từ 96 – 100% và độ đặc hiệu từ 97-100%. Những bệnh nhân này được đánh giá bằng nhiều phương pháp khác nhau bao gồm chụp mạch vành, test gắng sức, chụp mạch vành gắng sức, siêu âm tim. Những bệnh nhân có hai nhóm xét nghiệm men tim âm tính.
• Georgiou và cộng sự dùng phương pháp CT đối với 192 bệnh nhân đau ngực ở khoa cấp cứu và theo dõi trong khoảng 50 ± 10 tháng. Trong đó, 58 bệnh nhân (38%) sau đó được chẩn đóan là có bệnh tim, có mối liên hệ chặt chẽ với thang điểm CAC. Độ nhạy và độ đặc hiệu là 97 – 99%, quan trọng là những bệnh nhân có CAC = 0 thì 0,6% là có bệnh tim mạch.

Chụp mạch vành MDCT

• Việc đánh giá giải phẫu học mạch vành bằng phương pháp không xâm lấn CA – CTA nhanh và chính xác. Một vài nghiên cứu gần đây với MDCT (16 lát cắt) dùng chẩn đoán tổn thương mạch vành nặng (hẹp từ 50 – 70%) có độ nhạy 92 – 95%, độ đặc hiệu 86 – 95%. Những cải tiến gần đây về độ phân giải cho phép đánh giá tốt hơn trong 84 – 96% toàn bộ hệ mạch vành, độ đặc hiệu 97 – 98%.
• Ngoài ra một nghiên cứu trước đây cho thấy CA – CTA (16 lát cắt) chẩn đoán chính xác Hội chứng mạch vành cấp ở khoa cấp cứu. Kimura và các đồng nghiệp cho chụp CA – CTA trước khi chụp mạch vành trong 74 bệnh nhân nghi ngờ Hội chứng mạch vành cấp trong vòng 24 giờ tai khoa cấp cứu. CA – CTA xác định chính xác 56 trong 57 bệnh nhân có hẹp nặng và cũng chẩn đoán chính xác 11 trong 13 bệnh nhân không có hẹp nặng ( độ nhạy 98,2%, độ đặc hiệu 84,6%). Linda và các đồng nghiệp báo cáo độ nhạy và độ đặc hiệu 100 và 89%. Trong nghiên cứu 28 bệnh nhân dùng CA – CTA đánh giá bệnh nhân ở khoa cấp cứu trong vòng 6giờ. Trong nghiên cứu này 19/28 bệnh nhân được chẩn đoán động mạch vành cấp sau đó được chụp mạch vành. Nơi chung những nghiên cứu này cho thấy CA – CTA là một phương tiện chẩn đoán chính xác đáng tin cậy các trường hợp nghi ngờ động mạch vành cấp ở khoa cấp cứu.
• Đa số các bệnh nhân có nguy cơ Hội chứng mạch vành cấp từ thấp đến trung bình ở khoa cấp cứu (thang điểm nguy cơ thuyên tắc trong nhồi máu cơ tim £ 3) thực tế không có bệnh mạch vành. Tuy nhiên do việc đánh giá không tốt những bệnh nhân này đã được nhập viện hay nhập vào các trung tâm đau ngực và mất nhiều giờ làm xét nghiệm men tim, điện tim trước khi được chụp mạch vành gắng sức hay siêu âm tim gắng sức. Ngược lại, CA – CTA được thực hiện sớm an toàn với tốc độ chính xác cao hơn. Một trung tâm độc lập nghiên cứu 70 bệnh nhân dùng MDCT 64 lát cắt so sánh với phương pháp chụp mạch vành can thiệp cho thấy độ nhạy 95%, độ đặc hiệu 90% so với độ nhạy và độ đặc hiệu là 93%. Máy này có độ phân giải cao hơn (0,4 mm – 0,75 mm), thời gian quét ngắn hơn (12 – 15 giây và 20 – 25 giây) so với máy 16 lát cắt trước đây giúp theo dõi không chỉ bệnh mạch vành mà còn bóc tách động mạch chủ bên cạnh đó một nghiên cứu khả quan trên những bệnh nhân Hội chứng mạch vành cấp ở khoa cấp cứu có TIMI risk scores 3 cho thấy 60% có CA – CTA âm tính (không canci hoá mạch vành hay hẹp mạch vành) và hình ảnh tưới máu cơ tim, cho phép bệnh nhân xuất viện an toàn với chẩn đoán đau ngực không do nguyên nhân tim mạch. Một số nghiên cứu khác cũng cho thấy độ nhạy, độ đặc hiệu cao khi chẩn đoán mảng xơ vữa ở bệnh nhân Hội chứng mạch vành cấp khoa cấp cứu.
• Cuối cùng, một nghiên cứu gần đây của Gallagher và các cộng sự so sánh CTA mạch vành 64 lát cắt với chụp mạch vành gắng sức trong Hội chứng mạch vành cấp hay nghi ngờ bệnh mạch vành sau 30 giây. Đây là nghiên cứu tiền cứu chẩn đoán sự tưới máu cơ tim và dùng MDCT ở bệnh nhân có nguy cơ thấp. Bệnh lí mục tiêu là Hội chứng mạch vành cấp (hẹp > 70 %) hay nghi ngờ nhiều bệnh mạch vành trong 30 ngày. 85% bệnh nhân có nguy cơ thấp theo tiêu chuẩn Reilly/Goldman kèm ECG âm tính, tất cả những bệnh nhân này được chụp mạch vành nghĩ ngơi – gắng sức và MDCT. Mặc dầu số bệnh nhân nghiên cứu là nhỏ, nhưng nghiên cứu cũng cho thấy độ chính xác của MDCT ít nhất cũng bằng chụp mạch vành gắng sức trong chẩn đoán hay loại trừ Hội chứng mạch vành cấp ở bệnh nhân đau thắt ngực

3011
19-11-2009, 10:35 AM
tại Anh, gần 80.000 bệnh nhân bị chẩn đoán ung thư mỗi năm có thể đã tránh được thảm họa này nếu chọn lối sống lành mạnh hơn, một điều tra vừa cho biết.
Cụ thể, số liệu của Quỹ Nghiên cứu Ung thư Thế giới tìm thấy trong số 207.000 ca ung thư được phát hiện hàng năm ở Anh, 78.748 ca có thể ngăn ngừa được (không tính đến người hút thuốc lá). Con số này bao gồm 19.000 ca ung thư vú và hơn 16.000 ca ung thư ruột.
Báo cáo cũng tiết lộ rằng 39% các ca thuộc 12 loại ung thư thường gặp có thể ngăn ngừa được thông qua chế độ ăn, uống và thói quen luyện tập.
Tuy nhiên, chưa đầy một nửa trong số những người mắc ung thư nhận ra rằng việc thiếu luyện tập có thể gây bệnh, và một phần ba không nhận thức được sự nguy hiểm của chế độ ăn giàu mỡ hoặc cơ thể béo phì.
Theo các chuyên gia, ung thư ruột có thể giảm xuống nếu mọi người bớt ăn thịt đỏ và thịt đã qua chế biến công nghiệp, trong khi việc giảm rượu có thể giảm nguy cơ mắc ung thư vú.
Ăn thêm nhiều hoa quả tươi và giữ cân nặng vừa phải sẽ giảm nguy cơ ung thư dạ dày và tuyến tụy.
"Nhiều người vẫn nghĩ rằng ung thư là do số phận, nhưng báo cáo này khẳng định mọi người có thể giảm nguy cơ mắc bệnh của mình bằng cách ăn lành mạnh, vận động cơ thể và duy trì cân nặng vừa phải", giáo sư Martin Wiseman, nhà tư vấn về khoa học và y học của Quỹ Nghiên cứu Ung thư Thế giới, cho biết.
Tuy nhiên, ông cũng nhấn mạnh để tránh được ung thư phải duy trì các thói quen tốt kéo dài trong đời, chứ không phải một chốc một lát.
Dưới đây là 10 bước để ngăn ngừa ung thư của Quỹ Nghiên cứu Ung thư Thế giới:
-Giữ cơ thể mảnh mai, miễn là không bị suy dinh dưỡng.
-Tập thể dục ít nhất 30 phút mỗi ngày

-Tránh uống nước có đường và tiêu thụ các loại thực phẩm giàu năng lượng, đặc biệt là các loại đồ ăn sẵn có nhiều muối, ít xơ.

-Ăn nhiều loại rau củ, hoa quả, các loại hạt và đậu nành

-Hạn chế ăn thịt đỏ và tránh thực phẩm chế biến công nghiệp

-Giới hạn ở hai cốc đồ uống có cồn mỗi ngày đối với nam, và một đối với nữ

-Đừng sử dụng các thực phẩm bổ sung để ngăn ngừa ung thư

-Tốt nhất là các bà mẹ nên cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu.

-Sau điều trị ung thư, người bệnh nên tuân thủ các yêu cầu để ngăn ngừa bệnh.

huyson16
19-11-2009, 10:46 AM
Việt Nam có mấy bác làm về "tế bào gốc" bác 113 có thông tin đưa lên cho anh em mở rộng tầm mắt cái nhỉ.

3011
22-11-2009, 08:07 PM
Theo một nghiên cứu của Đại học Minnessota (Mỹ), aspirin có thể giúp giảm nguy cơ ung thư tụy tạng ở phụ nữ. Ở những người thường dùng thuốc này, nguy cơ ung thư thấp hơn 43% so với những người không dùng.

Trong vòng 7 năm (từ năm 1992 đến 1999), các nhà khoa học đã theo dõi việc sử dụng aspirin hoặc các sản phẩm chứa aspirin ở hàng chục nghìn phụ nữ. Những người này được chia thành 4 nhóm: không bao giờ dùng, dùng 1 lần/tuần, 2-5 lần/tuần và 6 lần trở lên/tuần. Kết quả cho thấy, những phụ nữ nào càng dùng aspirin thường xuyên thì nguy cơ ung thư tụy tạng càng thấp.

Các nghiên cứu trước đây cho thấy, aspirin cũng có tác dụng ngăn ngừa đối với nhiều dạng ung thư khác như ung thư đại tràng, phổi, tuyến tiền liệt...

3011
23-11-2009, 01:58 PM
Trong điều trị các bệnh lý não, xạ phẫu bằng hệ thống Leksell Gamma Knife là một phương pháp tiên tiến nhất, bằng cách hội tụ hơn 200 nguồn bức xạ nhỏ tạo thành một năng lượng cực cao để tiêu hủy dần dần các sang thương trong não mà không cần phẫu thuật. Khối sang thương sẽ bị tiêu hủy dần và biến mất theo thời gian. Do hội tụ từ các nguồn năng lượng có bức xạ nhỏ nên bệnh nhân cảm thấy rất bình thường sau điều trị và có thể tham gia công việc ngay ngày hôm sau, tránh được tâm lý lo lắng quá mức do bệnh tật và do các áp lực khi phải nghĩ việc vì bệnh và phải sắp xếp thời gian để trị bệnh.

Khi điều trị các bệnh nhân chỉ cần chuẩn bị sẳn các hình ảnh chẩn đoán và cho điều trị ngoại trú, sau đó sẽ được hẹn chính xác ngày điều trị, bệnh nhân sẽ được xuất viện chỉ vài giờ sau điều trị.

Với gần 300 bệnh nhân đã được điều trị tại khoa Gamma Knife và thời gian theo dõi một năm rưỡi, các bệnh nhân này có chất lượng sống cải thiện rõ sau điều trị, các triệu chứng đau đầu, động kinh, yếu liệt dần dần được cải thiên, các khối bất thường sẽ giảm dần kích thước và trở về bình thường.

Anh Lưu Thanh V, là công nhân viên tại tỉnh KG nhập bệnh viện tỉnh vì hôn mê sâu đã được chuyển lên Bệnh viện Chợ Rẫy. Sau khi chụp cộng hưởng từ (MRI) và mạch máu não xóa nền ( DSA )phát hiện bệnh nhân bị xuất huyết trong não thất và có một búi dị dạng đường kính 2 cm ở vùng tuyến tùng là tác nhân gây xuất huyết. Vì khối dị dạng ở sâu không tiến hành phẫu thuật hở và bệnh nhân được chỉ định điều trị bằng hệ thống Leksell Gamma Knife. Bệnh nhân hồi phục dần chỉ 3 tháng sau anh có thể đi làm việc được và sau 1 năm khối dị dạng hoàn toàn tiêu biến trên hình ảnh học, bệnh nhân trở lại cuộc sống thường nhật và không có một di chúng nào.

3011
25-11-2009, 02:05 PM
Trong một bước đột phá khoa học quan trọng, các nhà nghiên cứu ở Thái Lan cho biết đã đạt được tiến bộ trong việc khai triển một loại vacxin ngừa bệnh AIDS. Một cuộc thử nghiệm kéo dài trong 6 năm với những người tình nguyện cho thấy một sự phối hợp các dược phẩm đã làm giảm được rủi ro lây nhiễm HIV.
Các nhà nghiên cứu đã sử dụng một vacxin mới kết hợp hai loại trước đây, vốn dùng riêng lẻ thì không công hiệu. Kết quả cho thấy vacxin mới giảm được gần 1/3 nguy cơ nhiễm HIV. Đây là một bước khai thông, nhưng cũng còn lâu nữa mới có vacxin cho toàn cầu.
“Kết quả nghiên cứu này là bước tiến rất quan trọng trong quá trình phát triển vacxin phòng AIDS”, Bộ trưởng Y tế Thái Lan Withaya Kaewparadai nói trong cuộc họp báo tại Bangkok. “Đây là lần đầu tiên chúng ta phát hiện ra một loại vacxin có thể phòng tránh sự lây lan của virut HIV”.
Hơn 16.000 người Thái Lan, cả nam lẫn nữ, đã tham gia vào cuộc thử nghiệm lâm sàng lớn nhất thế giới từ trước tới nay về vacxin ngừa bệnh AIDS, một loại vacxin chủng ngừa lây nhiễm HIV và hạ thấp số lượng virut trong máu.
Cuộc thử nghiệm cho thấy đây là loại vacxin đầu tiên có tác dụng giảm thiểu lây nhiễm.
Cuộc thử nghiệm do quân đội Mỹ và chính phủ Thái Lan phối hợp tiến hành với nam nữ không bị HIV trong độ tuổi 18-30 ở nhiều nơi khác nhau tại Thái Lan. Một nửa số người tham gia được dùng vacxin, một nửa chỉ có thuốc giả, nhưng tất cả đều được tư vấn về phòng chống HIV/AIDS.
Trong vòng ba năm, cứ mỗi sáu tháng người ta xét nghiệm HIV một lần. Kết quả cho thấy nguy cơ nhiễm HIV giảm 31,2% đối với những ai được cho vacxin. Trong nhóm chỉ được thuốc giả có 74 người nhiễm HIV; còn nhóm có vacxin thì 51 người bị nhiễm.
Vacxin mới dựa trên loại B và E của HIV thường thấy ở Thái Lan, chứ không phải loại C ở châu Phi.
Hơn 5 triệu người sống với virut HIV ở châu Á và hàng năm có khoảng 380.000 người bị lây nhiễm. Một con số tương tự đã chết vì bệnh AIDS. Tỷ lệ lây nhiễm cao nhất là ở đông nam châu Á.

3011
25-11-2009, 02:20 PM
Các nhà khoa học đã phát hiện một enzyme đóng vai trò quan trọng trong việc làm cho khối u ung thư vú phình to hơn và lây lan nhanh hơn. Theo báo Daily Express, nhóm nghiên cứu thuộc Đại học California (Mỹ) nhận thấy việc ngăn chặn enzyme có tên gọi lysyl oxidase (LOX) làm giảm thiểu nguy cơ hình thành khối u.
Những khối u đã hình thành cũng nhỏ hơn và ít lây lan hơn, nhờ đó dễ điều trị hơn. Các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy LOX cũng góp phần đáng kể trong việc biến mô ngực dị thường nhưng không ác tính thành khối u. Dù việc thử nghiệm chỉ được thực hiện với bệnh ung thư vú, nhóm nghiên cứu tin tưởng phát hiện của họ có thể mở đường cho việc chữa trị các bệnh ung thư có mức LOX cao khác.

3011
25-11-2009, 02:36 PM
Theo số liệu của Quỹ Nghiên cứu Ung thư thế giới (WCRF), khoảng gần 40% trường hợp ung thư mới được chẩn đoán hàng năm, đặc biệt là ung thư vú và ung thư ruột kết, có thể được ngăn ngừa bằng cách ăn vừa, uống ít, chăm luyện tập.
Dưới đây là 10 khuyến nghị của WCRF do 23 nhà khoa học thực hiện:
1. Không để cơ thể quá gầy còm
2. Luyện tập thể dục thể thao ít nhất 30 phút mỗi ngày
3. Tránh các đồ uống có đường và hạn chế các thực phẩm quá nhiều năng lượng, đặc biệt là các thực phẩm chế biến sẵn có hàm lượng muối cao hay thêm đường hoặc ít chất xơ.
4. Ăn đa dạng các loại rau, hoa quả, ngũ cốc nguyên cám và các loại đậu đỗ.
5. Hạn chế ăn thịt đỏ và tránh thịt chế biến sẵn.
6. Hạn chế chất cồn, trong ngày chỉ tối đa 2 ly đối với nam giới, 1 ly đối với phụ nữ.
7. Hạn chế các thực phẩm muối và các thực phẩm chế biến sẵn cần đến muối.
8. Đừng dùng các loại vitamin bổ sung để ngăn ngừa ung thư.
9. Cách tốt nhất đối với các bà mẹ là cho con bú ít nhất 6 tháng rồi mới cho trẻ ăn thêm các thực phẩm ngoài sữa mẹ.
10. Sau điều trị, những người mắc ung thư được chữa khỏi cần tuân thủ theo các khuyến cáo để phòng tái mắc ung thư.

3011
25-11-2009, 02:55 PM
Tính đến ngày 30/9/2009:Ở Việt Nam
- Tổng số trường hợp nhiễm HIV/AIDS còn sống: 186.802
- Tổng số trường hợp mắc AIDS còn sống: 54.391
- Tổng số trường hợp đã chết do AIDS: 64.050
- Số còn lại mới phát hiện nhiễm HIV.

huyson16
25-11-2009, 03:38 PM
Trường hợp cô đầu tiên được phát hiện đó bác. Bây giờ còn sống không nhỉ?.

3011
25-11-2009, 03:59 PM
Trường hợp cô đầu tiên được phát hiện đó bác. Bây giờ còn sống không nhỉ?.

Người đầu tiên phát hiện nhiễm HIV ở Việt Nam vẫn còn sống ở TP. Hồ Chí Minh.( sống 16 năm)

3011
26-11-2009, 04:41 PM
Lưu ý nếu bụng phình to
Theo Hội Ung thư Hoa Kỳ, ước tính có khoảng 21.550 phụ nữ nước này mắc bệnh ung thư buồng trứng trong năm 2009 và có khoảng 14.600 người sẽ tử vong vì bệnh này. Ung thư buồng trứng chỉ chiếm 4% trong các loại ung thư ở nữ nhưng lại tiên lượng xấu nhất trong tất cả các loại ung thư phụ khoa. Nhiều nghiên cứu gần đây đều khẳng định ung thư buồng trứng không thầm lặng mà rất ồn ào, chỉ vì thầy thuốc không giỏi trong việc nhận ra các dấu hiệu của bệnh.
Cứ 40 phụ nữ có triệu chứng bụng phình to thì có một phụ nữ mắc ung thư buồng trứng. Đây là tỉ lệ khá cao, điều này cũng tương tự nguy cơ ung thư phổi khi ho ra máu và nguy cơ ung thư đại tràng khi đi tiêu ra máu. Đặc biệt, 3 trong số các triệu chứng của ung thư buồng trứng bao gồm: đau bụng, bụng phình to, và tiểu nhiều lần xuất hiện ít nhất 6 tháng trước khi bệnh được chẩn đoán và có mối liên quan chặt chẽ với ung thư buồng trứng.
Mặc dù những nghiên cứu đều thực hiện khác nhau nhưng các bác sĩ đều ghi nhận ở bệnh nhân sẽ phát triển7 triệu chứng điển hình.
Tầm soát sớm bằng siêu âm
Theo các chuyên gia, bụng phình to có nghĩa là bụng gia tăng kích thước nhiều, còn bụng căng nghĩa là bụng lúc to lên, lúc thì nhỏ lại.
Theo Hội Ung thư Hoa Kỳ, bụng căng là một trong những triệu chứng dường như tồn tại dai dẳng ở người phụ nữ bị ung thư buồng trứng so với phụ nữ trong dân số chung. Nếu phụ nữ than phiền vì triệu chứng bụng căng lên thì bác sĩ sẽ phải khám lâm sàng toàn diện và có lẽ làm xét nghiệm CA-125/máu, đo lường protein trong máu những người ung thư buồng trứng hoặc làm siêu âm qua đầu dò ngả âm đạo.
Theo Hội Ung thư Hoa Kỳ và các tổ chức khác, tầm soát thường quy bằng xét nghiệm CA-125 và siêu âm qua đầu dò ngả âm đạo không thực hiện trong cộng đồng và cũng không được khuyến cáo là xét nghiệm tầm soát ung thư buồng trứng thường quy. Tuy nhiên, các xét nghiệm này được chỉ định cho những phụ nữ có nguy cơ cao ung thư ví dụ như những người có tiền sử gia đình về bệnh này.
Tỉ lệ sống sau 5 năm ở những bệnh nhân ung thư buồng trứng khá thấp, khoảng 30% - 40% và tỉ lệ này tăng lên 70% ở những bệnh nhân được chẩn đoán sớm bệnh này. Tuy nhiên, hiện nay chỉ có 1/5 bệnh nhân được chẩn đoán sớm. Do đó, những người có triệu chứng bụng phình to cần phải lưu ý ngay. Nếu phụ nữ có triệu chứng bụng phình to nên đi khám bác sĩ để được khám toàn diện, làm xét nghiệm CA-125 và siêu âm qua đầu dò âm đạo.

3011
26-11-2009, 04:43 PM
Các nhà nghiên cứu Mỹ vừa tìm ra một phương pháp mới chẩn đoán ung thư vú bằng cách xét nghiệm nước bọt của bệnh nhân.
Các nhà nghiên cứu phát hiện mức protein trong nước bọt có thể giúp các bác sĩ chẩn đoán, điều trị và theo dõi bệnh nhân ung thư vú.
Xét nghiệm nước bọt có một số lợi thế hơn xét nghiệm máu. Nước bọt là một chất lỏng không màu, trong, trong khi máu lại trải qua nhiều lần thay đổi màu làm ảnh hưởng tới kết quả xét nghiệm. Thu thập mẫu nước bọt lại an toàn, không xâm lấn và không làm bệnh nhân đau.
Phương pháp chuẩn đoán sớm này chưa được Cơ quan Quản lý Thuốc và Thực phẩm thông qua. Nếu nó được duyệt, các bác sĩ nha khoa và bác sĩ đa khoa có thể sử dụng nước bọt để chẩn đoán ung thư vú.
Nhưng Tiến sĩ Jones cũng cảnh báo đây không phải là phương pháp chẩn đoán duy nhất. Vẫn cần phương pháp chụp nhũ ảnh hoặc phân tích máu trong chẩn đoán ung thư vú. Ví dụ, nếu xét nghiệm nước bọt không cho kết quả dương tính, cần chụp nhũ ảnh hoặc các xét nghiệm hình ảnh khác để xem khối ung thư vú nằm ở vị trí nào.
Ung thư vú là nguyên nhân gây tử vong thứ hai của phụ nữ Mỹ. Năm 2006, Hội Ung thư Mỹ ước tính sẽ có 212.920 trường hợp ung thư vú di căn, và trong năm nay 40.970 phụ nữ sẽ tử vong do căn bệnh này. Rất nhiều phụ nữ được cứu sống nếu ung thư được chẩn đoán sớm.

3011
27-11-2009, 11:46 AM
Trong quá trình giám định, cơ quan bảo hiểm xã hội đã phát hiện nhiều đơn thuốc, chỉ định “phóng tay”, có thời điểm hiện tượng kê toa quá nhiều thuốc, chỉ định nhiều kỹ thuật không cần thiết trở nên phổ biến.
Phó tổng giám đốc Bảo hiểm xã hội VN Nguyễn Đình Khương dẫn hai con số: trước khi nghị định 63 về BHYT có hiệu lực năm 2006, bệnh nhân phải cùng chi trả 20% chi phí khám chữa bệnh, chi phí xét nghiệm, chụp chiếu chỉ chiếm 13% tổng chi cho bệnh nhân BHYT. Còn hiện nay, xét nghiệm, chẩn đoán cận lâm sàng chiếm đến 30% chi phí (trong số 10.000 tỉ đồng đã chi cho bệnh nhân BHYT năm 2008). Ông Khương cho rằng có ba lý do dẫn đến tình trạng này. Đó là các bệnh viện tích cực chỉ định, giải quyết yếu tố nguồn thu; chồng chéo xét nghiệm, không công nhận xét nghiệm lẫn nhau dẫn đến tình trạng bệnh nhân đi đâu cũng được yêu cầu... xét nghiệm, gây tốn phí vô kể; tình trạng các đơn vị, cá nhân đặt thiết bị y tế “xã hội hóa” và tích cực chỉ định xét nghiệm để thu vốn!
Bộ Y tế cũng công nhận tình trạng chồng chéo xét nghiệm. Nhưng cho đến nay, quy trình xét nghiệm chuẩn vẫn chưa được ban hành, dù tổn phí do không công nhận xét nghiệm lẫn nhau cho người dân và quỹ BHYT là rất lớn. Theo ông Nghiêm Trần Dũng - vụ phó Vụ BHYT (Bộ Y tế), bảo hiểm xã hội không nên chỉ là nơi thu tiền mà cần nâng cao nghiệp vụ giám định, bác ngay, không thanh toán những chỉ định có chứng cớ lạm dụng thuốc, xét nghiệm. Tuy nhiên ông Nguyễn Đình Khương lại thông báo giám định viên BHYT rất thiếu, về lượng mới đáp ứng 50% nhu cầu, về chất thì một nửa cán bộ đã có là “tay ngang”!
Sẽ có quy trình xét nghiệm chuẩn: Theo ông Lý Ngọc Kính, Cục Quản lý khám chữa bệnh đang dự thảo quy trình xét nghiệm chuẩn, ở năm lĩnh vực sinh hóa, vi sinh, huyết học, giải phẫu bệnh, chẩn đoán hình ảnh. Theo kế hoạch, xây dựng ba trung tâm kiểm chuẩn ở Bệnh viện Bạch Mai, T.Ư Huế, Chợ Rẫy và trung tâm kiểm chuẩn độc lập. Những cơ sở xét nghiệm, chụp chiếu được trung tâm kiểm chuẩn công nhận sẽ được công nhận trong toàn hệ thống.

3011
27-11-2009, 11:49 AM
Hiện nay, quỹ BHYT bội chi rất lớn. Năm 2009, dự báo bội chi khoảng 2.000 tỉ đồng, để bảo đảm khả năng chi trả của quỹ BHYT, đến cuối năm 2009 cần khoảng 9.300 tỉ đồng, trong đó: 1.700 tỉ đồng được thanh toán cho năm 2008, 2.000 tỉ đồng thanh toán cho năm 2009 và 5.600 tỉ đồng tạm ứng cho quý I/2010. Dự kiến năm 2010 chi khoảng 22.600 tỉ đồng, đến hết năm 2010 quỹ mới cân đối được. Nếu nâng mức đóng lên 4,5% tiền lương, quỹ BHYT sẽ kết dư 1.364 tỉ đồng gần đủ để bù cho năm 2008.
Đề cập đến vấn đề khó khăn, theo ông Nghiêm Trần Dũng - Vụ phó Vụ Bảo hiểm y tế, Bộ Y tế, khai thác các nhóm đối tượng tham gia còn gặp rất nhiều khó khăn, vì chưa có các biện pháp chế tài xử lý. Nhóm đối tượng cận nghèo mặc dù đã được Nhà nước hỗ trợ 50% mức đóng, chỉ phải đóng 50%, nhưng họ cũng không thể tham gia. Đối tượng nông dân cũng rất hạn chế mua BHYT. Các doanh nghiệp cũng không tham gia mua BHYT cho người lao động. Khi mức đóng tăng lên thì việc tham gia mua BHYT của những nhóm đối tượng này sẽ giảm sút. Bên cạnh đó, khả năng cung ứng dịch vụ của hệ thống KCB đang cung không đủ cầu đã tác động đến chất lượng, gây khó khăn cho người bệnh. Năng lực quản lý của Bảo hiểm xã hội còn yếu, không đáp ứng đủ yêu cầu khi số người tham gia đông hơn, phạm vi rộng hơn... nên khả năng thực thi các chính sách BHYT sẽ không đầy đủ.

3011
27-11-2009, 11:52 AM
Hai đối tượng trên gồm: Lưu Tố Loan (41 tuổi, ngụ TPHCM) là bác sĩ tại Khoa Nội tiết của BV Chợ Rẫy và Lưu Thị Liễu (26 tuổi, ngụ Đồng Nai) là trình dược viên của Công ty cổ phần dược phẩm Nhật Tiến.
Theo tài liệu của cơ quan điều tra, chỉ trong 4 tháng đầu năm 2009, bác sĩ Loan đã kê hơn 1.000 đơn thuốc cho các bệnh nhân có BHYT với số tiền hơn 3,5 tỷ đồng. Tuy nhiên, trong số đó có hơn 900 đơn thuốc không đúng quy trình (không có bệnh nhân đến khám…), mỗi đơn trị giá 2-4 triệu đồng, tổng cộng là gần 3,3 tỷ đồng, bảo hiểm phải thanh toán trên 3,1 tỷ đồng, còn lại là bệnh nhân đóng.
Thời gian gần đây, tại BV Chợ Rẫy rộ lên tin đồn một số người trong bệnh viện cấu kết các đối tượng bên ngoài khai khống số trường hợp được chi trả BHYT, kê toa thuốc để lấy thuốc của bảo hiểm y tế mà không mất tiền và tuồn ra ngoài. Nay cơ quan điều tra mới bắt đối tượng đầu tiên là bácsĩ Lưu Tố Loan. Trước đó, BV Chợ Rẫy đã tạm đình chỉ công tác đối với bác sĩ này.
Còn Lưu Thị Liễu thì đóng vai trò giúp sức cho Lưu Tố Loan bằng cách đưa các hồ sơ bảo hiểm giả để bà Loan kê toa thuốc giả, chiếm đoạt tài sản của nhà nước.

3011
04-12-2009, 03:12 PM
Viêm xoang là một bệnh khá phổ biến nhưng không nguy hiểm. Chính điều này khiến nhiều người bệnh chủ quan cho là viêm xong cũng chỉ như viêm mũi qua loa, chỉ dùng vài viên giảm đau, chống viêm, chống dị ứng khi mắc phải.Sai lầm đó khiến bệnh không được điều trị dứt điểm, rất dễ tái phát và trở thành mãn tính. Người bệnh ngoài việc bị ngạt mũi và thường xuyên chảy nước mũi, còn phải chịu đựng cảm giác đau nhức vùng trán và hốc mắt. Trường hợp tiến triển nặng, bệnh nhân thậm chí sẽ phải nạo xoang hay mổ lệch vách ngăn...

Xoang là các khoang rỗng nằm trong khối xương mặt và đều được thông với hốc mũi. Vì một lí do nào đó luồng không khí đi vào các xoang bị cản trở, các chất tiết ra ở xoang không thoát kịp ra ngoài, ứ đọng lại. Đó là môi trường thuận lợi để vi khuẩn và nấm phát triển, gây phù nề và viêm nhiễm.
Phòng bệnh xoang, cần tránh viêm mũi, tránh xa những nơi không khí bị ô nhiễm (bụi, khói, thuốc lá...), tránh xa những chất gây dị ứng cho cơ thể.
Do đó trong điều trị viêm xoang, việc làm sạch và thông thoáng xoang để tránh tạo môi trường cho vi khuẩn là yếu tố đầu tiên và quan trọng để loại bỏ tác nhân gây bệnh và rút ngắn thời gian điều trị.
Y học cổ truyền có các vị thuốc được coi là đầu bảng trong việc này như Tân di, Phòng phong được kết hợp với các vị thuốc chống viêm, chống dị ứng, chống nhiễm khuẩn như Cát cánh, Bạch chỉ, Kim ngân hoa… Cần thiết tiếp cận những bài thuốc này có tác dụng làm loãng và tiêu tán đờm thấp ứ trệ gúp làm sạch và thông thoáng các xoang, giảm nhanh triệu chứng đau nhức, căng tức, hắt hơi, sổ mũi, ngạt mũi, tiết dịch mũi... Bên cạnh đó, Thông xoang tán còn có thể kháng khuẩn, chống viêm, chống dị ứng và tái tạo niêm mạc nhằm điều trị căn nguyên gây bệnh, phòng biến chứng và tái phát.
Tuy nhiên “phòng bệnh hơn chữa bệnh”, việc quan trọng vẫn là tránh viêm mũi, không nên ở những nơi không khí bị ô nhiễm (bụi, khói, thuốc lá...), tránh xa những chất gây dị ứng cho cơ thể... Người đã bị viêm xoang dù nặng hay nhẹ cũng nên trang bị cho mình những kiến thức cần thiết để có hướng đều trị tích cực, tránh để bệnh tiến triển nặng hay gây những biến chứng nguy hiểm.

3011
04-12-2009, 03:32 PM
Em Lê Trọng N., 8 tuổi, ở Tiền Giang, bị sốt cao, ho, sổ mũi, tiêu phân lỏng. Mẹ em cho uống thuốc ba ngày nhưng em vẫn sốt cao liên tục, nên em được đưa vào bệnh viện tỉnh ngày 18-10-2009. Mẹ em cho biết ở trường N. có rất nhiều trẻ bị cúm A/H1N1 nên gia đình rất lo lắng. Các bác sĩ nghi ngờ N. mắc cúm A, với triệu chứng viêm đường hô hấp lại có tiếp xúc với nguồn lây nhiễm. Xét nghiệm máu thường quy cho thấy em bị nhiễm một loại siêu vi trùng, có khả năng là siêu vi trùng cúm, nên N. được hội chẩn chuyên môn quyết định điều trị ngay bằng thuốc Tamiflu.

Nhưng sau hai ngày điều trị N. vẫn không giảm sốt, em lừ đừ, đau bụng, ói. Bác sĩ trực phát hiện em có nhiều nốt đỏ trên da, đo mạch và huyết áp thấy N. bị trụy tim mạch, lập tức N. được truyền nước biển cấp cứu. Các xét nghiệm bổ sung ngay sau đó đã xác định em bị sốt xuất huyết.
Trong mùa dịch bệnh năm nay nhiều loại bệnh đang hoành hành trẻ em như sốt xuất huyết, cúm A, bệnh tay chân miệng, tiêu chảy cấp... nên việc nhận diện chính xác bệnh gì trong những ngày đầu khởi bệnh có khi rất khó khăn cho phụ huynh cũng như thầy thuốc.
Với bệnh sốt xuất huyết, nếu có dấu hiệu sốt kết hợp với xuất huyết, trụy tim mạch thì việc chẩn đoán gần như chắc chắn.
Nếu người bệnh có sốt, viêm đường hô hấp trên như ho, sổ mũi, nhảy mũi, đau đầu, đau mình, đau cơ, mệt mỏi, bệnh nhân có tiếp xúc gần với nguồn lây trong vòng bảy ngày thì nghĩ nhiều đến cúm A, và phải cho điều trị thuốc đặc hiệu càng sớm càng tốt mà không cần chờ kết quả xét nghiệm.

3011
04-12-2009, 03:35 PM
Trong thực tế bất kỳ ai cũng có thể bị mắc bệnh này nếu không biết cách phòng tránh.
Bệnh LTQĐTD sẽ để lại tác hại lâu dài cho các bạn trẻ như:
- Vô sinh vĩnh viễn (ở cả nam và nữ).
- Đau bụng dưới cấp tính.
- Ung thư cổ tử cung (ở nữ).
- Gây tổn thương đến tim và não nếu không được điều trị. Những tổn thương này có thể xuất hiện trong vòng 10 – 25 năm, kể từ khi bị nhiễm bệnh như giang mai.- Bệnh LTQĐTD có thể lây truyền từ mẹ sang em bé trong khi mang thai và khi sinh con với các hậu quả như em bé thiếu cân, đẻ non hoặc bị viêm nhiễm và mù lòa.
- Thai ngoài tử cung.
- Tử vong do nhiễm trùng nặng hoặc do AIDS.
Bệnh LTQĐTD có thể phòng tránh được và nhiều bệnh có thể chữa khỏi nếu điều trị kịp thời như các bệnh lây nhiễm do các vi khuẩn sau:
- Bệnh viêm âm đạo trùng roi (trichmonas).
- Bệnh lậu cầu.
- Bệnh nhiễm Chlamydia.
- Bệnh giang mai.
Một số bệnh LTQĐTD không thể chữa khỏi, mà chỉ có thể phòng ngừa bằng tình dục an toàn (quan hệ chung thủy, dùng bao cao su), là bệnh nhiễm do virus như:
- Viêm gan siêu vi B – gây tổn thương gan.
- Bệnh sùi mào gà sinh dục (mồng gà) do nhiễm virus HPV – nhiều nguy cơ dẫn đến ung thư cổ tử cung.
- Bệnh Herpes sinh dục.
- HIV/AIDS.

3011
04-12-2009, 03:37 PM
BS.Vũ Bá Quyết - phó giám đốc Bệnh viện Phụ sản trung ương - cho biết 50 bệnh nhân ung thư niêm mạc tử cung được phẫu thuật nội soi đều cho kết quả thành công 100%, không trường hợp nào bị tai biến.
Ung thư niêm mạc tử cung gặp chủ yếu ở phụ nữ mãn kinh với dấu hiệu lâm sàng là ra máu bất thường. Với phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, nếu bị rong kinh, rong huyết kéo dài cũng cần kiểm tra để phát hiện bệnh kịp thời.
Trước đây bệnh nhân ung thư niêm mạc tử cung đều phải mổ mở, sau một tuần mới được ra viện. Nguy cơ nhiễm khuẩn từ mổ mở còn cao, dễ dẫn đến nhiễm trùng, áp xe, bệnh nhân phải nằm điều trị thêm 10-15 ngày khiến việc xạ trị tiếp theo bị trì hoãn.
Phẫu thuật nội soi cho phép bệnh nhân ra viện 3-5 ngày sau mổ và được xạ trị liền ngay sau đó. Ngoài ra, trong mổ mở, đường rạch ở bụng kéo dài đến 20cm thì mổ nội soi chỉ để lại bốn lỗ nhỏ dài 0,5cm trên thành bụng...
Tại Việt Nam, ung thư niêm mạc tử cung hiện là loại ung thư phụ khoa hay gặp hàng thứ tư, đứng sau ung thư vú, ung thư cổ tử cung và ung thư buồng trứng.

3011
04-12-2009, 03:43 PM
Những bất thường thần kinh ở thai nhi hiện có thể phát hiện sớm, chính xác nhờ kỹ thuật chụp cộng hưởng từ (MRI) với từ lực 1.5 Tesla. Hiện phương pháp này đã được Trung tâm chẩn đoán trước sinh - Bệnh viện phụ sản TƯ cùng Trung tâm chẩn đoán hình ảnh HANDIC - bệnh viện tim Hà Nội đưa vào sử dụng và mang lại hiệu quả cao trong chẩn đoán.
Th.S Phạm Hữu Khuyên, Khoa Chẩn đoán hình ảnh - Bệnh viện Việt Đức, người trực tiếp tham gia kỹ thuật này cho biết: Tính đến thời điểm này, đã có 8 trường hợp thai nhi nghi ngờ tổn thương hệ thần kinh trên siêu âm được phát hiện chắc chắn bằng phương pháp mới này.
“Trước đó, khi có những nghi ngờ về dị tật thần kinh của thai nhi qua phương pháp siêu âm, cả bác sĩ lẫn thai phụ đều rất băn khoăn vì những phát hiện chỉ ở ngưỡng “nghi ngờ”. Chính vì thế, để đưa ra một quyết định dứt khoát là đình chỉ thai nghén hay để thai là một điều hết sức khó khăn. Nhưng nay, với hệ thống chục cộng hưởng từ với từ lực 1.5 Tesla sẽ giúp bác sĩ khẳng định nghi ngờ này, có thể trả lời chính xác là thai nhi có bị dị tật hệ thần kinh hay không”, TS Khuyên nói.
Theo các chuyên gia chẩn đoán hình ảnh, trong các phương pháp phát hiện tổn thương hệ thần kinh thai nhi, thì đây là một phương pháp tối ưu. Trên thực tế cho thấy, có những dị tật thần kinh có thể được phát hiện bằng siêu âm thì cũng được phát hiện chính xác bằng chụp cộng hưởng từ. Tuy nhiên, có tới 50% dị tật thần kinh không thể phát hiện được bằng siêu âm, thì cộng hưởng từ lại có câu trả lời chính xác, với cả những tổn thương rất nhỏ.
TS Khuyên cho biết thêm, cộng hưởng từ không chỉ phát hiện những bất thường của thần kinh trung ương mà kỹ thuật này còn phát hiện chính xác nhất những tổn thương của các bộ phận khác như nội tạng thai nhi, đặc biệt là thận, phổi, thoát vị cơ hoành… Hiện phương pháp này được chỉ định áp dụng cho những trường hợp tuổi thai từ 13 tuần trở lên và nó không gây ảnh hưởng gì tới sự phát triển của thai nhi cũng như sức khoẻ sản phụ.

3011
04-12-2009, 03:46 PM
Nước Anh vừa chào đón em bé đầu tiên trên thế giới được thụ thai với sự trợ giúp của một kỹ thuật "soi" trứng mới. Thành công này mở ra hy vọng có con cho những phụ nữ từng thất bại nhiều lần với biện pháp thụ tinh nhân tạo.
Bé Oliver vừa chào đời là con của một phụ nữ 41 tuổi, từng 13 lần thất bại với kỹ thuật thụ tinh nhân tạo (IVF).
Cho tới nay, những ca thụ tinh nhân tạo thất bại thường là do trứng chứa nhiễm sắc thể khuyết tật.
Với kỹ thuật "soi" mới, các bác sĩ sẽ phân tích được nhanh vật liệu gene trong những quả trứng đã thụ tinh, nhằm tìm ra các khuyết tật nhiễm sắc thể, loại bỏ trứng hỏng nếu cần. Kỹ thuật này vừa làm tăng khả năng có thai, vừa làm giảm tỷ lệ dị tật bẩm sinh ở trẻ nhỏ.
Theo DailyMail, kỹ thuật "soi" trứng nói trên được cho là làm tăng gấp đôi khả năng có thai của các phụ nữ.
Còn trên BBC, Hiệp hội Sinh sản Anh cho biết kỹ thuật này tỏ ra hứa hẹn, song cần có thêm các nghiên cứu. Giáo sư Simon Fishel, trưởng nhóm nghiên cứu, cho biết sự ra đời của bé Oliver chứng tỏ xét nghiệm này có thể giúp các cặp vợ chồng đậu thai, sau nhiều lần thất bại với IVF.

"Tới một nửa số trứng ở phụ nữ trẻ và đến 75% số trứng ở phụ nữ trên 39 tuổi có bất thường về nhiễm sắc thể. Sự ra đời của Oliver là một dấu mốc quan trọng trong việc giúp chúng ta hiểu rõ hơn tại sao nhiều phụ nữ lại khó có thai đến vậy".
Hai năm trước, các nhà khoa học Mỹ từng thông báo 18 phụ nữ đã sinh con sau khi được "soi" trứng bằng một kỹ thuật tương tự. Tuy nhiên, trong những trường hợp đó các phôi tạo ra phải đông lạnh và cấy lại về sau.
Nhưng với công trình mới đây của các nhà khoa học Anh, người ta có thể biết kết quả sau 24 giờ, nhờ thế các bà mẹ có thể làm IVF ngay trong chu kỳ chữa trị mà không phải chờ đợi.

3011
04-12-2009, 03:48 PM
Người bệnh đái tháo đường thường bị đau khớp, cứng khớp, đau nhức tay chân hơn so với người không bị đái tháo đường, chủ yếu do tình trạng tăng đường huyết gây ra. Việc điều trị cũng giống như người không bị đái tháo đường nhưng có thêm một số điểm chú ý.

Trước hết, đường huyết cần phải được kiểm soát tốt, đường huyết càng cao càng dễ bị tình trạng đau nhức này. Ngoài ra cần chú ý tập vận động toàn thân cũng như các khớp bị đau.

Cách thức tập phải phù hợp tình trạng sức khỏe cũng như mức độ đau. Tập thể dục đều đặn và hợp lý là chế độ rất tốt nhằm tránh các biến chứng của bệnh đái tháo đường nói chung, đặc biệt các biến chứng đau khớp.
Các thuốc kháng viêm giảm đau như Ibuprofen, thuốc chống thoái hóa khớp Glucosamin vẫn có thể dùng được cho người bệnh đái tháo đường. Tuy nhiên các thuốc này, đặc biệt là Ibuprofen, có nguy cơ gây độc cho thận, gan và loét dạ dày. Với người bệnh đái tháo đường thì thận là cơ quan nhạy cảm, rất dễ bị tổn thương nên cần đặc biệt thận trọng.
Vì vậy, việc sử dụng thuốc này cần hạn chế ở mức tối thiểu, dùng nhiều ngày cần có hướng dẫn và chỉ định của bác sĩ. Loại thuốc này chỉ có tác dụng điều trị triệu chứng (giảm đau, chống viêm) nên không hạn chế được tái phát.
Trong trường hợp của chị, các triệu chứng đau khớp chỉ có ở bàn tay, ngón tay. Các vị trí khác cũng thường bị đau là khớp vai và các khớp ở cổ chân, bàn, ngón chân. Chị cần xem lại tình hình điều trị, kết quả các lần thử đường huyết và đặc biệt là xét nghiệm HbA1c (một xét nghiệm quan trọng trong theo dõi đường huyết) của mình như thế nào. Phải đảm bảo mọi chỉ số đạt được mức tốt. Nếu chưa tốt, chị cần gặp bác sĩ để được hướng dẫn điều chỉnh chế độ điều trị.

3011
04-12-2009, 03:51 PM
Đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh mạn tính có khả năng gây tàn phế và tử vong rất lớn .Tuân thủ điều trị thật nghiêm ngặt, chủ động theo dõi , đánh giá tình trạng bệnh lý của bản thân từ việc tiến hành kiểm tra đường máu định kỳ đều đặn đến chăm sóc cẩn thận đôi bàn chân của mình , người bị ĐTĐ có thể phòng ngừa hoặc giảm nhẹ đến mức thấp nhất các biến chứng của bệnh . Dưới đây là 10 cách gíup phòng tránh các biến chứng của ĐTĐ:
1. Kiểm tra sức khỏe tổng quát hàng năm
Ngoài việc kiểm tra đường máu đều đặn, người bị ĐTĐ nên tiến hành khám sức khỏe tổng quát hàng năm để các thầy thuốc phát hiện sớm, ngăn chận và điều trị kịp thời các biến chứng ở mắt, ở thận và ở tim.
2.Khám mắt định kỳ mắt hàng năm
Việc khám mắt định kỳ hàng năm sẽ giúp phát hiện sớm và điều trị hiệu qủa các biến chứng về mắt của bệnh ĐTĐ. Đặc biệt nếu người bị ĐTĐ không có điều kiện để kiểm soát thường xuyên đường máu, cholesterol/máu , huyết áp cùng việc phát hiện các biến chứng ở thận thì người ấy nên đến khám bác sĩ chuyên khoa mắt nhiều lần trong năm.
3. Khám nha khoa 2 lần trong một năm
Đường máu tăng cao sẽ làm giảm sức đề kháng của cơ thể khiến người bị ĐTĐ dễ bị các bệnh nhiễm khuẩn. Vì miệng là ổ chứa vi khuẩn nên lợi răng rất dễ bị nhiễm khuẩn. Do đó người bị ĐTĐ nên kiểm tra răng miệng mỗi năm hai lần.
4. Tiêm phòng vắc-xin
Thực hiện tiêm chủng sẽ giúp người bị ĐTĐ phòng tránh được những biến chứng nghiêm trọng của bệnh:
* Chủng ngừa cúm hàng năm: Người bị ĐTĐ dễ bị cúm hơn người không bị ĐTĐ và dễ phát triển các biến chứng của bệnh sau đợt cúm .Một mũi tiêm chủng ngừa cúm hằng năm sẽ giúp người bị ĐTĐ phòng tránh được bệnh cúm và các biến chứng của ĐTĐ, kể cả biến chứng toan chuyển hóa ceton và hội chứng tăng áp lực thẩm thấu. .
*. Chủng ngừa vắc-xin viêm phổi: Người bị ĐTĐ nên được tiêm vắc-xin phòng viêm phổi. Nếu người bệnh trên 65 tuổi hoặc đã bị các biến chứng thận , tim thì nên tiêm phòng lọai vắc-xin viêm phổi có hiệu quả kéo dài được 5 năm.
. Tiêm phòng uốn ván và viêm gan siêu vi B: Nên hỏi ý kiến của thầy thuốc trước khi tiêm.
5. Chăm sóc đôi bàn chân:
Đái tháo đường rất nguy hiểm cho đôi bàn chân vì:
. Đái tháo đường làm tổn thương hệ thống thần kinh ở bàn chân, làm giảm cảm giác đau ở chân, do đó người bị ĐTĐ có thể bị tổn thương bàn chân mà không hề hay biết..
. Đái tháo đường làm hẹp hoặc làm tắc nghẽn các mạch máu ở bàn chân, làm giảm dòng máu đến nuôi chân khiến cho các vết thương nhỏ ở bàn chân khó lành và có thể phát triển thành các vết thương rộng lớn , nhiễm khuẩn nặng
6. Không hút thuốc lá:
Người bị ĐTĐ hút thuốc lá dễ bị tử vong vì bệnh tim mạch, đột quỵ hoặc những bệnh lý khác hơn nhưng người không hút thuốc do:
. Hút thuốc lá làm hẹp các mạch máu, làm giảm tưới máu đến chân, làm các vết thương khó lành và khó liền sẹo, làm gia tăng nguy cơ bị các cơn đau tim, đột quỵ,.
. Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ dễ bị các biến chứng về thận, thần kinh.
. Hút thuốc lá làm giảm sức đề kháng của cơ thể, khiến cho người bệnh dễ bị cảm lạnh, dễ bị nhiễm khuẩn đường hô hấp.
7. Uống Aspirine hàng ngày
Theo Hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ, các bệnh nhân bị ĐTĐ nên dùng Aspirine hàng ngày để giảm nguy cơ cơn đau tim. Tuy nhiên bạn nên trao đổi với thầy thuốc của mình để biết rõ liều lượng cần dùng và chắc chắn rằng Aspirine an toàn cho sức khỏe của bạn.
8. Kiểm soát huyết áp
Huyết áp tăng cao cũng làm tổn thương các mạch máu. Sự kết hợp ĐTĐ với tăng huyết áp sẽ dễ gây nên cơn đau tim, đột quỵ đe dọa tính mạng của người bệnh.. Với người bị ĐTĐ có tăng huyết áp, Hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ khuyến cáo nên điều trị thuốc hạ huyết áp để duy trì huyết áp dưới 130/80 mmHg, đồng thời kết hợp với chế độ ăn cân bằng, ít muối, hạn chế rượu bia và vận động đều đặn.
9. Kiểm soát đường huyết
Kiểm soát đường huyết chặt chẽ là việc làm quan trọng nhất để ngăn ngừa các biến chứng nghiêm trọng của ĐTĐ giúp người bệnh sống chung với ĐTĐ một cách khỏe mạnh.
10. Giảm stress
Stress có thể làm tăng sản xuất một số các hóc mon làm ngăn chặn tác dụng của insulin khiến đường huyết tăng cao, giảm sút hiệu qủa điều trị. Nếu bạn bị stress nặng bạn sẽ không có thời gian để chăm sóc và kiểm soát bệnh lý ĐTĐ của mình vì không thể ăn uống tốt, không kiểm soát được đường máu , không vận động đều đặn, không uống thuốc đúng liều. Ngoài ra nếu bị stress kéo dài sẽ dễ dàng dẫn đến trầm cảm. Do đó người bị ĐTĐ cần kiểm soát tốt cảm xúc của mình , hạn chế cang thẳng về tinh thần, giữ cho tâm hồn luôn được thư thái .


--------------------------------------------------------------------------------

3011
17-12-2009, 03:26 PM
MỘT SỐ BỆNH TIM BẨM SINH
I. Đại cương về phân loại các bệnh tim bẩm sinh:
Các bệnh lý bẩm sinh của tim rất phức tạp do đó có rất nhiều cách phân loại khác nhau, mỗi cách phân loại chỉ nói nên được một số khía cạnh nhất định của các bệnh lý này.
a) Theo giải phẫu và các rối loạn huyết động:
+ Bệnh tim bẩm sinh không tím:
Là các bệnh tim bẩm sinh trong đó các rối loạn bệnh lý ban đầu không có sự chảy của dòng máu từ các buồng tim phải (máu đen do chứa nhiều CO2) sang máu của các buồng tim trái. Loại này có thể được chia thành 3 nhóm chính:
- Nhóm bệnh có các lỗ thông: thông liên nhĩ, thông liên thất, còn ống động mạch, tồn tại ống nhĩ thất, tĩnh mạch phổi đổ về nhĩ phải hoặc tĩnh mạch chủ, rò động mạch chủ vào động mạch phổi, rò tĩnh mạch vành vào buồng tim phải...
- Nhóm bệnh có cản trở dòng máu: hẹp động mạch phổi đơn thuần, hẹp eo động mạch chủ, hẹp động mạch chủ (hẹp van hay hẹp dưới van)...
- Nhóm bệnh dị dạng động mạch vành: thường gặp là bệnh động mạch vành phải tách ra từ thân động mạch phổi.
+ Bệnh tim bẩm sinh có tím:
Là các bệnh tim bẩm sinh trong đó rối loạn bệnh lý có sự pha trộn dòng máu của các buồng tim phải (máu đen) sang máu của các buồng tim trái. Loại này có thể chia thành 2 nhóm chính:
- Nhóm bệnh tim bẩm sinh có tím phổi sáng: phổi sáng là do lượng máu lên phổi ít. Có thể gặp các bệnh: tứ chứng Fallot, teo van ba lá (bao giờ cũng kèm thông liên nhĩ), teo động mạch phổi…
- Nhóm bệnh tim bẩm sinh có tím phổi đậm: phổi đậm là do có quá nhiều máu lên phổi. Có thể gặp các bệnh: đổi chỗ động mạch chủ và động mạch phổi (động mạch chủ tách ra từ thất phải và động mạch phổi tách ra từ thất trái), thất phải có hai đường ra (động mạch chủ và động mạch phổi đều tách ra từ thất phải, thẩt trái teo nhỏ và có lỗ thông liên thất to), thất trái có hai đường ra (động mạch chủ và động mạch phổi đều tách ra từ thất trái, thất phải teo nhỏ và có lỗ thông liên thất to), tâm thất một buồng (kiểu tim ba buồng).
b) Theo đặc điểm lứa tuổi:
+ Các bệnh tim bẩm sinh ở trẻ em:
Thường gặp các bệnh: thông liên thất, còn ống động mạch, hẹp động mạch phổi, Tứ chứng Fallot, thông liên nhĩ, hẹp động mạch chủ, đổi chỗ động mạch chủ và động mạch phổi, tồn tại ống nhĩ thất, tâm thất một buồng...
+ Các bệnh tim bẩm sinh ở người lớn:
Thường gặp các bệnh: thông liên nhĩ, thông liên thất, hẹp động mạch phổi, còn ống động mạch và hẹp động mạch chủ.

3011
17-12-2009, 03:28 PM
Nhồi máu cơ tim (NMCT) cấp là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở Mỹ và các n­ớc châu Âu. Ước tính ở Mỹ có khoảng 1 triệu bệnh nhân nhập viện mỗi năm vì NMCT cấp và khoảng 200.000 đến 300.000 bệnh nhân tử vong hàng năm vì NMCT cấp. Ở Việt nam số bệnh nhân NMCT ngày càng có xu h­ớng gia tăng nhanh chóng. Nếu nh­ những năm 50, NMCT là bệnh rất hiếm gặp thì hiện nay hầu nh­ ngày nào cũng gặp những bệnh nhân NMCT cấp nhập viện (tại Viện Tim mạch). Những tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị NMCT cấp đã làm giảm đáng kể tỷ lệ tử vong do NMCT cấp. Sự ra đời của đơn vị cấp cứu mạch vành (CCU) đầu những năm 60, tiếp đến là các thuốc tiêu huyết khối những năm 80 và hiện nay là can thiệp động mạch vành cấp cứu và những tiến bộ về các thuốc phối hợp đã làm cho tỷ lệ tử vong do NMCT cấp trên thế giới hiện nay giảm xuống chỉ còn khoảng < 7% so với tr­ớc đây là > 30 %.
I. Sinh lý bệnh
Cơ tim đ­ợc nuôi d­ỡng bởi 2 động mạch vành (ĐMV) đó là ĐMV trái và ĐMV phải. ĐMV trái xuất phát từ lá vành trái của ĐMC và ĐMV phải xuất phát từ lá vành phải. Thực tế, ĐMV trái lại chia ra 2 nhánh lớn là nhánh liên thất tr­ớc (LAD) và nhánh mũ (LCx). Do vậy ng­ời ta th­ờng gọi là 3 thân ĐMV để nuôi cơ tim.
NMCT đ­ợc hiểu là do sự tắc nghẽn hoàn toàn một hoặc nhiều nhánh ĐMV để gây thiếu máu cơ tim đột ngột và hoại tử vùng cơ tim đ­ợc t­ới máu bởi nhánh ĐMV đó. Thủ phạm ở đây chính là mảng xơ vữa động mạch. Nh­ng vấn đề đặt ra là trong thực tế nếu mảng xơ vữa cứ phát triển âm thầm gây hẹp nhiều thậm chí tắc hoàn toàn ĐMV theo thời gian cũng không gây ra triệu chứng của NMCT cấp vì đã có sự thích nghi và phát triển của tuần hoàn bàng hệ. Cơ chế chủ yếu của NMCT cấp là do sự không ổn định và nứt ra của mảng xơ vữa để hình thành huyết khối gây lấp toàn bộ lòng mạch. Nếu việc nứt ra này không lớn và hình thành cục máu đông ch­a gây lấp kín toàn bộ lòng mạch, thì đó là cơn đau thắt ngực không ổn định trên lâm sàng.
II. Triệu chứng lâm sàng
A. Triệu chứng cơ năng
1. Cơn đau thắt ngực điển hình:
a. Đau nh­ bóp nghẹt phía sau x­ơng ức hoặc hơi lệch sang trái, lan lên vai trái và mặt trong tay trái cho đến tận ngón đeo nhẫn và ngón út. Nhìn chung cơn đau có tính chất giống cơn đau thắt ngực nh­ng kéo dài hơn 20 phút và không đỡ khi dùng Nitroglycerin.
b. Một số tr­ờng hợp đau có thể lan lên cổ, cằm, vai, sau l­ng, tay phải, hoặc vùng th­ợng vị.
c. Một số tr­ờng hợp NMCT có thể xảy ra mà bệnh nhân không hoặc ít cảm giác đau (NMCT thầm lặng), hay gặp ở bệnh nhân sau mổ, ng­ời già, bệnh nhân có tiểu đ­ờng hoặc tăng huyết áp.
d. Trong tr­ờng hợp đau lan nhiều ra phía sau l­ng phải phân biệt với tách thành động mạch chủ.
2. Các triệu chứng khác đi kèm theo có thể gặp là: vã mồ hôi, khó thở, hồi hộp đánh trống ngực, nôn hoặc buồn nôn, lú lẫn... Các triệu chứng của rối loạn tiêu hoá th­ờng gặp trong tr­ờng hợp NMCT sau d­ới.
3. Đột tử cũng là một trong những thể hay gặp của NMCT cấp.
B. Triệu chứng thực thể
1. Khám thực thể trong NMCT cấp nói chung ít có giá trị để chẩn đoán xác định nh­ng cực kỳ quan trọng để giúp chẩn đoán phân biệt với các bệnh khác, giúp phát hiện các biến chứng, tiên l­ợng bệnh cũng nh­ là cơ sở để theo dõi bệnh nhân.
2. Những triệu chứng hay gặp là: nhịp tim nhanh, tiếng tim mờ, tiếng ngựa phi, huyết áp có thể tăng hoặc tụt, xuất hiện tiếng thổi mới ở tim, các rối loạn nhịp, ran ẩm ở phổi, các dấu hiệu của suy tim, phù phổi cấp.... Sau vài ngày có thể thấy tiếng cọ màng tim (hội chứng Dressler).
C. Các yếu tố lâm sàng có giá trị tiên l­ợng bệnh
Việc đánh giá tiên l­ợng bệnh nhân NMCT cấp đóng vai trò rất quan trọng giúp thầy thuốc có thái độ xử trí, theo dõi bệnh, cũng nh­ giải thích cho bệnh nhân và gia đình tốt hơn. Những nghiên cứu lớn trên thế giới đã chỉ ra những yếu tố sau (xếp theo mức độ từ cao đến thấp) có tiên l­ợng xấu đối với NMCT cấp: (bảng 3-1 và 3-2)
1. Tuổi: càng cao tiên l­ợng càng xấu.
2. Huyết áp tâm thu tụt (< 90 mmHg).
3. Độ Killip càng cao tỷ lệ tử vong càng tăng.
4. Nhịp tim nhanh > 100 chu kỳ /phút.
5. Vị trí của NMCT.

3011
17-12-2009, 03:30 PM
Suy tim là một hội chứng bệnh lý th­ờng gặp trong nhiều bệnh về tim mạch nh­ các bệnh van tim, bệnh cơ tim, bệnh mạch vành, bệnh tim bẩm sinh và một số bệnh khác có ảnh h­ởng nhiều đến tim.
Bình th­ờng khi chúng ta cần làm một hoạt động gắng sức nào đó (lao động, chạy nhảy...) thì lập tức tim sẽ tăng tần số và tăng sức co bóp để đ­a đ­ợc nhiều máu (tức là đ­a đ­ợc nhiều ôxy) đến cho các mô của cơ thể. Nh­ng khi tim bị suy, thì tim không còn khả năng cung cấp máu theo nhu cầu của cơ thể nữa. Vì vậy ng­ời ta có thể định nghĩa: Suy tim là trạng thái bệnh lý trong đó cung l­ợng tim không đủ đáp ứng với nhu cầu của cơ thể về mặt ôxy trong mọi tình huống sinh hoạt của bệnh nhân.
Suy tim là một tình trạng bệnh lý rất th­ờng gặp trên lâm sàng. Theo nghiên cứu Framingham thì có khoảng 2,3 triệu ng­ời Mỹ bị suy tim (1981) và cũng ở Mỹ mỗi năm có khoảng 400.000 bệnh nhân mới mắc suy tim (thống kê năm 1983).
Gần đây, trên cơ sở những hiểu biết sâu sắc hơn về cơ chế bệnh sinh của suy tim, về tính năng và tác dụng của một số loại thuốc mới trong điều trị suy tim, ng­ời ta đã thu đ­ợc những kết quả khả quan trong việc điều trị hội chứng này.
I. Sinh lý bệnh
Chúng ta đã biết trong suy tim th­ờng là cung l­ợng tim bị giảm xuống. Khi cung l­ợng tim bị giảm xuống thì cơ thể phản ứng lại bằng các cơ chế bù trừ của tim và của các hệ thống ngoài tim, để cố duy trì cung l­ợng này. Nh­ng khi các cơ chế bù trừ này bị v­ợt quá sẽ xảy ra suy tim với nhiều hậu quả của nó.
A. Các yếu tố ảnh h­ởng đến cung l­ợng tim: Qua nghiên cứu, ng­ời ta đã hiểu rõ đ­ợc cung l­ợng tim phụ thuộc vào 4 yếu tố: Tiền gánh, hậu gánh, sức co bóp của cơ tim và tần số tim.

Sức co bóp cơ tim

Tiền gánh → Cung l­ượng tim ← Hậu gánh

Tần số tim
1. Tiền gánh: (Preload)
a. Tiền gánh đ­ược đánh giá bằng thể tích hoặc áp lực cuối tâm tr­ơng của tâm thất.
b. Tiền gánh là yếu tố quyết định mức độ kéo dài sợi cơ tim trong thời kỳ tâm tr­ương, trư­ớc lúc tâm thất co bóp. Tiền gánh phụ thuộc vào:
- Áp lực đổ đầy thất, tức là l­ợng máu tĩnh mạch trở về tâm thất.
- Độ giãn của tâm thất, nh­ng ở mức độ ít quan trọng hơn.
2. Sức co bóp của cơ tim:
a. Tr­ớc đây bằng thực nghiệm nổi tiếng của mình, Starling đã cho ta hiểu rõ đ­ợc mối t­ương quan giữa áp lực hoặc thể tích cuối tâm tr­ương trong tâm thất với thể tích nhát bóp. Cụ thể là:
- Khi áp lực hoặc thể tích cuối tâm tr­ơng trong tâm thất tăng, thì sẽ làm tăng sức co bóp của cơ tim và thể tích nhát bóp sẽ tăng lên.
- Nh­ng đến một mức nào đó, thì dù áp lực hoặc thể tích cuối tâm tr­ơng của tâm thất có tiếp tục tăng lên đi nữa, thì thể tích nhát bóp sẽ không tăng t­ơng ứng mà thậm chí còn bị giảm đi.
b. Qua đây ta có thể hiểu đ­ợc một vấn đề quan trọng trong suy tim là: áp lực hoặc thể tích cuối tâm tr­ơng trong tâm thất tăng do các nguyên nhân khác nhau, sẽ làm thể tích nhát bóp tăng, nh­ng sau một thời gian sẽ dẫn đến suy tim vì sức co bóp của cơ tim kém dần và khi đó thể tích nhát bóp sẽ giảm đi. Tim càng suy thì thể tích nhát bóp càng giảm.
3. Hậu gánh (Afterload): Hậu gánh là sức cản của các động mạch đối với sự co bóp của tâm thất. Sức cản càng cao thì sự co bóp của tâm thất càng phải lớn. Nếu sức cản thấp quá có thể sẽ làm giảm sự co bóp của tâm thất, nh­ng nếu sức cản tăng cao sẽ làm tăng công của tim cũng nh­ tăng mức tiêu thụ ôxy của cơ tim, từ đó sẽ làm giảm sức co bóp của cơ tim và làm giảm l­u l­ợng tim.
4. Tần số tim: Trong suy tim, lúc đầu nhịp tim tăng lên, sẽ có tác dụng bù trừ tốt cho tình trạng giảm thể tích nhát bóp và qua đó sẽ duy trì đ­ợc cung l­ợng tim. Nh­ng nếu nhịp tim tăng quá nhiều thì nhu cầu ôxy của cơ tim sẽ lại tăng lên, công của cơ tim cũng phải tăng cao và hậu quả là tim sẽ càng bị suy yếu đi một cách nhanh chóng.

3011
17-12-2009, 03:40 PM
1.Đại cương:
1.1.Định nghĩa:
- Bình thường khoang màng phổi không có khí, tràn khí màng phổi là xuất hiện khí trong khoang màng phổi.
- Khí có thể vào trong khoang màng phổi từ 1 trong 3 con đường sau:
+ Không khí đi vào qua đường thở, phế nang vào màng phổi do rách màng phổi tạng.
+ Qua thành ngực, cơ hoành, trung thất hoặc thực quản ( VD trong vết thương thấu ngực ).
+ Do các vi sinh vật trong khoang màng phổi sinh khí.
- Bình thường áp lực màng phổi âm tính từ -3 đến -5cm H2O. Do tràn khí màng phổi gây tăng áp lực màng phổi làm cho phổi bị xẹp xuống, phổi xẹp là khả năng co đàn hồi của nhu mô phôỉ.
1.2.Phân loại :
1.2.1. Phân lại theo nguyên nhân:
- Tràn khí màng phổi tự phát: là tràn khí màng phổi không phải do chấn thương, hoặc vết thương ngực gây ra.
tràn khí màng phổi tự phát được chia làm 2 nhóm:
+ Tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát: tràn khí màng phổi xuất hiện ở những người trước đó khoẻ mạnh, hay gặp ở nam giới, trẻ tuổi ( tỷ lệ nam/nữ = 3/1 ), thường do vỡ các bóng khí ở đỉnh phổi. Cơ chế hình thành các bóng khí còn chưa rõ: có thể do bẩm sinh hoặc do viêm tiểu phế quản tận. thường gặp ở người cao, gầy vì ở cơ địa này áp lực đỉnh phổi thấp hơn dễ gây vỡ các bóng khí. Khoảng 30% số trường hợp tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát bị tái phát.
+ Tràn khí màng phổi tự phát thứ phát: tràn khí màng phổi xuất hiện ở những người bị bệnh phổi trước đó, có biến chứng tràn khí màng phổi, tiên lượng xấu hơn. Thường gặp ở người trên 30 tuổi. Rất nhiều bệnh phổi có thể gây biến chứng tràn khí màng phổi như:
. Do nhiễm khuẩn: do lao phổi có hang hoặc không hang, do viêm phổi tụ cầu vàng, một số vi khuẩn gram ( - ).
. Do bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính: vỡ các bóng khí thũng dưới màng phổi.
. Hen phế quản: có thể kèm theo tràn khí trung thất.
. Các nguyên nhân khác gây tắc nghẽn phế quản: trong ung thư khí phế quản ,ngoài ra có thể gặp do một số bệnh: xơ hoá kén, xơ phổi kẽ lan toả , bệnh bụi phổi , AIDS.
- Tràn khí màng phổi do chấn thương: có thể do chấn thương, vết thương, hoặc do các thủ thuật: chọc và sinh thiết phổi - màng phổi, hồi sức tim phổi, đặt catheter tĩnh mạch dưới đòn...
1.2.2. Dựa vào đo áp lực khoang màng phổi: bằng máy đo áp lực ( máy Kuss hoặc bơm tiêm ) chia tràn khí màng phổi ra làm 3 thể:
- Tràn khí màng phổi kín: chỗ rách của màng phổi đã được bịt lại, đo áp lực khoang màng phổi âm tính, tiên lượng tốt . Nếu tràn khí màng phổi ít ( dưới 10% một bên phổi ) khí có thể tự hấp thu.
- Tràn khí màng phổi hở: chỗ rách của màng phổi vẫn tồn tại, áp lực khoang màng phổi = 0 ( tương đương áp lực khí quyển ).
- Tràn khí màng phổi van: chỗ rách vẫn tồn tại, tạo van 1 chiều, đo áp lực khoang màng phổi dương tính. Ngực bên tràn khí căng phồng, đẩy trung thất sang bên đồi diện, dễ suy hô hấp cấp và truỵ tim mạch , cần phải cấp cứu khẩn cấp.
2.Lâm sàng:
2.1. Triệu chứng cơ năng và toàn thân:
Khởi phát đột ngột, đau ngực dữ dội ( đau chói hoặc đau như xé ngực ). Khó thở cảm giác ngột ngạt, triệu chứng khó thở phụ thuộc vào mức độ tràn khí và bệnh phổi có trước đó. Có thể ho khan. Toàn thân có thể bình thường hoặc sốt. Nếu tràn khí màng phổi mức độ nhiều ( tràn khí van ) khó thở nặng, có biểu hiện suy hô hấp cấp: tím tái, vật vã, mạch nhanh, huyết áp tụt( tình trạng sốc )
2.2. Triệu chứng thực thể:
Khám thấy ***g ngực bên tràn khí giãn và giảm cử động thở, tam chứng Gaillard: gõ vang trống, rung thanh giảm hoặc mất, rì rào phế nang giảm hoặc mất. Có thể khám thấy hội chứng bình kim khí: tiếngthổi bình và lanh tanh kim khí.
Nếu tràn khí ít, triệu chứng thực thể nghèo nàn, thường khám thấy rì rào phế nang giảm. Có thể thấy tràn khí-tràn máu phối hợp: do biến chứng chảy máu khoang màng phổi thường chỉ 200-300ml máu, nếu nhiều máu cần nghĩ đến đứt dây chằng đỉnh phổi.
3. Cận lâm sàng:
3.1. Xquang:
Hình ảnh tăng sáng không có vân của phổi, thấy phổi bị ép lại, nhìn thấy đường viền màng phổi tạng rõ nét, có khi thu nhỏ thành 1 cục giống u ở vùng rốn phổi, gian sườn giãn, đẩy tim và trung thất, vòm hoành hạ thấp.
Nếu tràn khí màng phổi ít chỉ định chụp tư thế thở ra cố sẽ phát hiện rõ hình ảnh tràn khí màng phổi.
- Cần phân biệt tràn khí màng phổi với bóng khí phế thũng lớn trên Xquang vì nếu ta dẫn lưu nhầm bóng khí phế thũng sẽ gây dò phế quản màng phổi.
Trên phim Xquang, tràn khí màng phổi thì bờ màng phổi tạng lồi về thành ngực, ngược lại thành bóng KPT thì lõm. Có thể dựa vào dấu hiệu Bernou (ở phần trước) để phân biệt.
- Chụp cắt lớp vi tính độ phân giải cao phát hiện bóng khí dưới màng phổi ở đỉnh phổi.
3.2. Soi màng phổi:
Khi có chỉ định dẫn lưu màng phôỉ, cần soi màng phổi xác định chính xác nguyên nhân tràn khí và qua ống soi có thể điều trị điện đông hoặc chỉ định phẫu thuật.
4. Điều trị:
4.1. Hút khí màng phổi:
- Tràn khí màng phổi kín: có chỉ định hút hết khí bằng bơm tiêm hoặc máy Kuss. Nếu tràn khí màng phổi mức độ nhiều, thì tránh hút quá nhiều và quá nhanh.
- Tràn khí màng phổi hở: dẫn lưu khí bằng Catheter cần đặt thông dẫn lưu (gian sườn II ) hút liên tục qua máy hút, với áp lực thấp, kết hợp với thở oxy vừa bổ xung oxy vừa tăng khả năng hấp thu khí.
- Tràn khí màng phổi thể van: khi cấp cứu cần đặt ngay kim dẫn lưu 1 chiều ( kim Petrov ) ở gian sườn II đường giữa đòn , sau đó đặt thông dẫn lưu khí và hút liên tục bằng máy hút.
- Dự phòng tái phát bằng bơm Tetraxyclin, bột Talc, gây dính màng phổi, nhất là ở những bệnh nhân tràn khí màng phổi thứ phát, tái phát.
4.2. Điều trị nguyên nhân:
- Do lao: dùng phác đồ chống lao (2SRZH/6HE)
- Do vi khuẩn: dùng kháng sinh. Tuỳ theo nguyên nhân mà điều trị thích hợp.
4.3. Điều trị triệu chứng:
- Chống sốc và truỵ tim mạch, nâng huyết áp, trợ tim, thở oxy 1lít/ 1’ liên tục.
- Giảm đau: aspirin và các thuốc giảm đau.
- An thần , giảm ho.
4.4. Phẫu thuật: thắt buộc các bóng khí, khâu lỗ thủng, Chỉ định khi:
- Dẫn lưu sau 1 tuần không kết quả.
- Tràn khí-tràn máu do đứt dây chằng đỉnh phổi.
- Tràn khí màng phổi tái phát sau khi đã gây dính màng phổi.

3011
22-12-2009, 08:34 AM
Ho ra máu là tình trạng bệnh lý thường gặp trong cấp cứu hồi sức các bệnh đường hô hấp. Mùa đông thời tiết lạnh nguyên nhân dẫn đến các bệnh đường hô hấp gia tăng. Trong đó bao gồm các bệnh là nguyên nhân gây ho ra máu cũng tăng theo.
Ho ra máu có nhiều thể. Thể nhẹ hay gặp nhất và không nguy hiểm. Tuy nhiên, có thể gặp thể ho ra máu nặng, rất nặng gọi ho ra máu sét đánh. Trường hợp này không thể xem thường vì máu ộc ra không cầm được dẫn đến trụy tuần hoàn và tử vong.
Triệu chứng báo hiệu Trước khi ho ra máu, người bệnh cảm thấy bứt rứt, khó chịu, hồi hộp, có cảm giác nóng ra sau xương ức, cảm giác ngột ngạt, nặng nề như có gì đè ép lên ngực một cảm giác không bình thường như thời điểm trước khi có giông bão, một cảm giác khó thở. Người bệnh khò khè, lợm giọng, ngứa cổ họng, cảm thấy có cái gì đó lọc xọc trong ngực; miệng, họng có vị tanh của máu, sau đó ho, khạc, trào, ộc máu từ đường hô hấp dưới (vùng dưới thanh môn) ra ngoài. Biểu hiện lâm sàng
Máu ho ra màu đỏ tươi, ra trong hoặc sau cơn ho. Máu có bọt, có các bóng khí, không lẫn thức ăn. Máu có thể lẫn đờm (chứng tỏ máu ra từ phế quản).
Số lượng máu ho ra có thể ít, chỉ vài tia máu lẫn trong các chất khạc, vài mililit hoặc ra với số lượng trung bình từ vài chục đến một vài trăm mililit, hoặc nhiều hơn, trên 200ml ộc ra ngoài ào ạt, sặc sụa, người bệnh vừa ộc máu, vừa ho, càng ho càng ộc ra nhiều máu hoặc máu chảy ra không thoát ra ngoài được, đông lại trong đường hô hấp, bít tắc các phế quản làm cho bệnh nhân giãy giụa, nghẹt thở.
Ho ra máu có thể ngắn chỉ một vài ngày, thậm chí trong một ngày hoặc kéo dài hơn 5-7 ngày rồi bớt dần và ngừng hẳn. Có trường hợp ho ra máu kéo dài cả tháng, thành từng đợt, mỗi đợt cách nhau vài ngày. Trung bình thì máu ra nhiều trong vài ba hôm rồi bớt dần và hết sau 10-15 ngày. Đuôi máu là thời điểm sau khi ho ra máu nhiều, máu màu đỏ tươi, nay ra số lượng ít dần, màu nâu, nâu xám, màu gỉ sắt hay bã trầu. Đó là giai đoạn đi đến ngừng hẳn của ho ra máu, có giá trị báo hiệu. Ho ra máu sét đánh (gọi là sét đánh do tính chất ra máu đột ngột, nhanh như sét đánh), máu ộc ra không cầm được, ào ạt tuôn ra cho đến khi chết. Người bệnh chết trong cảnh trụy tuần hoàn cấp do mất máu nhiều cấp tính. Ho ra máu nhiều hoặc ho ra máu lần đầu, người bệnh thường hốt hoảng, lo sợ, da tái xanh, vã mồ hôi, mạch nhanh. Nếu máu ra nhiều thì có tình trạng sốc do huyết áp tụt. Bệnh nhân có thể sốt.
Khi ho ra máu nghe phổi có thể thấy các tiếng ran ẩm, ran nổ, ran phế quản...
Nguyên nhân thường gặp
3 nguyên nhân hay gặp nhất của ho ra máu là:
- Lao phổi: Ho ra máu có thể là triệu chứng báo hiệu của lao phổi chưa được chẩn đoán được là biến chứng, là hậu quả của bệnh lao phổi đã được xác định.
-Giãn phế quản
-Ung thư phổi phế quản
Ho ra máu còn có thể do:
-Bệnh phế quản: viêm phế quản cấp tính, mạn tính, hen phế quản...
-Bệnh tim mạch: tăng huyết áp, suy tim...
-Bệnh toàn thân: Bệnh sinh chảy máu, thể trạng rải rác trong lòng mạch, nhiễm khuẩn huyết, bệnh thiếu vitamin C...
Nguyên nhân ngoại khoa: chấn thương, đụng giập ***g ngực, gãy xương sườn, sức ép do bom, do chất nổ...

3011
04-01-2010, 05:27 PM
Hiệu quả 100% khi còn giai đoạn sớm.
Các yếu tố nguy cơ:
-Hoạt động tình dục sớm, giao hợp trước 20 tuổi.
-Quan hệ tình dục lang chạ với nhiều đàn ông.
-Vệ sinh phụ nữ kém.
-Đẻ nhiều.
-Nhiễm virut Herpes, papillome.
Phát hiện sớm như thế nào?
Từ năm 1940 Pâpanicolaou đã sáng tạo ra cách lấy mẫu bệnh phẩm từ cổ tử cung và cách nhuộm tiêu bản để phát hiện sớm mức độ thoái hoá tế bào. Biện pháp này cho đến nay vẫn là hữu hiệu nhất. Chỉ 5 phút bạn không phải khó chịu, hay đau đớn gì. Bác sỹ sẽ quệt tử cung của bạn, phết vào lam kính, nhuộm và xem tế bào qua kính hiển vi. Nếu có gì nghi ngờ bác sỹ sẽ khuyên bạn cách xét nghiệm tiếp và có biện pháp điều trị.
Nên quệt cổ tử cung hàng năm sau 40 tuổi, vào ngày 12 - 14 sau hành kinh.

3011
04-01-2010, 05:29 PM
Có thể phát hiện sớm. Ở Việt Nam đang tăng trưởng nền kinh tế nhanh. Bữa ăn trước năm 1990 còn là gạo hẩm, rau dưa, tới nay đã khác hẳn. Nhiều chị em đã phải đến trung tâm Eva để “thể dục tiêu mỡ”. Bệnh ung thư đại trực tràng cũng tăng lên.
Yếu tố nguy cơ mắc bệnh.
-Gia đình có người bị ung thư đại trực tràng, vú, tử cung, buồng trứng, tuyến tiền liệt, bàng quang.
-Có pôlíp (bướu thịt lành) trong ruột.
-Có bệnh viêm đại tràng lâu ngày.
-Có thói quen ăn ít xơ, nhiều mỡ đạm.
-Tuổi trên 45.
Phát hiện sớm như thế nào?
Cần tìm hồng cầu trong phân khi bạn quá 45 tuổi, có đau bụng, ỉa nhầy mũi, táo lỏng thất thường. Cứ hàng năm thử một lần.
Nếu bạn nghi ngại sẽ soi trực tràng, hay soi đại tràng đã phát hiện bệnh sớm.

3011
06-01-2010, 09:11 AM
Ung thư khoang miệng là gì?

Ung thư khoang miệng là Ung thư ở lớp biểu mô mà tiếng chuyên môn gọi là niêm mạc của lưỡi, amidan, lợi hàm, hàm ếch, môi. . .
Ai hay bị Ung thư khoang miệng?
Thường gặp ở người có tuổi, nam bị nhiều hơn, những người hay uống rượu, hút thuốc, ăn trầu thuốc, nhiễm siêu vi trùng như giang mai cũng có liên quan tới Ung thư.
Các phương pháp phát hiện:
Một số các Ung thư họng miệng có thể dễ dàng nhìn thấy khi người bệnh há miệng rộng quan sát thấy những mảng trắng, hồng nhạt vùng viền đỏ hoặc sờ thấy vùng sơ chai rắn chắc; Một vết loét điều trị dài ngày không khỏi thì phải cảnh giác đi khám chuyên khoa Ung thư để phát hiện ra những tổn thương tiền Ung thư và Ung thư để chữa kịp thời.
Nếu để muộn có thể nổi hạch ở một bên hay hai bên vùng dưới hàm, cạnh cổ. . .
Các bác sĩ khám bệnh sẽ quan sát vùng tổn thương, soi vòm, soi họng, hoặc chụp X-quang và sinh thiết lấy mảnh của khối u loét đó để xét nghiệm mô bệnh học, xác định có phải Ung thư hay không?
Nếu bị Ung thư thì phải làm gì?
Bệnh nhân khi bị chẩn đoán là Ung thư khoang miệng thì cần được chuyển đến các bệnh viện chuyên khoa Ung thư vòm đầu cổ, hàm mặt, tai mũi họng để được điều trị theo chuyên khoa với các chuyên gia phẫu thuật, xạ trị hoặc hoá trị liệu. Tùy theo bệnh Ung thư ở vị trí nào, người bệnh sẽ được cân nhắc để lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp, không nên để kéo dài bệnh trở nên phức tạp khó chữa.

3011
06-01-2010, 09:13 AM
Ung thư phổi: Là loại ung thư phổ biến nhất ở nam giới Việt Nam (ASR 29.3 trên 100000) và ở Hà Nội (ASR 33.1 trên 100000), đứng hàng thứ hai ở nam giới thành phố Hồ Chí Minh (ASR 24.6 trên 100000 dân) Tuy nhiên, tỷ lệ này tương đối thấp so với các ghi nhận khác trong khu vực và trên thế giới. Sự khác biệt một phần có thể giải thích do loại ung thư này gặp nhiều ở tuổi già, những người ít có cơ hội được chẩn đoán. Họ có thể chết tại nhà nhưng do không có hệ thống chứng chỉ tử vong theo nguyên nhân bệnh tật nên đã không được chẩn đoán và ghi nhận. Hút thuốc là nguyên nhân chủ yếu của loại ung thư này. Hút thuốc cũng là thói quen phổ biến của lớp trẻ ở Việt Nam hiện nay. Theo một nghiên cứu gần đây, hút thuốc lào ở Việt Nam cũng có thể là một nguyên nhân của ung thư phổi.
Ung thư gan: Đây là loại ung thư đứng thứ ba ở nam giới (ASR 22.6 trên 100000) và thứ sáu ở nữ giới (ASR 5.8 trên 100000) Việt Nam. Đây là loại ung thư hàng đầu ở nam giới TP Hồ Chí Minh. Tỷ lệ mắc loại ung thư này ở đây cũng cao hơn ở Hà Nội nơi loại ung thư này đứng thứ ba. Tuy nhiên ở phụ nữ tỷ lệ ở hai nơi lại tương tự.
Việt nam nằm trong khu vực có tỷ lệ mắc ung thư gan nguyên phát cao do có tỷ lệ nhiễm trùng HBV và HCV cao. Tỷ lệ ung thư gan tương đối giống với tỷ lệ của các nước trong khu vực.
Ung thư dạ dày: Đứng hàng thứ hai ở nam giới Việt Nam (ASR 23.7 trên 100000) và thứ ba ở nữ (ASR 10.8 trên 100000). Tỷ lệ này ở Hà Nội cao gấp 2 lần ở TP Hồ Chí Minh. Lý do của sự khác biệt chưa rõ. Có thể có một số bệnh viện có nhận điều trị loại ung thư này nhưng lại chư tham gia vào việc cung cấp số liệu. Tỷ lệ mắc ung thư dại dày ở Hà Nội tương tự như của các quần thể người Hoa trong khu vực.
Ung thư vòm: Việt nam nằm trong khu vực có tỷ lệ ung thư vòm cao (ASR là 7.5 ở nam giới và 3.2 ở nữ giới). Tỷ lệ của ung thư này ở Hà Nội (ASR 10.7 ở nam giới, 5.1 ở nữ giới trên 100000) cũng cao hơn ở thành phố Hồ Chí Minh (ASR là 5.1 và 1.5). Nguyên nhân của sự khác biệt này cũng chưa rõ.
Ung thư vú: Mặc dù đây là ung thư hàng đầu ở phụ nữ Việt Nam nhưng tỷ lệ mắc ở người Việt Nam lại tương đối thấp so với số liệu của các nước phát triển và gần với một số quần thể nguy cơ thấp trong khu vực (ASR 17.4 trên 100000). Đây là loại ung thư hàng đầu ở phụ nữ Hà Nội. Tỷ lệ ở đây cũng cao hơn ở thành phố Hồ Chí Minh, nơi mà ung thư này chỉ đứng hàng thứ hai sau ung thư cổ tử cung.
Ung thư cổ tử cung: Đây là ung thư đứng hàng thứ hai ở phụ nữ Việt Nam, tuy nhiên tỷ lệ mắc rất gần với ung thư vú. Tỷ lệ mắc ở thành phố Hồ Chí Minh rất đặc thù cho các quần thể có nguy cơ cao trong khu vực nhưng lại cao gấp 4 lần so với tỷ lệ này ở Hà Nội. Tỷ lệ mắc ung thư cổ tử cung ở Hà Nội gần với của các quần thể có nguy cơ thấp.
Một nghiên cứu gần đây tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh về tỷ lệ nhiễm trùng HPV - nguyên nhân hàng đầu của ung thư cổ tử cung cho thấy tỷ lệ này ở TP Hồ Chí Minh cao gấp 4 lần ở Hà Nội.

3011
06-01-2010, 04:25 PM
Ung thư thanh quản thường được điều trị bằng tia xạ hoặc bằng phẫu thuật. Ðây là các phương pháp điều trị tại chỗ; có nghĩa là chúng chỉ ảnh hưởng tới tế bào ung thư ở vùng được điều trị. Một số bệnh nhân có thể được điều trị bằng hoá chất, được gọi là điều trị toàn thân, có nghĩa là thuốc được vận chuyển đi khắp các mạch máu. Chúng có thể đến được các tế bào ung thư trên toàn bộ cơ thể. Bác sĩ có thể chỉ sử dụng một phương pháp hoặc có thể kết hợp các phương pháp, tuỳ thuộc vào nhu cầu của bệnh nhân.
Trong một số trường hợp, bệnh nhân được giới thiệu đến bác sĩ chuyên điều trị các loại ung thư khác nhau. Thông thường, có nhiều chuyên gia cùng làm việc trong một đội. Ðội ngũ bác sĩ điều trị có thể bao gồm một bác sĩ phẫu thuật, bác sĩ tai mũi họng, bác sĩ ung thư, bác sĩ tia xạ ung thư, bác sĩ chuyên về phát âm, y tá, và chuyên gia dinh dưỡng. Nha sĩ cũng có thể là một thành viên quan trọng trong đội ngũ này, đặc biệt là đối với bệnh nhân được điều trị bằng tia xạ.
Liệu pháp tia xạ sử dụng những tia có năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư và ngăn chặn chúng phát triển. Tia được chiếu vào khối u và vùng xung quanh nó. Bất cứ khi nào có thể, bác sĩ thường gợi ý phương pháp điều trị này vì nó có thể phá huỷ khối u mà không làm bệnh nhân mất tiếng. Liệu pháp chiếu xạ có thể kết hợp với phẫu thuật; nó có thể được sử dụng để làm co nhỏ khối u trước khi phẫu thuật hoặc tiêu diệt tế bào ung thư còn sót lại sau khi phẫu thuật. Hơn nữa, phương pháp chiếu xạ có thể được sử dụng để điều trị những khối u không thể cắt bỏ được hoặc những bệnh nhân không thể phẫu thuật vì những lý do khác. Nếu khối u tái phát sau phẫu thuật, nói chung người ta thường điều trị nó bằng tia xạ.
Chiếu xạ thường được tiến hành 5 ngày trong một tuần trong vòng 5-6 tuần. Vào thời điểm kết thúc, vị trí khối u thường được chiếu một liều tăng cường. Cuốn Liệu pháp chiếu xạ và bạn của Viện ung thư quốc gia có thêm thông tin về hình thức điều trị này.
Phẫu thuật hoặc phẫu thuật kết hợp với tia xạ được chỉ định cho một số bệnh nhân mới được chẩn đoán ung thư. Hơn nữa, phẫu thuật là phương pháp điều trị thường được áp dụng nếu khối u không đáp ứng với liệu pháp chiếu xạ hoặc phát triển trở lại sau khi chiếu xạ. Khi bệnh nhân cần phẫu thuật, kiểu phẫu thuật phụ thuộc chủ yếu vào kích thước và vị trí chính xác của khối u.
Nếu khối u ở trên dây thanh âm rất nhỏ, bác sĩ phẫu thuật có thể sử dụng tia laser, một chùm ánh sáng mạnh. Chùm sáng này có thể cắt bỏ khối u theo cách giống như dùng một dao mổ.
Phẫu thuật để cắt bỏ một phần hoặc toàn bộ thanh quản được gọi là thủ thuật cắt thanh quản bán phần hoặc toàn bộ. Trong cả hai týp phẫu thuật, bác sĩ phẫu thuật phải mở khí quản, tạo ra một lỗ thoát ra phía trước cổ. (Lỗ thoát có thể tạm thời hoặc vĩnh viễn.) Không khí đi vào và ra khỏi khí quản và phổi qua lỗ mở khí quản này. Một ống mở thông khí quản giữ cho đường dẫn khí mới này ở trạng thái mở.

Phẫu thuật cắt bỏ thanh quản bán phần có thể bảo toàn giọng nói. Bác sĩ phẫu thuật chỉ cắt bỏ một phần hộp âm thanh -- chỉ cắt một dây thanh âm, hoặc một đoạn dây thanh âm, hoặc chỉ cắt nắp thanh quản -- và lỗ mở khí quản chỉ là tạm thời. Sau một thời gian hồi phục ngắn, ống mở thông khí quản được rút ra và lỗ thông đóng lại. Bệnh nhân có thể thở và nói chuyện như bình thường. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, giọng nói có thể bị khàn hoặc yếu đi.
Trong phẫu thuật cắt bỏ thanh quản toàn bộ, toàn bộ hộp âm thanh được cắt bỏ, và lỗ thoát được mở vĩnh viễn. Người bị cắt thanh quản thở qua lỗ mở khí quản. Người có thanh quản bị cắt phải học nói theo cách mới.
Nếu bác sĩ cho rằng ung thư có thể đã bắt đầu lan thì các hạch ở cổ và một số mô ở quanh chúng được cắt bỏ. Những hạch này thường là những vị trí đầu tiên ung thư lan tới.
Hoá trị liệu là phương pháp sử dụng thuốc điều trị ung thư để tiêu diệt tế bào ung thư. Bác sĩ có thể gợi ý một loại thuốc hoặc kết hợp nhiều loại thuốc. Trong một số trường hợp, các thuốc chống ung thư được sử dụng để làm co nhỏ khối u trước khi bệnh nhân được phẫu thuật hoặc chiếu xạ. Hơn nữa, hoá chất có thể được sử dụng để điều trị ung thư đã lan.
Thuốc điều trị ung thư thanh quản thường được tiêm vào mạch máu. Thông thường thuốc được điều trị theo chu kỳ -- một đợt điều trị được nối tiếp bằng một đợt nghỉ hồi phục, sau đó là một đợt điều trị khác và một đợt nghỉ hồi phục và tương tự như vậy. Một số bệnh nhân được điều trị hoá chất ngoại trú tại bệnh viện, văn phòng bác sĩ, hoặc tại nhà. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào loại thuốc, kế hoạch điều trị, và tình trạng sức khoẻ chung, bệnh nhân có thể cẩn phải nằm viện trong một thời gian ngắn.

3011
10-01-2010, 08:18 PM
1. Đặc điểm:
- Chiếm 25% các bệnh ung thư ống tiêu hoá, thường ở tuổi 50-60, ở nam gặp nhiều hơn nữ.
- Thường là ung thư liên bào, loại ung thư liên kết hiếm, bệnh tiến triển âm thầm, chậm.
- Hầu hết là nguyên phát trên nền niêm mạc lành, có khi là polyp trực tràng bị ung thư hoá, nhất là bệnh Polyp (polypose), u nhung mao, đôi khi viêm loét trực tràng mạn tính
- Thường là dễ chẩn đoán bằng sờ (thăm trực tràng), nhìn (soi trực tràng), X quang và sinh thiết trực tràng.
2. Giải phẫu bệnh lý:
+ Đại thể: có 3 hình thái
- Thể sùi như súp lơ trên nền cứng
- Loét có bờ nham nhở cứng như “miếng bìa”
- Phối hợp loét với sùi
+ Vi thể: thấy các tế bào ung thư của
- Biểu mô tuyến (tuyến Liberkuhn)
- Biểu mô nhầy (rất ác tính)
- Hoặc Sarrcom trực tràng (rất hiếm)
3. Sự lan tràn của ung thư:
- Ăn quanh khẩu kính trực tràng (khoảng 6 tháng thì tế bào ung thư lan hết cả vòng tròn khẩu kính của trực tràng).
- Quành sang hai bên nhanh, xuống tầng dưới niêm mạc, đến bao xơ thì phát triển chậm lại (giai đoạn lý tưởng để phẫu thuật).
- Lan ra ngoài trực tràng, có khi vào thành âm đạo, tử cung (nữ) hoặc túi tinh, tiền liệt tuyến (nam).
- Lan theo đường tĩnh mạch (rất hiếm, tuy vậy có thể qua đường này di căn lên gan, phổi, xương).
- Lan tràn theo đường bạch mạch chậm.
- Rất ít khi lan tràn theo chiều ngượclại.
4. Triệu chứng lâm sàng
Thường nghèo nàn, ở giai đoạn đầu gần như không có triệu chứng, hoặc một số triệu chứng nhưng bệnh nhân không để ý (ỉa ra máu nhẹ, ỉa chảy thoáng qua, thay đổi thói quen đi ngoài thông thường cảm giác đầy đầy ở bóng trực tràng hậu môn).
a. Giai đoạn khởi phát
- Có dấu hiệu thiếu máu: da xanh, gầy sút
- Ỉa ra máu lẫn phân, hoặc chỉ ỉa ra máu
- Táo bón xen kẽ các đợt ỉa chảy
- Phân biến dạng nhỏ, dẹt (như lá tre).
- Thăm trực tràng:
. Thấy khối u ở bóng trực tràng: cứng, sần sùi, dễ chảy máu
. Tình trạng thành trực tràng dính vào khối u thâm nhiễm chắc, hoặc còn mềm mại.
b. Giai đoạn muộn
- Toàn thân suy kiệt, thiếu máu nặng
- Ỉa ra máu liên tục nhiều, phân dẹt nhỏ
- Đi tiểu khó hoặc không đái được.
- Viêm nhiễm mủ quanh trực tràng.
- Thăm trực tràng:
o Khối u ăn hết vòng của khối kính trực tràng
o U dính vào tổ chức xung quanh, vào tiền liệt tuyến, âm đạo tử cung, phần phụ.
- Viêm tắc tĩnh mạch chi dưới, huyết khối phổi
- Di căn các nơi
5. Triệu chứng cận lâm sàng
a. Soi trực tràng
- Có thể thấy một đám sùi, đụng vào dễ chảy máu, hoặc thấy một mảng nổi gồ lên, giữa bị loét, đụng vào dễ chảy máu.
- Thường thấy tổn thương ung thư ở bóng trực tràng trên đoạn 8cm
- Trong trường hợp nghi ngờ (u lành hay ác tính) thì phải sinh thiết.
b. Các thăm dò khác
- Chụp bóng trực tràng có tráng một lớp baryte: có thể phát hiện được khối u, nhất là chụp nghiêng. Trong các trường hợp khối u cao, gần đại tràng Sigma thì phải chụp trực tràng-đại tràng để phát hiện.
- Chụp thận- bàng quang bằng thuốc cản quang tĩnh mạch: để xác định ung thư trực tràng thâm nhiễm sang đường niệu quản, bàng quang.
- Chụp phổi, xương, hệ tĩnh mạch lách-cửa-chủ xem đã có di căn của ung thư trực tràng tới phổi, gan , lách, xương.

3011
21-01-2010, 09:05 AM
THỰC ĐƠN HÀNG NGÀY
Khối lượng calories hàng ngày: 2000 kcal

Bữa sáng:
-Cháo trắng đặc 200 ml
-Một gói bột ngũ cốc
-Bơ thực vật (Margarin) hoặc dầu ăn: Tương đương với 1/2 thìa cafe
-Trứng 1 quả (Hoặc một thìa ProMod)
-Sữa/Enercal Plus 100 ml
Giữa buổi sáng:
-Một pack ProSure
Bữa trưa:: -Cháo đặc 300 ml
-Thịt 40 g
Trứng 1 quả, và thêm một lòng trắng
-Rau ăn thoải mái, tùy sức
-Hoa quả một phần vừa ăn
-Dầu ăn 1/2 thìa cafe
Giữa chiều:
-Một lát bánh mỳ phết bơ hoặc phomat hoặc một bát cháo 300 ml
-Một pack ProSure
Bữa tối:
-Một bát cháo đặc 300 ml
-Thịt 90 g
-Trứng 1 quả và thêm một lòng trắng
-Rau tùy theo khả năng
-Một phần hoa quả tráng miệng
Bữa khuya:
-Sữa hoặc Enercal Plus theo nhu cầu

3011
21-01-2010, 09:14 AM
Theo quan điểm của các bác sỹ là không nên. Họ nói nên cho người bệnh biết để chính người bệnh sẽ tham gia vào quá trình chữa trị một cách tích cực. Bác sỹ L .H .L một lần đã nói với tôi rằng, suốt hơn 10 năm kinh nghiệm của ông, ông quan sát thấy rằng cái mà bệnh nhân ung thư của ông sợ nhất, là "quá trình" chết, chứ không phải bản thân cái chết. Họ thường sợ quá trình bị bệnh nặng thường rất đau đớn, khổ sở. Cái đó họ sợ hơn là cái chết.
Tất nhiên là khi nói với một người rằng người đó bị ung thư, hẳn sẽ có phản ứng sốc nặng. Nhưng nói chung, sau đó, mọi người sẽ "hoàn hồn" và phần lớn sẽ tích cực tham gia vào quá trình chữa trị. Theo tôi, tình yêu cuộc sống trong mỗi con người là vô cùng lớn. Và tình yêu cuộc sống đó, sẽ giúp người ta có thêm nghị lực để chống chọi với bệnh tật.
Tuy nhiên, chuyện nói thật hay không vẫn phải tùy vào từng hoàn cảnh.

3011
21-01-2010, 09:16 AM
Đa số bệnh nhân ung thư phổi lúc đầu đều ho khan hoặc ho có đờm, thường vào buổi sáng. Ho kéo dài, các thuốc chống viêm, trị ho không có tác dụng. Một nửa số người bệnh ho ra ít máu lẫn đờm.
Bệnh nhân ung thư cũng thường bị đau ngực. Thường không có điểm đau rơ rệt, đau bên có tổn thương giống viêm dây thần kinh liên sườn. Có khi đau quanh bả vai, mặt trong cánh tay.
Hiện tượng khó thở chỉ gặp khi khối u chèn ép hoặc làm tắc khí phế quản, gây xẹp phổi, hoặc ung thư đă di căn màng phổi gây tràn dịch màng phổi. Ngoài ra, bệnh nhân c̣n bị khó nói hoặc nói giọng khàn do khối u chèn ép vào dây thần kinh, khó nuốt do thực quản bị chèn ép, gầy sút, sốt nhẹ...
Việc chụp phổi bằng kỹ thuật X-quang thông thường, chụp cắt lớp vi tính hoặc chụp cộng hưởng từ có thể cho thấy khối u ở vị trí nào của phổi, kích thước bao nhiêu. Để chẩn đoán đúng và phân loại ung thư, góp phần quyết định phương pháp điều trị, cần xét nghiệm mô bệnh học và tế bào học.
Để phát hiện sớm ung thư phổi, nam giới từ 40 tuổi trở lên nếu nghiện thuốc lá kèm ho khan hoặc có đờm kéo dài .

3011
21-01-2010, 09:18 AM
Thuốc Avastin trong điều trị bệnh ung thư có hiệu quả cao hơn nhiều so với các liệu pháp điều trị ung thư khác, đặc biệt là phương pháp điều trị hóa chất. Trong quá tŕnh nghiên cứu, nhóm trên cho biết đối với bệnh nhân ung thư cao tuổi hoặc các bệnh nhân không thể thường xuyên điều trị bằng hóa chất, Avastin đă ngăn sự phát triển của các tế bào ung thư trong ṿng bốn tháng so với các liệu pháp điều trị khác. Nhóm này đă khẳng định Avastin là thuốc điều trị ung thư đầu tiên có tác dụng ngăn chặn h́nh thành hệ thống mạch máu nuôi dưỡng các khối u ung thư. Avastin đă được Cơ quan Dược phẩm và thực phẩm Mỹ (FDA) cho phép lưu hành tại Mỹ năm 2004. Ủy ban châu Âu đă cho phép lưu hành thử nghiệm loại thuốc này trong Liên minh châu Âu từ tháng 1-2005.

3011
21-01-2010, 09:46 AM
Hầu hết ung thư da phát sinh do bị ảnh hưởng kéo dài tác dụng tia cực tím của ánh nắng mặt trời. Các tia cực tím xuyên qua da và làm tổn thương các tế bào sống, lúc đầu làm cho da rám nắng, nếu như tiếp tục bị phơi dưới ánh nắng mặt trời quá mức, tia cực tím sẽ gây nguy hiểm cho da và làm cho bạn già trước tuổi.
Một số ung thư da được phát hiện từ các nguyên nhân khác như: tia bức xạ ion hóa, các sản phẩm của nhựa than đá, thạch tín...Ung thư biểu mô tế bào đáy: hay gặp ở những vùng da hở, tiếp xúc với ánh sáng mặt trời. Là loại ung thư dễ chữa nhất, tỉ lệ khỏi bệnh gần 100%.
Ung thư biểu mô gai sừng hóa: hay phát triển từ sẹo bỏng, hoặc vết loét lâu ngày, là loại hay di căn hạch, có thể gây tử vong cao, nếu không được phát hiện, chẩn đoán sớm và điều trị hợp lý.
Ung thư hắc tố: là loại thứ 3 của ung thư da, thường khởi đầu từ một nốt ruồi lành, tàn nhang hoặc một đám sắc tố bẩm sinh (bớt) nhưng cũng có thể phát triển ở chỗ da bình thường... Đây là loại ung thư của da, hay di căn tới các bộ phận khác của cơ thể.
Các loại ung thư xuất phát từ các tuyến dưới da như ung thư biểu mô tuyến mồ hôi hay tuyến bã.
Những người nào có nguy cơ bị ung thư da?
Tất cả những người mà da của họ không thường xuyên được bảo vệ khi tiếp xúc với ánh sáng mặt trời.
-Những người da trắng dễ có nguy cơ bị ung thư da hơn những người da màu.
-Những người làm việc ngoài trời như nông dân, thủy thủ, người làm đường...
-Những người bị bệnh khô da nhiễm sắc, thiếu khả năng phòng ngừa tác hại của tia tử ngoại, có tính chất di truyền có nguy cơ cao hoặc những người bị bạch biến do rối loạn chức năng sinh sản hắc tố.
-Những người có vết sẹo bỏng cũ lâu ngày do xăng, vôi hoặc các sẹo do vật gây cháy khác.
-Những người có vết loét hoặc ổ viêm nhiễm lâu ngày.
Các dấu hiệu và triệu chứng của ung thư da
-Vết loét dai dẳng, thỉnh thoảng lại chảy máu hoặc có thể khỏi trong từng thời kì.
-Những thay đổi tại một vùng da bị sừng hóa do ảnh hưởng của ánh mặt trời như chảy máu, loét, cục nhỏ...
-Loét hay nổi cục tại vùng da đã được tia xạ từ trước hoặc tại một vết sẹo hay một đường dò.
-Một vết đốm đỏ nhạt mạn tính với sự xước trợt nhẹ.
Với ung thư hắc tố các dấu hiệu cần được chú ý:
- Thay đổi về màu sắc: hầu hết các ung thư hắc tố có màu sắc không đồng đều với những sắc thái khác nhau của màu nâu, đen, đỏ, trắng, xanh. Những nốt ruồi đang chuyển màu là những tổn thương đặc biệt nghi ngờ.
- Ở người trưởng thành: một nốt ruồi phát triển to nhanh trong vài ngày hoặc vài tuần.
- Thay đổi về bề mặt nốt ruồi: từ nhẵn trở nên gồ ghề, có vẩy hoặc loét.
- Thay đổi về ranh giới: Nốt ruồi lành có ranh giới rõ, thấy nghi ngờ khi xung quanh có hình răng cưa, vết khía hoặc phát triển không đều về một phía
- Các nốt ruồi có cảm giác: ngứa, chảy máu, hoặc chảy nước vàng.

3011
22-01-2010, 08:32 AM
Trước một bệnh nhân có những triệu chứng trên, phải nghi ngờ và được khám tỉ mỉ vòm họng đó là: soi vòm gián tiếp qua gương hoặc soi vòm bằng ống soi (cứng, mềm). Qua soi vòm có thể thấy một tổ chức sùi mủn nát, loét hoặc thâm nhiễm dễ chảy máu.
1. Sinh thiết khối u, chẩn đoán giải phẫu bệnh lý: là yếu tố chẩn đoán xác định.
2. Chẩn đoán tế bào học: có ý nghĩa định hướng (tế bào tại vòm họng hoặc tại hạch cổ).
3. Chẩn đoán huyết thanh: phương pháp này dựa vào mối liên quan của EBV với UTVH, có thể tiến hành trên hàng loạt người để phát hiện sớm ngay khi triệu chứng lâm sàng chưa rõ. Nhưng cũng không có giá trị chẩn đoán xác định mà vẫn phải dựa vào kết quả giải phẫu bệnh lý.
4. Chẩn đoán X- quang.
- Tư thế Hirtz.
- C.T.Scan vùng vòm họng, nền sọ: đánh giá sự lan tràn và phá hủy của khối u lên nền sọ.
5. Chẩn đoán phóng xạ: có thể chẩn đoán sớm được kích thước khối u, chẩn đoán được tình trạng di căn xa của bệnh.

3011
22-01-2010, 12:40 PM
Theo TS Lê Văn Trường, Trưởng khoa Can thiệp Tim mạch, Bệnh viện Quân đội 108, phương pháp tắc động mạch tử cung (Uterine Artery Embolization) điều trị u xơ là phương pháp can thiệp nội mạch ít xâm nhập, được áp dụng rộng rãi trên thế giới 13 năm qua và ở Việt Nam đã 8 năm nay. Ưu điểm của kỹ thuật này an toàn, hiệu quả cao, không phải mổ cắt tử cung, mang lại chất lượng cuộc sống tốt hơn cho người bệnh. Từ năm 1995, khi phương pháp tắc động mạch tử cung trở thành kỹ thuật điều trị UXTC thường quy trên thế giới, đã có hàng chục ngàn bệnh nhân được áp dụng tiến bộ này với kết quả thành công từ 90 - 95%. Mục tiêu của phương pháp này là biến một UXTC có triệu chứng thành 1 sẹo tử cung không triệu chứng. Gọi là sẹo vì khối UXTC không còn máu nuôi sau tắc mạch, bị hoại tử vô trùng và teo dần đi. Mức độ teo nhỏ khác nhau tuỳ bệnh nhân, có thể mất hẳn trên siêu âm.
TS Trường cũng cho biết, bệnh UXTC rất thường gặp, có khoảng 30 - 40% số phụ nữ trong độ tuổi 30 - 50 mắc bệnh này. Đây là bệnh lành tính, phát triển từ từ, diễn biến lâm sàng rất đa dạng. Phần lớn bệnh nhân không có triệu chứng cơ năng. Những trường hợp này được phát hiện bệnh tình cờ qua kiểm tra siêu âm. Khối u có thể giữ nguyên kích thước hoặc thay đổi không đáng kể trong thời gian dài và không gây ra triệu chứng gì, thậm chí đến tuổi mãn kinh. Khoảng 30% số bệnh nhân có triệu chứng cơ năng, có thể là một hay nhiều trong số các dấu hiệu sau: Cường kinh, đau bụng kinh, có máu cục, đau hạ vị, đái tăng lần, khó thụ thai, dễ sảy thai...
TS Trường cho biết thêm, có nhiều phương pháp điều trị UXTC áp dụng cho từng trường hợp cụ thể. Hai nhóm phương pháp điều trị chính là bảo tồn và cắt triệt để. Điều trị bảo tồn bằng nội khoa có tác dụng giảm triệu chứng và giảm kích thước khối u, nhưng hiệu quả không lâu dài, triệu chứng dễ tái phát khi ngừng thuốc. Phẫu thuật bảo tồn bóc nhân xơ (myomectomy) có hiệu quả tốt, nhưng dễ tái phát, khó áp dụng cho các trường hợp nhiều u xơ. Phẫu thuật triệt để cắt tử cung (hysterectomy) toàn phần hoặc bán phần vẫn đang là kỹ thuật được áp dụng rộng rãi hơn cả ở các khoa và viện phụ sản.

3011
28-01-2010, 08:53 AM
Chủ yếu ung thư gan (ung thư biểu bì gan) thường hình thành trong chính những lá gan do:
- Khuyết tật bẩm sinh.
- Do uống rượu, hay bị ảnh hưởng lâu dài bởi nhiều loại bệnh chẳng hạn như viêm gan B hay viêm gan C, hemochromatosis (trong gan có quá nhiều sắt).
- Bệnh xơ gan (uống rượu làm cho gan bị tổn thương, viêm gan B hay C, hay hemochromatosis đều chắc chắn là nguyên nhân làm hỏng và gây bệnh cho gan).
- Những người mắc bệnh do di truyền gọi là hemochromatosis, hay bệnh thừa sắt, thì thậm chí nguy cơ ung thư còn hơn rất nhiều.
- Do phơi nhiễm thuốc diệt cỏ và các chất hoá học như nhựa viny clorua và thạch tín.
- Hút thuốc lại hay uống rượu thì càng làm tăng nguy cơ.
- Chất độc tạo thành trong bào tử nấm được sinh ra từ một loại mốc của cây cũng gây ung thư. Những chất độc trong bào tử nấm sẽ làm hỏng lúa mỳ, lạc, gạo, ngô hay đậu tương.
Những nhân tố khác bao gồm:
- Giới tính: Đàn ông thường mắc bệnh ung thư gan nhiều hơn phụ nữ.
- Những vận động viên nữ phải sử dụng hormon để phát triển cơ trong thời gian dài có thể tăng nguy cơ ung thư gan.
- Các loại thuốc tránh thai. Chúng có thể tăng nguy cơ ung thư gan. Hầu hết những loại thuốc tránh thai có liên quan tới bệnh ung thư này đều không được sử dụng trong thời gian dài.

3011
08-02-2010, 09:50 AM
Sự phát triển bất thường của các tế bào ác tính xảy ra là do gene của tế bào bị đột biến. Sự đột biến gene này do nhiều nguyên nhân gây ra. Có thể là do di truyền, tế bào đã có một gene bị đột biến từ thế hệ trước. Tuy nhiên, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến bệnh ung thư là do môi trường (các yếu tố trong cuộc sống, các chất độc hại) làm đột biến nhiều gien mà gây ra.
Tư xưa đến nay, bệnh ung thư vẫn luôn tồn tại, nhưng trước kia ông bà ta nhiều khi không biết mình có bệnh. Đó một phần do khả năng chẩn đoán ung thư có hạn, phần khác do các cụ chết vì các bệnh truyền nhiễm, tuổi thọ trung bình thấp, không đủ thời gian cho ung thư phát bệnh. Ngày nay, cuộc sống đã cải thiện nhiều, vệ sinh phòng bệnh tốt hơn, nhiều bệnh trước là nan y nay đã có thuốc chữa, con người sống lâu, sống khỏe hơn. Các khối u ác có thể phát triển đến mức chín muồi, nhận thấy và chẩn đoán được, chính vì thế mà tỷ lệ ung thư ngày nay cao hơn. Ô nhiễm môi trường do các chất thải công nghiệp, đô thị, do các hóa chất được dùng trong bảo quản chế biến thức ăn ngày càng được dùng nhiều và ngoài khả năng kiểm soát của các cơ quan chức năng, do lối sống kém vận động hơn...do các hóa chất dùng trong nông nghiệp cũng là một yếu tố kích thích sự hình thành ung thư.

3011
08-02-2010, 09:52 AM
*Tránh các thứ làm tăng nguy cơ bệnh ung thư
Ở nước ta, thuốc lá là yếu tố hàng đầu làm tăng nguy cơ bị các bệnh ung thư. Có thể bạn cho rằng hút thuốc chẳng hại gì, hoặc có chết sớm một chút cũng được, nhưng bạn sẽ thay đổi ý kiến nếu bạn có người thân chết vì ung thư phổi và được chứng kiến căn bệnh đó giết người ta như thế nào. Khói thuốc lá còn có liên hệ với nhiều loại ung thư khác nữa. Càng hút nhiều, hút lâu, tiếp xúc nhiều với khói thuốc của người khác, bạn càng có nhiều khả năng bị ung thư, bất kể bạn là nam hay nữ giới. Rượu và thuốc lá như hai yếu tố cộng hưởng, người nào vừa hút thuốc vừa uống rượu thì có nguy cơ ung thư rất cao.
Bên cạnh khói thuốc lá, có nhiều chất khác cũng làm tăng nguy cơ ung thư như chất phóng xạ, amiăng, lưu huỳnh, thức ăn cháy đắng, đồ ăn rán xào nhiều mỡ, chất bảo quản... Người Trung Quốc ăn nhiều thức ăn xào rán nên bị ung thư đường tiêu hóa nhiều hơn các nước khác.
Ngoài ra, y học đã phát hiện một số loại vi rút có khả năng gây ung thư. Vi rút papilloma có một số chủng có thể gây ung thư cổ tử cung và ung thư dương vật. Bạn hãy dùng bao cao su khi quan hệ tình dục để tránh vi rút này. Nếu có viêm nhiễm ở đường sinh dục, bạn hãy chữa trị ngay. Vi rút viêm gan B ở một số người gây bệnh gan mãn tính, rồi sau đó tiến triển thành sơ gan, ung thư gan. Loại này lây qua đường tình dục và đường máu, bạn hãy tích cực phòng ngừa.
* Tăng cường sức khỏe để có sức đề kháng tốt nhất
Người khỏe mạnh thì sức đề kháng cao, hệ miễn dịch có khả năng kháng cự với các mầm bệnh ung thư sớm. Nếu sức đề kháng giảm, nguy cơ ung thư cũng tăng lên (những người mang vi rút HIV bị giảm sức đề kháng nên có tỷ lệ ung thư cao). Bạn hãy luôn rèn luyện cơ thể khỏe mạnh. Điều này không chỉ giúp phòng những bệnh thông thường mà còn giảm nguy cơ ung thư nữa.
* Phát hiện bệnh sớm
Một bí quyết đối phó tốt với bệnh ung thư là phát hiện sớm và điều trị ngay, vì khi đó khả năng trị khỏi lớn hơn nhiều so với khi ung thư đã phát triển và di căn. Nhiều bệnh nhân thấy có khối u nhưng “vì bận quá nên mặc kệ, chắc nó khỏi thôi mà”, hoặc “có đau đâu mà đi khám”, để đến khi ung thư quá lớn và di căn thì không chữa được. Khi trình bày về ung thư sinh dục, chúng tôi sẽ giới thiệu với các bạn cách tự khám vú, tự khám tinh hoàn, và phiến đồ âm đạo. Bạn hãy thực hiện những biện pháp phòng ngừa ấy, để tránh cho mình những đau đớn và mất mát không đáng có.

3011
16-02-2010, 01:56 AM
U lympho không Hodgkin (ULKH) là các khối u ác tính có nguồn gốc từ hệ thống lưới bạch huyết không phải là bệnh Hodgkin.
Chẩn đoán giai đoạn :
Giai đoạn 1 : Chỉ có 1 khối u hoặc 1 vùng hạch (ngoại trừ ở trung thất và ổ bụng)
Giai đoạn 2 : Khối u và hạch ở những vùng cùng 1 phía của cơ hoành 2 hay nhiều vùng hạch.
2 khối u + có/không tổn thương hạch.
Khối u đầu tiên ở đường tiêu hoá, thường ở vùng hồi manh tràng, có/không có hạch ở mạc treo ruột.
Giai đoạn 3 : Khối u và hạch tổn thương ở cả 2 phía của cơ hoành
2 khối u riêng biệt
2 hay nhiều vùng hạch
U tiên phát ở trung thất, màng phổi, tuyến ức
U ở bụng nhưng không cắt hết được
U cạnh cột sống
Giai đoạn 4 : Có biểu hiện thêm ở tuỷ xương và hệ thần kinh trung ương

3011
16-02-2010, 02:01 AM
Triệu chứng lâm sàng:Thường nghèo nàn, ở giai đoạn đầu gần như không có triệu chứng, hoặc một số triệu chứng nhưng bệnh nhân không để ý (ỉa ra máu nhẹ, ỉa chảy thoáng qua, thay đổi thói quen đi ngoài thông thường cảm giác đầy đầy ở bóng trực tràng hậu môn).
a. Giai đoạn khởi phát
- Có dấu hiệu thiếu máu: da xanh, gầy sút
- Ỉa ra máu lẫn phân, hoặc chỉ ỉa ra máu
- Táo bón xen kẽ các đợt ỉa chảy
- Phân biến dạng nhỏ, dẹt (như lá tre).
- Thăm trực tràng:
. Thấy khối u ở bóng trực tràng: cứng, sần sùi, dễ chảy máu
. Tình trạng thành trực tràng dính vào khối u thâm nhiễm chắc, hoặc còn mềm mại.
b. Giai đoạn muộn
- Toàn thân suy kiệt, thiếu máu nặng
- Ỉa ra máu liên tục nhiều, phân dẹt nhỏ
- Đi tiểu khó hoặc không đái được.
- Viêm nhiễm mủ quanh trực tràng.
- Thăm trực tràng:
+ Khối u ăn hết vòng của khối kính trực tràng
+ U dính vào tổ chức xung quanh, vào tiền liệt tuyến, âm đạo tử cung, phần phụ.
- Viêm tắc tĩnh mạch chi dưới, huyết khối phổi
- Di căn các nơi.

3011
16-02-2010, 09:42 PM
Triệu chứng chẩn đoán
*Triệu chứng cơ năng:
Các nang buồng trứng khi kích thước còn nhỏ triệu chứng nghèo nàn, có những khối u tiến triển âm thầm, người bệnh có cảm giác hơi tức hoặc ậm ạch vùng hố chậu, ít gây ảnh hưởng rối loạn kinh nguyệt nên thường bỏ qua. Khi u phát triển nhanh bệnh nhân tự sờ thấy hoặc các triệu đau tăng lên, đái buốt, đái dắt, đái khó, đại tiện khó. Thường đó là giai đoạn muộn. Với những u có cuống dài, xuất hiện các triệu chứng ngoại khoa: đau bụng dữ dội, đột ngột, có khi như dao đâm buộc bệnh nhân phải đi bệnh viện cấp cứu.
* Triệu chứng thực thể:
U có kích thước lớn dễ dàng sờ được qua thành bụng, khối u lồi lên làm bụng vồng cao, có ranh giới rõ, mật độ mềm hoặc căng, sờ có thể di động, có khi không di động.
Thăm âm đạo hoặc thăm trực tràng sờ được khối u ở cạnh tử cung, ranh giới rõ khoặc không rõ, mật độ u mềm hoặc căng, có khi u đè lên tử cung và khó xác định.
* Cận lâm sàng:
- Siêu âm: Âm vang thưa hoặc loãng. Nếu có khối u đường kính < 5cm thì cần theo dõi u cơ năng.
Có thể dùng thước đo buồng tử cung để chẩn đoán u nang buồng trứng.
- Chụp XQ:
+ Chụp ổ bụng không chuẩn bị có hình cản quang đậm âm là u bì buồng trứng
+ Chụp XQ tử cung vòi trứng có bơm thuốc cản quang có thể thấy hình ảnh u gián tiếp.
- Soi ổ bụng có thể thấy được các khối u khi còn nhỏ.
- Nếu u quá to, siêu âm không thể phát hiện được ranh giới của u thì phải dùng CT Scanner.

3011
18-02-2010, 04:17 PM
Các nhà khoa học thuộc Đại học Washington đã tiến hành điều tra về môi trường sống, lịch sử chữa trị và khả năng sinh đẻ của 64.000 phụ nữ, trong đo có 3,2% số phụ nữ mắc bệnh u xơ tử cung.
Các kết quả nghiên cứu khoa học của Mỹ công bố ngày 6/2 cho biết, nếu thai phụ mắc bệnh u xơ tử cung thì xác suất tử vong cho thai nhi sẽ cao hơn rõ rệt so với thai phụ bình thường khác.
Các nhà khoa học thuộc Đại học Washington đã tiến hành điều tra về môi trường sống, lịch sử chữa trị và khả năng sinh đẻ của 64.000 phụ nữ, trong đo có 3,2% số phụ nữ mắc bệnh u xơ tử cung.
Sau khi tiến hành nghiên cứu so sánh giữa những phụ nữ mắc bệnh u xơ tử cung khi mang thai với những phụ nữ bình thường, các nhà khoa học phát hiện, tỷ lệ thai nhi tử vong ở những phụ nữ mắc bệnh u xơ cao hơn nhiều lần so với những phụ nữ bình thường.
Các nhà khoa học chỉ rõ u xơ tử cung là loại bệnh không xuất hiện triệu chứng, một số phụ nữ sau khi mắc bệnh thậm chí không biết mình đã mắc bệnh. Vì vậy các nhà khoa học kêu gọi tăng cường điều tra đối với phụ nữ mang thai để sớm phát hiện vấn đề và áp dụng biện pháp điều trị kịp thời./.

3011
18-02-2010, 04:19 PM
Các chuyên gia của Tổ chức Liên hiệp Quốc tế Chống ung thư (UICC) công bố một báo cáo mới nhân ngày Thế giới Chống ung thư 4-2, rằng 40% bệnh nhân ung thư có thể tránh khỏi căn bệnh chết người này nếu trước đó họ tránh bị nhiễm trùng và thực hành tốt lối sống lành mạnh .
Các chuyên gia của Tổ chức Liên hiệp Quốc tế Chống ung thư (UICC) công bố một báo cáo mới nhân ngày Thế giới Chống ung thư 4-2, rằng 40% bệnh nhân ung thư có thể tránh khỏi căn bệnh chết người này nếu trước đó họ tránh bị nhiễm trùng và thực hành tốt lối sống lành mạnh
Trong số 9 dạng nhiễm trùng có nguy cơ dẫn đến ung thư, các nhà khoa học đặc biệt lưu ý ung thư cổ tử cung và ung thư gan như hai dạng điển hình có thể ngăn ngừa được bằng vắc-xin. Họ kêu gọi các nhà làm chính sách tạo điều kiện cho nhiều người được tiếp cận với vắc-xin phòng chống viêm gan siêu vi B và virus gây ung thư cổ tử cung papillomavirus.
Bên cạnh đó, các chuyên gia kêu gọi lối sống lành mạnh như bỏ hút thuốc lá, ăn uống hợp lý hơn, hạn chế dùng rượu và phơi nắng quá nhiều...
Báo cáo nói trên dự báo số người chết vì bệnh ung thư sẽ tăng 45%, lên đến 11,5 triệu người, vào năm 2030.

3011
18-02-2010, 04:22 PM
Hiện trên thế giới mỗi năm có khoảng 12 triệu người được phát hiện mắc ung thư. Việt Nam cũng là quốc gia có tỷ lệ mắc bệnh này thuộc loại cao.
Thông tin này được đưa ra trong buổi phát động chiến dịch mang tên "Ung thư cũng có thể ngăn ngừa" nhân ngày Ung thư thế giới (4/2), do Hiệp hội phòng chống ung thư thế giới (UICC) tổ chức.
Theo thống kê của Bộ Y tế, năm 2008 tại Việt Nam đã có hơn 87.280 ca ung thư ác tính được phát hiện. Đứng đầu là ung thư vú với gần 8.400 ca, kế đến là ung thư cổ tử cung, gần 6.770 ca, ruột kết và trực tràng gần 6.290, dạ dày 5.860, khí quản, phế quản và phổi 5.800 ca.
Trước tình hình gia tăng bệnh nhân ung thư, Bộ Y tế đã có quyết định thành lập mạng lưới phòng chống ung thư trên toàn quốc. Theo đó, từ nay tới đến năm 2020, ngoài Bệnh viện Ung bướu quốc gia, Viện Ung thư quốc gia và Bệnh viện Ung bướu TP Hồ Chí Minh; cả nước sẽ có thêm 7 trung tâm ung bướu tại 7 bệnh viện lớn, cùng 6 bệnh viện ung bướu, 8 trung tâm ung bướu và 31 khoa ung bướu tại nhiều tỉnh, thành phố.

3011
18-02-2010, 04:31 PM
Quý ông trong độ tuổi trung niên thường gặp những rắc rối về sức khỏe do sự suy giảm chức năng sinh lý cũng như lão hóa. Đây cũng là thời điểm xuất hiện nhiều bệnh nhất.
Quý ông trong độ tuổi trung niên thường gặp những rắc rối về sức khỏe do sự suy giảm chức năng sinh lý cũng như lão hóa. Đây cũng là thời điểm xuất hiện nhiều bệnh nhất.
Dấu hiệu bệnh tim mạch:
Khi bạn có cảm giác bị đau ngực có thể là dấu hiệu của cơn đau do căn bệnh tim mạch đang tấn công. Nếu cảm giác đau ngực đi kèm với cơn đau ở cánh tay trái, đau hàm, toát mồ hôi và khó thở thì nguy cơ càng lớn. Nếu bỗng nhiên đau thắt ngực, kèm theo khó thở cần lập tức gọi bác sĩ.
Các bệnh liên quan đến thận và bàng quang:
Bạn sẽ bị coi là mắc các bệnh liên quan đến thận và bàng quang nếu như xuất hiện những triệu chứng như có sỏi, nhiễm trùng hay viêm đường tiết niệu gây ra hiện tượng lẫn máu trong nước tiểu, nguy hiểm hơn, tình trạng lẫn máu trong nước tiểu có thể còn triệu chứng của bệnh ung thư thận hay bàng quang.
Ung thư ruột, hay chảy máu dạ dày:
Nếu bạn phát hiện ra máu lẫn trong phân, phải thật nhanh chóng tới bệnh viện để kịp thời xử lý trước khi quá muộn, bởi có thể bạn đang bị chứng ung thư ruột, hay chảy máu dạ dày rất nguy hiểm.
Dấu hiệu của bệnh phì đại tuyến tiền liệt:
Nếu trước đây bạn không có hay rất ít khi đi tiểu vào ban đêm, mà nay thường bị tỉnh giấc nhiều lần và đi tiểu, kèm theo dòng chảy của nước tiểu bị ngắt quãng, hay rất khó để bắt đầu, cần hết sức thận trọng. Đó là những dấu hiệu của bệnh phì đại tuyến tiền liệt, mà để lâu có thể phát triển thành ung thư tuyến tiền liệt.
Phù nề:
Chứng phù nề là dấu hiệu cảnh báo cơ thể bạn đang mắc phải những căn bệnh liên quan đến tim mạch, thận hay gan.
Dấu hiệu của tiểu đường:
Tổn thương da kéo dài hoặc nước tiểu có màu trắng hoặc vàng đục. Những tổn thương trên bề mặt da - nhất là khi những tổn thương đó không phải ở vùng mặt - thường bị chúng ta bỏ qua, nhưng đây có thể là “điềm báo trước” của bệnh tiểu đường.
Tổn thương hệ thần kinh:
Dễ nổi cáu, thường cảm thấy bất an, hoa mắt, chóng mặt, có thể bạn bị bệnh cao huyết áp ghé thăm hoặc những tổn thương của hệ thần kinh.
Viêm phế quản và lao phổi:
Nếu xuất hiện những cơn ho dai dẳng, thậm chí là ho có đờm và ho ra máu khi thời tiết thay đổi. Đó là những dấu hiệu của căn bệnh viêm phế quản và lao phổi khi về già.
Gan và cơ quan tiêu hóa “trục trặc”:
Biểu hiện dễ nhận biết của bệnh này là tình trạng đầy bụng, khó tiêu (dù chỉ sử dụng những thức ăn ít dầu mỡ), đại tiện không đều hoặc "tửu lượng" yếu hẳn.
Bệnh về đường tiêu hóa: Khi bạn cảm thấy bụng thường xuyên đau tức, kèm theo ợ chua, ợ nóng, rất có thể bạn đang phải gánh chịu các bệnh về đường tiêu hóa như: viêm loét dạ dày mãn tính, phù nề dạ dày...
Xơ cứng động mạch não, nhồi máu não:
Trí nhớ giảm sút nghiêm trọng, thậm chí là có thể quên ngay những gì mình nói là những dấu hiệu điển hình của các căn bệnh này.
Vấn đề về xương khớp:
Chứng đau cứng, khó cử động khớp, kèm theo cảm giác ngứa râm ran khắp cơ thể, nhất là vào buổi sáng sớm là dấu hiệu của viêm xương, xốp xương, thấp khớp...
Các bệnh về thận:
Biểu hiện ra ngoài bằng một loạt các triệu chứng điển hình như: sụp mí mắt, phù mặt cùng đau lưng và nhức đầu.

3011
18-02-2010, 04:34 PM
Cholesterol cao:
Cholesterol cao là kẻ giết người thầm lặng, nhưng hầu hết mọi người không kiểm tra hàm lượng này thường xuyên. Một cách dễ dàng để biết liệu hàm lượng cholesterol của bạn có quá cao hay không là hãy nhìn vào gương.
Nếu có một vòng trắng quanh mống mắt (phần có màu của mắt) thì hãy coi chừng. Nếu có những cục nhỏ màu trắng, đường kính vài milimet trên thùy tai bạn cũng nên đến gặp bác sĩ.
Đột quỵ:
Là kẻ thù nguy hiểm đứng thứ 3 của các quý ông, chỉ sau bệnh tim và các dạng ung thư. Đột quỵ ở nam giới chiếm tỉ lệ cao hơn 1,25 lần so với nữ, nhưng khi về già nguy cơ sẽ là như nhau ở cả nam và nữ. Kiểm soát huyết áp sẽ ngăn ngừa sự xuất hiện của đột quỵ.
Ung thư phổi:
Kẻ thù hàng đầu trong các chứng ung thư ở cả hai giới. Ung thư phổi cướp đi nhiều sinh mạng hơn cả ung thư tuyến tiền liệt, ruột kết và ung thư vú. Tại Mỹ, ước tính có hơn 300.000 trường hợp nhiễm mới và 160.000 cái chết do ung thư phổi ở nam giới mỗi năm.
Không chỉ có thuốc lá là nguyên nhân gây ung thư phổi, mà còn có các nhân tố nguy cơ khác như phơi nhiễm với khói thuốc (hút thuốc thụ động), nhiễm mi-ăng (asbestos) hoặc randon, có lịch sử cá nhân liên quan đến nicotine, ô nhiễm không khí...
Bệnh về tuyến giáp hay ung thư:
Nếu giảm cân đột ngột mà không rõ nguyên nhân thì rất có thể quý ông đang mắc căn bệnh liên quan đến tuyến giáp hay ung thư. Theo GS J. Bonhomme ở Viện Sức khỏe Quốc gia Mỹ, các nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở quý ông là hậu quả của việc thiếu quan tâm đến bản thân.

3011
18-02-2010, 04:40 PM
Ung thư vòm họng (UTVH) là bệnh có đặc thù khu vực, tỉ lệ mắc cao nhất ở miền Nam Trung Quốc, Việt nam và các nước khu vực Đông Nam Châu á có tỉ lệ mắc trung bình. Theo ghi nhận của ung thư ở Hà Nội thì UTVH là bệnh đứng hàng đầu trong các loại ung thư vùng đầu mặt cổ và đứng thứ tư trong các loại ung thư nói chung.
Nguyên nhân UTVH cho tới nay chưa được xác định rõ ràng. Tuy nhiên, người ta có nói đến ba yếu tố nguy cơ chính của căn bệnh này là virus Epstein-Barr, di truyền và môi trường.
Triệu chứng:
Các dấu hiệu sớm: Các dấu hiệu sớm thường nghèo nàn, bệnh nhân thường không để ý, và hay nhầm với các bệnh viêm mũi xoang. Bệnh nhân có thể bị đau đầu, ngạt mũi thoáng qua. Các triệu chứng thường xảy ra ở một bên. Đôi khi có xuất hiện hạch cổ ngay từ đầu, hạch nhỏ không đau.
Các dấu hiệu muộn: Thường có sau 6 tháng kể từ khi có triệu chứng đầu tiên, thường do khối u phát triển tại chỗ hoặc xâm lấn gây ra.
Triệu chứng hạch cổ: phổ biến nhất là vị trí hạch cổ cao, đặc biệt là hạch cổ sau trên.
Triệu chứng mũi: ngạt tắc mũi, chảy máu mũi, hay xì ra nhày lẫn máu do u lớn gây bít tắc hoặc do hoại tử u.
Triệu chứng tai: phổ biến nhất là mất nghe một bên do u làm tắc vòi Eustachio dẫn tới viêm tai thanh dịch. Sự mất chức năng của vòi eustachio có thể là kết quả từ sự xâm lấn các cơ nuốt hoặc liệt các cơ mở họng.
Triệu chứng mắt: vào giai đoạn muộn khi u xâm lấn rộng sẽ gây chèn ép làm tổn thương dây thần kinh chi phối vận động mắt, khi đó bệnh nhân có biểu hiện lác, nhìn đôi, sụp mi, giảm hoặc mất thị lực.
Chẩn đoán: Dựa vào các triệu chứng lâm sàng, soi vòm họng, khám hạch kết hợp với các xét nghiệm tế bào học, mô bệnh học tại vòm hoặc tại hạch.
Tại Việt Nam, phần lớn các trường hợp ung thư vòm mũi họng được chẩn đoán ở giai đoạn muộn sau khi có triệu chứng đầu tiên từ 6 tháng đến 1 năm.

3011
18-02-2010, 04:45 PM
Trong thế kỷ 20, ung thư dạ dày là một trong những ung thư gây tử vong hàng đầu trên thế giới. Đến nay, bệnh gây tử vong thứ hai sau ung thư phổi. Tỷ lệ mắc có xu hướng giảm dần ở nhiều nước trên thế giới chủ yếu do thay đổi chế độ ăn, cách bảo quản thức ăn và các yếu tố môi trường. Nguyên nhân gây ung thư dạ dày chưa được biết rõ nhưng một vài yếu tố nguy cơ đã được xác minh. Triệu chứng ung thư dạ dày thường rất mơ hồ. ở nước ta, phần lớn ung thư dạ dày được phát hiện ở giai đoạn muộn. Điều trị ung thư dạ dày tuỳ thuộc vào kích thước, vị trí, độ xâm lấn u, tổng trạng bệnh nhân. Ung thư dạ dày cũng là bệnh có tiên lượng xấu tỉ lệ sống trên 5 năm dưới 40%. Nguyên nhân:
- Các thức ăn chứa ni-trô-sa-min có thể gây ung thư dạ dày, người ta đã gây ung thư trên chuột bằng cho chúng uống ni-trô-sa-min. Vì vậy, thói quen ăn thức ăn có chất này làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Thực phẩm ướp muối, lên men như dưa muối, thực phẩm hun khói và có nhiều chất ni-trit, ni-trat nếu ăn nhiều nguy cơ ung thư dạ dày tăng. Các thực phẩm rán cháy cũng có các chất độc hại này.
-Vi khuẩn Helicobacter Pylori có thể đóng vai trò một mắt xích trong quá trình sinh bệnh ung thư dạ dày. Vi khuẩn này cũng liên quan với một số bệnh khác như loét dạ dày, loét tá tràng, viêm dạ dày teo đét mạn tính. Người ta thường bị nhiễm Helicobacter Pylori từ nhỏ, ở các nơi có kinh tế-xã hội thấp. Phần lớn người dân ở các nước đang phát triển bị nhiễm vi khuẩn này.
- Nước giếng có chứa nhiều muối ni-trat và vi khuẩn Helicobacter Pylori nên cũng là nguồn nước tăng nguy cơ.
- Một số bệnh nhân đã được mổ cắt một phần dạ dày do loét lành tính cũng có nguy cơ ung thư dạ dày sinh ra từ phần dạ dày còn lại.
- Những người có tiền sử viêm loét dạ dày lâu ngày, thiếu máu ác tính cũng có nguy cơ mắc ung thư dạ dày
.- Gia đình có người ung thư dạ dày.
Triệu chứng : Các triệu chứng của ung thư dạ dày thường là mơ hồ và không đặc hiệu. Hay gặp nhất là chứng khó tiêu, có thể kèm theo khó chịu, đau âm ỉ, chướng bụng, ợ hơi, buồn nôn, chán ăn. Những triệu chứng này dễ bị bỏ qua nhưng bạn phải đi khám nếu các triệu chứng này kéo dài hơn 2 tuần. Các biểu hiện khác có thể là : nôn, gầy sút, mệt mỏi, thiếu máu, đau bụng hoặc ỉa phân đen.
Chẩn đoán : Bác sĩ hỏi bệnh và khám bệnh kĩ càng
Chụp phim X-quang dạ dày dùng thuốc cản quang
Nội soi dạ dày bằng ống soi mềm, sinh thiết chẩn đoán và có thể chụp ảnh dạ dày qua ống nội soi
Khi một người bệnh được chẩn đoán là ung thư dạ dày thì cần làm thêm một số xét nghiệm nữa để đánh giá sự phát triển của ung thư đến các cơ quan khác. Điều này giúp cho bác sĩ đưa ra cách điều trị tốt nhất. Đó là các xét nghiệm chụp cắt lớp vi tính và siêu âm.

3011
19-02-2010, 01:07 AM
Đái tháo đường thúc đẩy những yếu tố gây tai biến mạch máu não
Tai biến mạch máu não (TBMMN) là sự rối loạn tuần hoàn não dưới dạng cấp tính, bệnh xuất hiện đột ngột trong vài giây hoặc có thể xuất hiện nhanh trong vài giờ với các triệu chứng như: đau đầu dữ dội, nôn, buồn nôn, liệt chi, mất ngôn ngữ, mất phản xạ, xuất huyết não... người bệnh có thể bị tử vong nhanh chóng nếu không được cấp cứu kịp thời, nếu qua khỏi thì cũng giảm tuổi thọ nghiêm trọng và suy giảm nhiều chức năng của cơ thể, thậm chí tàn phế. Đối với bệnh nhân đái tháo đường, nhiều trường hợp tử vong do nhồi máu não, đặc biệt là nhồi máu ổ khuyết. Đái tháo đường làm cho quá trình xơ vữa động mạch diễn ra nhanh hơn ở người bình thường, do vậy hiện tượng những cục huyết khối hình thành trong lòng động mạch hay các mảng xơ vữa làm bít tắc lòng động mạch là nguyên nhân làm cho máu, ôxy không đến nuôi dưỡng được vùng mạch máu đó cung cấp. Đây không chỉ là lý do dẫn đến tắc mạch máu não, phình vỡ mạch máu não mà còn gây ra đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim...
Hầu hết các bệnh nhân đái tháo đường thường bị nhiễm mỡ máu, có chỉ số cholesterol trong máu vượt quá khả năng cho phép, nhất là cholesterol có hại làm cho quá trình xơ vữa động mạch càng trở nên trầm trọng hơn, nguy cơ TBMMN càng cao. Điều quan trọng là các yếu tố này thường xuất hiện đồng thời ở bệnh nhân đái đường, do vậy nguy cơ tai biến là rất có thể nếu không được kiểm soát và điều trị bệnh đúng đắn.

3011
19-02-2010, 09:13 AM
Trẻ thường mắc bệnh thuộc hệ hô hấp
Cứ vào dịp Tết hàng năm, số trẻ mắc các bệnh truyền nhiễm lây theo đường hô hấp như sởi, thủy đậu, ho gà, quai bị, viêm đường hô hấp trên, viêm phế quản, viêm phổi... thường tăng cao. Bệnh thường phát sinh và lây truyền nhanh trong dịp Tết vì mật độ người đông, nhất là ở những nơi vui chơi công cộng. Khi bị ốm, trẻ thường quấy khóc, ho, ngạt mũi, hắt hơi... sẽ làm bắn nước bọt, đờm dãi ra xung quanh có kèm theo vi khuẩn gây bệnh, trẻ khỏe thở hít phải nên bị lây bệnh.
Vì vậy, những ngày Tết không nên cho trẻ nhỏ đi chơi xa, đi tàu xe dài ngày, các bậc cha mẹ cần nuôi dưỡng, bảo vệ và chăm sóc trẻ chu đáo. Đảm bảo chế độ ăn uống vệ sinh trong dịp Tết, cho trẻ mặc đủ ấm. Khi trẻ mắc bệnh phải điều trị kịp thời, dùng thuốc đủ liều lượng theo sự hướng dẫn của thầy thuốc. Trong tủ thuốc gia đình nên có sẵn nhiệt kế, thuốc hạ sốt, dung dịch nhỏ mũi, mắt, gói oresol... để dùng khi cần thiết.
Nếu xuất hiện dịch bệnh đường hô hấp nên đề phòng bằng cách: Ngoài chăm sóc ăn uống và phòng chống lạnh, tránh gió lùa, có thể nhỏ mũi cho trẻ bằng dung dịch sunfarin hoặc natriclorid 0,9%, không cho trẻ ốm đi nhà trẻ, mẫu giáo để tránh lây lan cho trẻ khác.
Nhiễm vi khuẩn, virut gây tiêu chảy
Thường gặp nhất là bệnh tiêu chảy cấp, đặc biệt là dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm.
Tiêu chảy cấp là một bệnh phổ biến ở trẻ em lứa tuổi còn bú, gọi là tiêu chảy cấp khi trẻ đi ngoài trên 3 lần 1 ngày, phân lỏng có nước.
Có nhiều nguyên nhân gây ra tiêu chảy cấp, có thể do vi khuẩn như: E.Coli, trực khuẩn lỵ Shigella, hoặc amip. Song có tới hơn 50% trường hợp tiêu chảy cấp ở lứa tuổi còn bú là do virut (còn gọi là Rota virut). Tiêu chảy cấp do virut thường có triệu chứng viêm đường hô hấp trên xảy ra trước đó như chảy mũi, ho, họng đỏ, viêm tai. Phần lớn trẻ mắc bệnh tiêu chảy cấp do virut xảy ra vào mùa đông - xuân trong dịp Tết, một số bệnh nhiễm khuẩn ngoài ruột như viêm phổi, viêm tai giữa cũng có thể gây tiêu chảy cấp.
Tiêu chảy cấp do vi khuẩn thường có sốt cao, có khi co giật, phân có nhiều nhầy, có khi có mũi hoặc máu. Ngược lại, tiêu chảy cấp do virut thường nôn rất nhiều, phân lỏng và khối lượng nhiều, không có máu, mũi hay nhầy. Ngày Tết, trẻ còn có thể bị tiêu chảy do ngộ độc thực phẩm, thường có biểu hiện nôn, tiêu chảy, đau bụng quặn... Hậu quả nghiệm trọng nhất do tiêu chảy cấp ở trẻ em là mất nước và điện giải, trường hợp nặng có thể gây tử vong nếu không cứu chữa kịp thời. Để phòng chống mất nước và điện giải cần cho trẻ uống ngay dung dịch oresol. Mỗi gói oresol pha vào một lít nước sôi để nguội, cho trẻ uống từng thìa. Sau mỗi lần trẻ đi ngoài, cho uống 50 - 100ml tùy theo tuổi, nếu trẻ lớn cho uống theo nhu cầu của trẻ.
Một chú ý đặc biệt khi trẻ đau bụng phải cấp cứu ngoại khoa là ***g ruột, viêm ruột thừa. Ở trẻ còn bú, biểu hiện bỗng dưng bỏ bú, ưỡn người, khóc thét, đi ngoài phân máu là biểu hiện của ***g ruột cần cấp cứu khẩn trương. Trường hợp thứ hai, trẻ lớn kêu đau bụng vùng quanh rốn hoặc hố chậu phải, buồn nôn, sốt nhẹ, bí trung tiện... cần cảnh giác trẻ viêm ruột thừa. Trong hai trường hợp này, dù thời gian nào (kể cả giao thừa hay sáng mồng một Tết) cũng phải đưa trẻ đến bệnh viện ngay càng sớm càng tốt.

3011
25-02-2010, 12:13 PM
+ Lâm sàng có triệu chứng điển hình: ăn nhiều, uống nhiều, đái nhiều, sút cân, mệt mỏi; chẩn đoán thường là không khó. Đối với các trường hợp không có triệu chứng hoặc triệu chứng không điển hìnhthì thường dựa vào xét nghiệm đường máu và đường niệu để chẩn đoán xác định.
+ Có triệu chứng đái tháo đường hoặc không, nhưng chỉ cần 1 trong các triệu chứng dưới đây là có thể chẩn đoán xác định:
- Trong một ngày (một lần) đường máu ³ 11,1 mmol/l.
-Lúc đói thử đường máu 2 lần đều có kết quả ³ 7,8 mmol/l.
-Xét nghiệm đường niệu thấy dương tính rõ.

3011
25-02-2010, 12:19 PM
Nguyên nhân :
Ho ra máu là triệu chứng của nhiều nguyên nhân. Những nguyên nhân thường gặp trên lâm sàng là:
1.1. Tổn thương phổi phế quản:
1.1.1. Lao phổi:
Ho ra máu trong lao phổi có phá huỷ hang hoặc lao xơ hang, hoặc di chứng của lao phổi. Ho máu do lao thường có đuôi khái huyết.
1.1.2. Ung thư phế quản:
Ho ra máu là triệu chứng thường gặp. Bệnh nhân ho ra máu thường với số lượng ít, thường có màu mận chín hoặc máu lẫn đờm
1.1.3. Giãn phế quản: Trong giãn phế quản thể khô, bệnh nhân ho ra máu tái diễn kéo dài nhiều năm, những lần sau thường kéo daì nhiều hơn lần trước.
1.1.4. Do nhiễm khuẩn phổi, phế quản: áp xe phổi hay gặp ho máu nặng, ngoài ra còn gặp ho máu trong viêm phổi hoại tử, viêm phế quản xuất huyết

1.2. Nguyên nhân tim mạch:
Ho máu thường gặp trong bệnh hẹp khít van 2 lá, suy tim trái, cao áp động mạch phổi, nhồi máu phổi
1.3. Các nguyên nhân khác:
Ho máu ở bệnh máu, chấn thương ngực do sức ép, sóng nổ; sốt xuất huyết
Ngoài ra còn có tỉ lệ ho máu không rõ căn nguyên.
1.4. Phân loại mức độ ho máu:
- Ho máu nhẹ: tổng lượng máu ho ra <50ml/24h
- Ho máu vừa: tổng lượng máu ho ra từ 50ml đến <200ml/24h
- Ho máu nặng: tổng lượng máu ho ra từ 200ml trở lên/24h

3011
25-02-2010, 12:28 PM
Bệnh nhân ngồi đầu thẳng hoặc hơi cúi để làm chùng các cơ vùng cổ trước. Để khám vùng cổ trước và bên, người khám có thể đứng phía sau hoặc hơi sang bên cạnh bệnh nhân, khám bằng 2 tay với các ngón cái đặt ở vùng bên-sau bờ sau cơ ức-đòn-chũm hoặc sau cổ, các ngón còn lại đặt lên vùng cổ trước để khám. .
Đôi khi có thể đứng sang bên cạnh bệnh nhân và dùng một tay để khám từng bên cổ. Lúc này ngón cái thường đặt nhẹ vào một bên cổ và 4 ngón còn lại đặt lên vùng cổ bên đối diện để khám. Trong khi khám cần bảo bệnh nhân nuốt để xác định các triệu chứng rõ hơn.
Chú ý xác định các triệu chứng: tình trạng phù nề, nhiệt độ da… Nếu có khối bất thường ở vùng cổ thì phải đánh giá: vị trí, tính chất bề mặt, mật độ, ranh giới, hình dánh, kích thước, mức độ di động, đau hay không đau, có rung miu hay không, khả năng thay đổi kích thước khi nắn bóp ... của khối bất thường đó.
Khám xét bằng X quang:
+ Soi và chụp X quang thường hoặc có uống cản quang thực quản: thường chụp vùng cổ thẳng và nghiêng. Có thể xác định được khí quản và thực quản bị chèn ép hoặc đẩy lệch vị trí, hình canxi hoá trong các khối bệnh lý (bướu giáp, u mạch máu)...
+ Chụp X quang đường rò ở vùng cổ: bơm thuốc cản quang vào đường rò (thường dùng các thuốc cản quang dầu) rồi chụp X quang vùng cổ ở các tư thế thích hợp. Có thể xác định được hình thái, tính chất, tương quan giải phẫu… của các đường rò khác nhau ở vùng cổ.
+ Chụp X quang có bơm khí vùng tuyến giáp: thường dùng oxy hoặc CO2 bơm vào vùng dưới các cơ trước tuyến giáp, sau đó chụp X quang thường hoặc cắt lớp vùng cổ thẳng và nghiêng. Có thể xác định được kích thước, hình dáng, ranh giới của tuyến giáp, những di lệch của khí quản và thực quản do bị bướu giáp chèn đẩy.
+ Chụp bạch mạch tuyến giáp gián tiếp: dùng thuốc cản quang dầu bơm vào nhu mô tuyến giáp, sau đó chất cản quang được hấp thu vào hệ bạch mạch của toàn bộ tuyến giáp. Tiến hành chụp X quang vùng cổ thẳng và nghiêng. Có thể xác định được hình thể, kích thước, liên quan giải phẫu của tuyến giáp. Sau 24 - 48 giờ, khi chất cản quang đi tới các hạch bạch huyết vùng cổ và trung thất thì có thể chụp X quang để xác định được tình trạng của hệ thống các hạch đó.
+ Chụp động mạch vùng cổ: có thể luồn catheter đưa thuốc cản quang vào để chụp động mạch cảnh gốc, chụp động mạch tuyến giáp chọn lọc, chụp động mạch tuyến cận giáp chọn lọc... nhằm chẩn đoán các bệnh lý như: phồng động mạch cảnh, thông động-tĩnh mạch cảnh, một số bệnh lý của tuyến giáp và cận giáp.

3011
25-02-2010, 12:30 PM
Siêu âm vùng cổ và tuyến giáp:
+ Siêu âm vùng cổ: dùng để thăm khám các khối bệnh lý vùng cổ nói chung. Xác định được vị trí, kích thước, hình dạng, tương quan giải phẫu, đặc điểm cấu trúc… của khối bệnh lý. Siêu âm Doppler còn được dùng để thăm khám các khối bệnh lý nghi là phồng động mạch hay thông động-tĩnh mạch.
+ Siêu âm tuyến giáp: dùng đầu dò tần số cao, ít nhất 5 MHz, phần lớn thời gian phải dùng tần số trên 7,5MHz. Bảng áp điện thẳng, đủ rộng để có thể xem được cả 2 thùy trên cùng một mặt cắt. Đôi khi phải dùng túi nước hoặc gối nhựa (gối Reston) để có được hình ảnh siêu âm tốt hơn.
- Tuyến giáp bình thường: cao 1,5 - 5,5cm; dày 0,5 - 1,5cm; rộng 1 - 2,5 cm; eo dày 0,5 - 1cm. Thể tích tuyến giáp có thể được tính theo công thức của Gutekunst:
V = 0,479 x a x b x c
V = thể tích tuyến giáp tính bằng ml,
a = chiều cao, b = chiều rộng, c = chiều dày.
Người trưởng thành bình thường có thể tích tuyến giáp trung bình ở nam là 25 ml và nữ là 18 ml.
- Siêu âm tuyến giáp có thể phát hiện được các nhân có đường kính từ 0,5cm trở lên, nhờ đó có thể xác định được vị trí, số lượng, kích thước, hình dạng, cấu trúc của nhân (đặc, lỏng hay hỗn hợp)… Ngoài ra siêu âm còn được dùng để hướng dẫn cho chọc sinh thiết các nhân tuyến giáp nhằm chẩn đoán tế bào học và mô bệnh học. Siêu âm Doppler màu cho phép đánh giá được tình trạng dòng máu trong tuyến giáp nhờ đó có thể sơ bộ đánh giá được tình trạng hoạt động chức năng của nhu mô giáp.
Một số phương pháp thăm khám hình ảnh khác:
Trong một số trường hợp có thể sử dụng các phương pháp thăm khám hình ảnh khác để chẩn đoán các bệnh lý ngoại khoa vùng cổ như:
+ Chụp cắt lớp máy tính (CT:Computed Tomography).
+ Chụp cộng hưởng từ (MRI:Magnetic Resonance Imaging).
+ Chụp cắt lớp phát xạ Positron (PET: Positron Emission Tomography).

3011
25-02-2010, 12:34 PM
+ Bệnh tim bẩm sinh không tím:
Là các bệnh tim bẩm sinh trong đó các rối loạn bệnh lý ban đầu không có sự chảy của dòng máu từ các buồng tim phải (máu đen do chứa nhiều CO2) sang máu của các buồng tim trái. Loại này có thể được chia thành 3 nhóm chính:
- Nhóm bệnh có các lỗ thông: thông liên nhĩ, thông liên thất, còn ống động mạch, tồn tại ống nhĩ thất, tĩnh mạch phổi đổ về nhĩ phải hoặc tĩnh mạch chủ, rò động mạch chủ vào động mạch phổi, rò tĩnh mạch vành vào buồng tim phải...
- Nhóm bệnh có cản trở dòng máu: hẹp động mạch phổi đơn thuần, hẹp eo động mạch chủ, hẹp động mạch chủ (hẹp van hay hẹp dưới van)...
- Nhóm bệnh dị dạng động mạch vành: thường gặp là bệnh động mạch vành phải tách ra từ thân động mạch phổi.
+ Bệnh tim bẩm sinh có tím:
Là các bệnh tim bẩm sinh trong đó rối loạn bệnh lý có sự pha trộn dòng máu của các buồng tim phải (máu đen) sang máu của các buồng tim trái. Loại này có thể chia thành 2 nhóm chính:
- Nhóm bệnh tim bẩm sinh có tím phổi sáng: phổi sáng là do lượng máu lên phổi ít. Có thể gặp các bệnh: tứ chứng Fallot, teo van ba lá (bao giờ cũng kèm thông liên nhĩ), teo động mạch phổi…
- Nhóm bệnh tim bẩm sinh có tím phổi đậm: phổi đậm là do có quá nhiều máu lên phổi. Có thể gặp các bệnh: đổi chỗ động mạch chủ và động mạch phổi (động mạch chủ tách ra từ thất phải và động mạch phổi tách ra từ thất trái), thất phải có hai đường ra (động mạch chủ và động mạch phổi đều tách ra từ thất phải, thẩt trái teo nhỏ và có lỗ thông liên thất to), thất trái có hai đường ra (động mạch chủ và động mạch phổi đều tách ra từ thất trái, thất phải teo nhỏ và có lỗ thông liên thất to), tâm thất một buồng (kiểu tim ba buồng).

3011
25-02-2010, 12:37 PM
Xử trí:Phải chuyển ngay bệnh nhân lên tuyến bệnh viện để có điều kiện làm chẩn đoán và có phương hướng cấp cứu điều trị thích hơp với từng thể tai biến. Trong khi vận chuyển phải theo dõi huyết áp, mạch, nhịp thở, trạng thái tâm thần kinh để xử trí kịp thời.
- Bất động bệnh nhân.
- Bảo đảm thông khí tốt, hút đờm rãi nếu có.
- Đặt sớm dây truyền dịch để thuận lợi cho việc dùng các thuốc cần thiết.
-Nếu huyết áp tăng rất cao ≥ 200/ ≥ 120 mmHg: sau tai biến mạch máu não, huyết áp thường tăng phản xạ; trong trường hợp này chỉ được dùng thuốc đưa huyết áp xuống dưới mức nguy hiểm, thông thường vào khoảng 170 – 180/100 mmHg, không được đưa xuống mức này; nếu đưa nhanh chóng huyết áp xuống <140/<90 mmHg thì sẽ làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động tự điều chỉnh của tuần hoàn não.
Các thuốc sau đây có thể dùng được:
Adalate nang 10mg, nhỏ III giọt vào dưới lưỡi bệnh nhân hoặc Captopril 25 mg x1 viên nhai và ngậm trong miệng.
Lasix 20 mg x 1 ống tiêm tĩnh mạch.
Theo dõi huyết áp liên tục.
- Nếu có truỵ mạch, phải nâng huyết áp lên: truyền tĩnh mạch Noradrenalin 4 mg pha trong 500 ml dung dịch glucose 5%; có thể truyền tĩnh mạch Dopamin 200 mg pha trong 250 dung dịch glucose 5 %, hoặc Isupel 1 mg cũng pha trong 250 ml dung dịch glucose 5% đưa huyết áp lên.
- Nếu vật vã co giật: Seduxen 10 mg x 1 ống tiêm bắp thịt.

3011
25-02-2010, 12:41 PM
Triệu chứng cơ năng
1. Triệu chứng suy tim: bao gồm khó thở khi gắng sức hay xuất hiện về đêm, mệt mỏi, nguyên nhân thường do tăng áp lực cuối tâm trương của thất trái vì giảm khả năng giãn của tâm thất.
2. Thiếu máu cơ tim với biểu hiện đau ngực: Có thể gặp trong cả các trường hợp bệnh cơ tim phì đại tắc nghẽn hay không. Cơ chế chính xác của hiện tượng này còn chưa rõ nhưng người ta cho rằng các yếu tố sau có thể ảnh hưởng đến dấu hiệu đau ngực của bệnh nhân:
a. Hệ thống mạch vành kích thước nhỏ, giảm khả năng giãn ra khi nhu cầu ôxy cơ tim tăng.
b. Tăng áp lực của thành tim do hậu quả của thời gian giãn tâm trương thất trái chậm và do cản trở đường tống máu của tim.
c. Giảm tỷ lệ giữa hệ mao mạch và mô tim.
d. Giảm áp lực tưới máu của động mạch vành.
3. Ngất và xỉu: Nguyên nhân do giảm tưới máu não vì cung lượng tim thấp hay liên quan với rối loạn nhịp tim hoặc gắng sức. Ngất ở bệnh nhân trẻ tuổi không nhất thiết là yếu tố tiên lượng nguy hiểm ở các bệnh nhân có bệnh cơ tim phì đại. Ngược lại ở trẻ em và thiếu niên đây là yếu tố làm tăng nguy cơ đột tử.
4. Đột tử hay những rối loạn nhịp nặng có thể gặp trong khoảng 1 đến 6% các trường hợp.

3011
25-02-2010, 12:41 PM
Triệu chứng thực thể
Đối với các bệnh nhân có chênh áp qua đường ra thất trái, khám lâm sàng có thể phát hiện thấy các dấu hiệu:
1. Tiếng thổi tâm thu ở phía thấp dọc theo bờ trái xương ức, cường độ giảm khi bệnh nhân ngồi xổm và nắm chặt tay, cường độ tăng lên khi bệnh nhân làm nghiệm pháp Valsalva, đứng lên và sau các ngoại tâm thu thất.
2. Dấu hiệu mạch ngoại biên nảy mạnh với dạng hai pha, pha thứ nhất nhanh mạnh và pha thứ hai kéo dài như nước thủy triều.
3. Mỏm tim đập ở hai vị trí, thường thấy nhát bóp tiền tâm thu mạnh hơn, dấu hiệu này liên quan đến tiếng thứ ba nghe được trên lâm sàng.

3011
25-02-2010, 12:48 PM
Triệu chứng thực thể
1. Khám thực thể trong NMCT cấp nói chung ít có giá trị để chẩn đoán xác định nh­ng cực kỳ quan trọng để giúp chẩn đoán phân biệt với các bệnh khác, giúp phát hiện các biến chứng, tiên l­ợng bệnh cũng nh­ là cơ sở để theo dõi bệnh nhân.
2. Những triệu chứng hay gặp là: nhịp tim nhanh, tiếng tim mờ, tiếng ngựa phi, huyết áp có thể tăng hoặc tụt, xuất hiện tiếng thổi mới ở tim, các rối loạn nhịp, ran ẩm ở phổi, các dấu hiệu của suy tim, phù phổi cấp.... Sau vài ngày có thể thấy tiếng cọ màng tim (hội chứng Dressler).

3011
25-02-2010, 12:51 PM
Điều trị ban đầu
1. Khẩn tr­ơng đánh giá tình trạng bệnh nhân và nên chuyển ngay đến những cơ sở có thể điều trị tái t­ới máu. Kịp thời đánh giá các biến chứng nguy hiểm để khống chế (loạn nhịp, suy tim...). Bệnh nhân phải đ­ợc vận chuyển bằng xe cứu th­ơng và có nhân viên y tế đi cùng. Đồng thời thực hiện các biện pháp điều trị ban đầu.
2. Các biện pháp chung, ban đầu cho mọi bệnh nhân là:
a. Bệnh nhân phải đ­ợc bất động tại gi­ờng.
b. Thở ôxy: với liều 2-4 lít/phút qua đ­ờng mũi vì trong NMCT cấp th­ờng kèm theo thiếu ôxy. Một số tr­ờng hợp suy hô hấp nặng cần phải đặt nội khí quản và cho thở máy phù hợp.
c. Giảm đau đầy đủ: làm giảm sự tăng tiết cathecholamin trong máu và góp phần làm giảm nhu cầu ôxy cơ tim.
ã Morphin sulphat là thuốc đ­ợc lựa chọn hàng đầu, liều dùng từ 2-4 mg tiêm tĩnh mạch sau đó nhắc lại sau 5-10 phút nếu bệnh nhân vẫn đau. Chú ý nhịp thở của bệnh nhân và nhịp tim. Nếu gây nhịp chậm có thể cho Atropin 0,5 mg tiêm TM.
d. Nitroglycerin (0,4 mg) ngậm d­ới l­ỡi, có thể nhắc lại sau mỗi 5 phút. cần chú ý huyết áp của bệnh nhân. Nếu huyết áp tối đa còn > 90 mmHg là tốt. Tiếp sau đó cần thiết lập ngay đ­ờng truyền tĩnh mạch và truyền Nitroglycerin với tốc độ 10 mcg/phút, có thể chỉnh liều theo con số huyết áp của bệnh nhân. Nếu bệnh nhân huyết áp tụt thì không thể dùng Nitroglycerin, khi đó cần áp dụng ngay các biện pháp vận mạch tốt. L­u ý là Nitroglycerin có thể gây nhịp chậm và không dùng khi có NMCT thất phải.
e. Cho ngay thuốc chống ng­ng kết tiểu cầu: Aspirin cần cho ngay bằng đ­ờng uống dạng không bọc với liều 160 - 325 mg hoặc có thể cho bằng đ­ờng tiêm tĩnh mạch 500 mg. Có thể cho bằng dạng gói bột Aspegic. Nếu bệnh nhân có tiền sử loét dạ dày tá tràng đang tiến triển thì có thể thay bằng Ticlopidine (Ticlid) 250 mg x 2 viên/ngày hoặc Clopidogrel (Plavix) cho ngay 300 mg sau đó 75 mg/ngày. Các nghiên cứu gần đây cho thấy phối hợp giữa Aspirin và Ticlopidin hoặc Clopidogrel làm giảm đáng kể tỷ lệ tử vong.
f. Thuốc chống đông: Heparin tiêm thẳng TM liều 65-70 đv/kg sau đó duy trì liều 15-18 đv/kg/giờ. Heparin tự nó không làm giảm tỷ lệ tử vong do NMCT nh­ng rất quan trọng nếu bệnh nhân đ­ợc cho thuốc tiêu huyết khối hoặc can thiệp động mạch vành cấp. Dùng Heparin với thuốc tiêu huyết khối cần cho ngay 5000 đv tiêm TM sau đó truyền tĩnh mạch liều khoảng 1000 đv/giờ (trừ tr­ờng hợp cho Streptokinase thì không dùng Heparin phối hợp). Khi dùng Heparin cần điều chỉnh liều theo thời gian APTT sao cho thời gian này gấp 1,5 thời gian chứng (50-75 giây).
g. Thuốc chẹn bêta giao cảm: làm giảm tỷ lệ tử vong và giảm diện cơ tim bị nhồi máu hoại tử. Thuốc hay dùng là Metoprolol tiêm TM 5 mg sau đó nhắc lại mỗi 5 phút cho đến tổng liều là 15 mg, trong khi đó bắt đầu cho uống 25-50 mg. Các thuốc khác có thể dùng là Atenolol, Esmolol. Không dùng các thuốc này khi bệnh nhân có dấu hiệu suy tim nặng, nhịp tim chậm < 60, huyết áp tâm thu < 90 mmHg, bloc nhĩ thất độ cao, bệnh phổi tắc nghẽn, bệnh mạch ngoại vi nặng.

3011
25-02-2010, 12:59 PM
Bệnh lý gốc động mạch chủ làm đóng van không kín gây hở:
a. Hở van động mạch chủ cấp tính:
- Phình tách thành động mạch chủ.
- Tách thành động mạch chủ do chấn th­ơng ngực.
b. Hở van động mạch chủ mạn tính:
- Hội chứng Marfan.
- Giãn phình động mạch chủ.
- Giãn vòng van động mạch chủ.
- Viêm thành động mạch chủ do bệnh giang mai.
- Lupus ban đỏ hệ thống.
- Loạn sản x­ơng.
- Hội chứng Ehlers-Danlos.
- Lắng đọng mucopolysacharide.
- Viêm cột sống dính khớp.
- Hội chứng Reiter.
- Viêm động mạch tế bào khổng lồ.
- Hội chứng Takayashu.

3011
25-02-2010, 01:00 PM
Bệnh lý tại lá van động mạch chủ:
a. Hở van động mạch chủ cấp tính:
- Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn.
- Sa lá van do chấn th­ơng.
b. Hở van động mạch chủ mạn tính:
- Di chứng van tim do thấp.
- Thoái hoá vôi hoặc thoái hoá nhầy.
- Phình giãn xoang Valsalva.
- Van động mạch chủ hai lá, bốn lá hoặc một lá van.
- Điều trị thuốc methysergide.

3011
25-02-2010, 01:03 PM
Triệu chứng.
1.Cơ năng
- Đau bụng hố chậu phải,đau thường bắt đầu xuất hiên ở HCP, cũng có trường hợp bắt đầu đau ở thượng vị, quanh rốn sau đó mới khu trú ở HC phải.
Đau âm ỉ, đau liên tục và tăng dần. Ít khi đau thành cơn, nếu có giữa các cơn vẫn đau..
- Nôn và buồn nôn, triệu chứng này có trường hợp có hoặc không
- Bí trung đại tiện
2. Thực thể.
- Sốt , thông thường không số cao, nếu số cao 39-40o chú ý có biến chứng
- Phản ứng cơ vùng hố chậu phải: triệu chứng có giá tri, phải thăm khám theo dõi nhiều lần, so sánh hai bên. Chú ý ở nhứng bệnh nhân già, béo, chửa đẻ nhiều lần dâu hiệu này yếu ớt.
- Điểm dau khu trú:
+ Điểm Mac-Burney
+ Điếm Clado
+ Điếm Lanz
* Một số dấu hiệu:
- Schotkin-Blumberg (+)
- Rowsing (+) (dồn hơi từ đại tràng trái à đau HCP)
- Sitkovski (+) ( nằm nghiêng bên trái, gây đau HCP )
- Obrasov (+) gặp trong viêm Rt sau manh tràng

3011
25-02-2010, 01:12 PM
Triệu chứng của u trung thất thay đổi theo vị trí, độ lớn và tính chất của khối u mà có các dấu hiệu khác nhau sau :
1. Dấu hiệu hô hấp : Ho, khái huyết, thở rít ở thì thở vào, đau ngực nhưng nổi bật nhất là khó thở, thở khò khè .
2. Dấu hiệu về tiêu hoá : Có thể khó nuốt, nấc liên tục do chèn ép thực quản .
3.Dấu hiệu về thần kinh :
- Hội chứng Claude-Bernard Horner : Co đồng tử, hẹp mi mắt, sụp mi và bừng đỏ nửa mặt do chèn ép thần kinh giao cảm .
- Khàn tiếng khó phát âm: do chèn ép thần kinh quặt ngược trái
- Hội chứng Pancoast-Tobias : do chèn ép đám rối thần kinh cánh tay.
- Liệt vòm hoành do chèn ép thần kinh hoành .
- Rối loạn hô hấp, cao huyết áp, chảy nước dãi do chèn ép thần kinh phế vị .
4. Dấu hiệu chèn ép tĩnh mạch :
- Hội chứngtĩnh mạch chủ trên: phù mi mắt, phù mặt, cổ, phù áo khoác, đầy hố trên đòn .
- Tuần hoàn bàng hệ trước ngực: Giãn mao mạch dưới da, giãn tĩnh mạch cổ, giãn tĩnh mạch thái dương, tĩnh mạch đáy lưỡi, tăng áp lực tĩnh mạch chi trên. Tím tái, nhức đầu, ngủ gà ngủ gật .
- Hội chứng tĩmh mạch chủ dưới: Gan to, cổ chướng, phù chi dưới nhưng thường ít gặp.
Nếu chèn ép ở trên tĩnh mạch đơn đổ vào tĩnh mạch chủ trên thì có tuần hoàn bàng hệ thành ngực. ít gặp chèn ép vào tĩnh mạch và động mạch phổi.
5. Dấu hiệu chèn ép ống ngực:
ít gặp, nếu có chèn ép thì có một hội chứng gồm có tràn dưỡng chấp ***g ngực, cổ chướng dịch dưỡng chấp, phù từ chi dưới đến chi trên.
6. Dấu hiệu thành ngực:
- Sưng vồng tại một vị trí của ***g ngực.
- Sưng vồng vùng xương ức, vùng trên hoặc dưới xương đòn.
7. Dấu hiệu toàn thân:
- Hạch vùng cổ, trên xương đòn, thường do di căn.
- Hội chứng Pierre-Marie(Ngón tay dùi trống móng tay mặt kính đồng hồ, dày cốt mạc đầu chi, đau các khớp bàn chân, cổ tay, bàn tay)

3011
25-02-2010, 01:15 PM
Nguyên tắc chung
-Phẫu thật tim đòi hỏi phải có một chẩn đoán thương tổn thật chính xác, cho nên những thăm dò truớc khi mổvề huyết động học ( thông tim, đo áp lực các buồng tim) hoặc về giải phẫu ( chụp buồng tim cản quang hoặc siêu âm hai bình diện , siêu âm doppler) phải được hoàn thiện để đặt ra những chỉ định về kỹ thuật mổ xẻ. Hiện nay, với sự phát triển của siêu âm chẩn đoán , đặc biệt siêu âm doppler màu đã thay thế rất nhiều cho thông tim và chụp buồng tim cản quang, kể cả trong những bệnh tim bẩm sinh.
-Điều trị chống suy tim, cân bằng điện giải là điều trị bắt buộc trước mổ cho những bệnh nhân bị suy tim và những điều trị này phải được ngừng trước khi mổ ít nhất là 48 giờ, đặc cho những bệnh nhân dùng digoxin. Phát hiện và điều trị ổn định những ổ nhiễn trùng tiềm tàng ( đặc biệt lưu ý các ổ mạn tính ở răng, họng, tai…) cũng như thăm dò về quá trình đông máu cũng phải kiểm tra kỹ lưỡng trước khi mổ.
-Gây mê trong mổ tim là gây mê nội khí quản. Giai đoạn trong và sau mổ phải theo dõi liên tục các thông số điện tâm đồ, áp lực động mạch , áp lực tĩnh mạch trung tâm- một số trường hợp cần thiết phải thoe dõi cả áp lực nhĩ trái-, lượng nước tiểu hàng giờ, điện giải, thăng bằng kiềm toan và áp lực khí trong máu. Sau mổ hạn chế lượng dịch truyền (500ml huyết thanh ngọt đẳng trương cho 1m2 diện tích cơ thể ) và cho bệnh nhân ăn uống sớm sau khi rút nội khí quản 3 giờ.
- Tuần hoàn ngoài cơ thể bằng máy tim, phổi nhân tạo giúp cho kéo dài thời gian tim ngừng đập hoàn toàn (từ 1 giờ đến 1 giờ30 đối với loại phổi trao đổi oxy bằng bọt khí hoặc 4-6 giờ đối với loại phổi trao đổi bằng màng mao dẫn) để xử lý thương tổn. Trong một số trường hợp cuộc mổ kéo dài có thể hạ nhiệt độ cơ thể xuống sâu để bảo vệ cho sự thiếu oxy của tổ chức và hỗ trợ tuần hoàn sau khi tim đập lại .
- Các đường mổ thường dùng là mở ngực trước-bên (phải hoặc trái), mở ngực sau- bên (phải hoặc trái) hoặc mở dọc xương ức. Mở ngực hai bên kèm cắt ngang xương ức hiện nay ít dùng.
Cần nhấn mạnh là nguyên tắc vô trùng trong mổ phải được tôn trọng tuyệt đối và không nên nghĩ rằng kháng sinh có thể thay thế được nguyên tắc vô trùng và ngược lại .

3011
25-02-2010, 01:18 PM
Mổ tim kín.
Chỉ định duy nhất là để tách van hai lá. Phẫu thuật đơn giản, tiết kiệm về kinh tế, không đòi hỏi về trang bị. Mục đích của phẫu thuật này nhằm làm tách rộng hai mép van bị dính lại do viêm nhiễm, cho nên nó chỉ dành cho các trường hợp hẹp van đơn thuần, không có vôi hoá và các dây chằng van trước không bị co rút, nếu bệnh nhân nhịp xoang, ta mở ngực trái qua khoang liên sườn VI trước bên, tách van bằng tay qua tiểu nhĩ trái hay phối hợp với dụng cụ qua tâm thất trái. Đối với những trường hợp bị huyết khối tiểu nhĩ trái (rung nhĩ, loạn nhịp hoàn toàn) hoặc đã mổ tách van bên trái, ta mở ngực phải để tách van hai lá qua tâm nhĩ trái. Các biến chứng sau mổ là chảy máu, huyết khối hoặc tắc mạch, suy tim trái (nếu gây hở sau tách van) hoặc suy tim phải. Lâu dài sau mổ, cần theo dõi hẹp lại lỗ van hai lá (trên dưới 20% sau mổ 10 năm) vì vậy phòng và chống thấp tái phát là biện pháp tốt nhất để duy trì kết quả lâu dài. Tỷ lệ tử vong trong mổ bệnh này ở Bệnh viện Việt Đức là dưới 1%. (hình 1,2)
Mổ tim hở.
Dùng tuần hoàn ngoài cơ thể rồi hạ nhiệt độ vừa phải và làm tim ngừng đập, sau đó mở rộng tâm nhĩ trái để tạo hình lại van hoặc thay van chỉ định mổ của phương pháp này dành cho những trường hợp hẹp lỗ van hai lá bị vôi hoá, hoặc dây chằng van bị co rút hoặc hẹp lỗ hở van hai lá. Đường mổ thường dùng là mở dọc xương ức và đôi khi có thể dùng đường mổ ngực phải trước bên. Hiện nay hầu như chỉ áp dụng đường mở dọc xương ức. Trong trường hợp kết hợp với sử dụng phẫu thuật nội soi có thể chỉ dùng đường mở ngực bên phải.
+ Tạo hình van hai lá: Gồm các kỹ thuật mở rộng hai mép van, giải phóng các dây chằng và cột van và tái tạo lại vòng van hai lá bằng khung kim loại của Carpentier hay vòng dẻo của Bex.
+ Thay van hai lá: Dùng trong những trường hợp không thể bảo tồn được van hai lá. Có thể dùng các loại van cơ học như van Starr (van bi), van Bjork (van đĩa), van hai cánh (St Jude) hoặc van sinh học như van Iunescu (màng tim bê), van Hancock (van động mạch chủ của lợn). Sau khi thay các van cơ học, bệnh nhân bắt buộc phải dùng thuốc chống đông suốt đời, còn đối với các van sinh học thì có thể chỉ dùng trong 3 đến 6 tháng. Tỷ lệ tử vong mổ van hai lá dưới 5%, các biến chứng sau khi thay van là tắc mạch (khoảng 5% cho mỗi năm), tắc hoặc dính van thay (dưới 1% cho mỗi năm), thiếu máu do vỡ hồng cầu (các van cơ học). Sự lựa chọn van sinh học và van cơ học tuỳ thuộc vào độ tuổi của bệnh nhân: Nếu bệnh nhân là nữ còn trong độ tuổi sinh đẻ thì thường chọn van sinh học hoặc dựa vào điều kiện theo dõi đông máu sau mổ định kỳ cho bệnh nhân vì nếu sự theo dõi không nghiêm ngặt để điều chỉnh lượng thuốc chống đông kịp thời thì sẽ là một thảm hoạ đối với bệnh nhân.

3011
25-02-2010, 01:20 PM
Vết thương tim
Vết thương tim không hiếm gặp trong thời bình hoặc thời chiến. Vết thương do đạn bắn hay vết thương vào tâm nhĩ hoặc cuống mạch, bệnh nhân thường chết trước khi đến bệnh viện do thương tổn rộng và cơ tim ở tâm nhĩ mỏng, co bóp yếu không tạm tự bít lại được,trong khi vết thương do đâm hoặc ở khối thất do cơ tim dày co bóp mạnh giữ vai trò hạn chế mất máu. Về lâm sàng bệnh nhân thường vào viện trong hai bệnh cảnh sốc tim ( do chèn ép tim cấp tính) hoặc sôc trắng (do mất máu khong màng phổi). Chẩn đoán xác định dễ dàng trong những trường hợp điển hình: bệnh nhân khó thở, vật vã, không nằm được; hai tĩnh mạch cổ nổi căng. Nghe tiếng tim mờ và xa. Huyết áp động mạch giảm và huyết áp tĩnh mạch tăng- ST chênh và giảm điện thế trên điện tâm đồ. Chọc dò có máu không đông. Trong những trường hợp không điển hình hoặc nghi ngờ, siêu âm chẩn đoán hoặc cắt bỏ sụn sườn 5 trái để kiểm tra màng tim có giá trị quyết định. Chỉ định mổ tuyệt đối để cầm máu. Tuỳ thuộc vào vị trí thương tổn mà mở ngực trước bên trái, bên phải hay mở dọc xương ức. Vết thương tim, phải được khâu lại bằng các mũi rời, chỉ không tiêu. Nếu vết thương song song với động mạch vành, sử dụng các mũi khâu chữ U xuyên dưới mạch vành. Nếu bệnh nhân bị ngừng tim,bỏ qua mọi nguyên tắc vô trùng để mở ngực bóp tim và khâu tim. Nếu phát hiện có tổn thương van tim hoặc vách tim thì sau khi xử lý khâu vết thương tim xong phải chuyển ngay đến các trung tâm có thể triển khai phẫu thuật tim hở để tiến hành xử lý cấp cứu những tổn thương này là tổn thương cấp tính, chức năng tim không thể đáp ứng bù trừ như những trường hợp bệnh tim bẩm sinh hay do thấp khớp.
Thiếu máu cơ tim do bệnh mạch vành
Chít hẹp mạch vành do thiếu máu cơ tim là một trong những thương tổn của bệnh xơ vữa động mạch. Lâm sàng thể hiện bằng những cơn đau thắt ngực hoặc nhồi máu cơ tim. Chẩn đoán duy nhất là dựa vào chụp cản quang mạch vành. Chỉ định mổ được đặt ra nếu như có chít hep động mạch liên thất trước thì có tác dụng rõ rệt. Đối với hẹp động mạch vành phải đơn thuần thì kết quả mổ sẽ không hơn mấy so với điều trị nội khoa. Hiện nay, bắt đầu điều trị thường người ta sử dụng nong vành bằng bóng chuyên dụng qua thông tin hoặc đặt sten rồi theo dõi để đặt rađiều trị tiếp là nong lại hoặc chỉ định mổ bắc cầu khi bị hẹp lại.
Kỹ thuật mổ sẽ: Có thể nối động mạch vú trong vào động mạch vành trái hoặc tĩnh mạch hiển trong bắc cầu từ động mạch chủ sang mạch vành dưới tuần hoàn ngoài cơ thể hoặc không cần tuần hoàn ngoài cơ thể với một số loại thuốc đặc hiệu điều chỉnh nhịp tim chậm lại cùng với bộ giá đỡ chuyên dụng; ở Hoa Kỳ nghiên cứu sữ dụng rô bốt có tần số hoạt động cùng với tần số tim để khâu nối mạch vành: đó là loại rô bốt điều khiển bằng tiếng nói.
Sau mổ duy trì kết quả bằng chế độ dinh dưỡng, chế độ thuốc men là hai yếu tố quan trọng để bảo đảm kết quả lâu dài.
Phình thất trái.
Phình thất trái là một biến chứng của hoại tử cơ tim do nhồi máu. Thành thất trái tại vùng này bị giãn rộng, mất khả nang co bóp và bên trong chứa huyết khối long ra gây tắc mạch ngoại vi. Túi phình bị vỡ dẫn đến chết đột ngột. Dấu hiệu điện quang (soi có giá trị hơn chụp) cho thấy một phần ở thất trái giãn to, mất khả năng co bóp trong kỳ tâm thu.
Chụp buồng tim cản quang và siêu âm hai bình diện có tính chất quyết định chẩn đoán, Vì đây là di chứng của bệnh lý mạch vành nên thăm dò mạch vành là bắt buộc.
Điều trị ngoại khoa là dùng tuần hoàn cơ thể, lấy bỏ huyết khối và cắt bỏ túi phình. Thường kèm theo phẫu thuật mạch vành.

3011
25-02-2010, 01:25 PM
1 Viêm mủ màng tim
Viêm mủ màng tim là hậu quả của nhiễm trùng máu, thường do tụ cầu hay gặp ở trẻ em. Cần phân biệt với tràn mủ màng tim do biến chứng vỡ áp xe gan trái lên mà kỹ thuật xử lý khác hẳn. Biểu hiện lâm sàng thường thấy các hiệu ứ trệ tuần hoàn tĩnh mạch ngoại vi và mao mạch phổi hoặc nặng hơn là hội chứng chèn ép tim cấp tính. Chẩn đoán đơn giản với dấu hiệu suy tim phải, tiếng tim mờ và hội chứng nhiễm trùng. Điện quang soi có giá trị hơn chụp với hình ảnh bóng tim to, kém co bóp. Điện tâm đồ cho thấy giảm điện thế và rối loạn giai đoạn khử cực. Siêu âm xác định dịch trong màng tim và chọc dò cho biết tính chất của dịch. Viêm mủ màng tim gây hội chứng chèn ép timcấp tính phải được xử lý cấp cứu.
2. Viêm màng ngoài tim co thắt
lao màng ngoài tim hoặc còn gọi là hội chứng pick) hoặc dày dính màng ngoài tim (di chứng của viêm mủ màng ngoài tim hoặc tràn máu màng tim). Lâm sàng thể hiện Viêm màng ngoài tim co thắt có thể do vôi hoá màng tim (di chứng của bệnh iên hội chứng suy tim phải tăng dần mà không có biểu hiện bệnh lý van tim. Chụp điện quang có thể thấy hình ảnh vôi hoá màng tim hoặc khi soi không thấy co bóp. Điện tâm đồ thể hiện giảm điện thế, rối loạn tái cực, blốc nhánh và nếu như quá trình bệnh diển biến lâu, cơ tim bị ảnh hưởng, thể hiện rung nhĩ và loạn nhịp hoàn toàn. Siêu âm thấy màng tim dày hoặc vôi hoá, không có dịch màng tim, thất trải giãn và thất trái nhỏ. Thông tim cho biết áp lực nhĩ phải tăng và điển hình là đường biểu diễn áp lực thất phải có hình ảnh cao nguyên ở cuối thì tâm trương.

3011
25-02-2010, 01:30 PM
1. Các bệnh tim bẩm sinh không tím .
Các bệnh tim bầm sinh không tím gổm những bệnh tim bầm sinh không có hiện tượng trộn máu của tim phải ( máu đen ) sang máu buồng tim trái . Thương tổn giải phẫu nhóm bệnh này thường đơn giản và nói chung bệnh dung nạp tốt . Loại này được chia làm 3 nhóm : nhóm có lổ thông , nhóm cản trở tuần hoàn và dị tật mạch vành . Các triệu chứng lâm sàng và địên quang thông thường chỉ có tính chất gợi ý . Chẩn đoán xác định dựa vào siêu âm hay bình diện , siêu âm doppler màu hoặc thông tim
1.1 Nhóm bệnh có các lổ thông .
Nhóm này gồm các bệnh :
_ Tĩnh mạch phổi đổ về nhỉ phải hoặc tĩnh mạch chủ .
_ Thông liên nhỉ.
_ Tồn tại lổ nhĩ .
_ Thông liên thất .
_ Vỡ túi phình xoang Valsava vào buồng tim phải .
_ Rò động mạch chủ và động mạch phổi .
_ Còn ống động mạch .
_ Rò động mạch vành vào buồng tim phải .
Rối loạn sinh lý bệnh chủ yếu của nhóm bệnh này là do các lổ thông máu từ buồng tim trái chảy sang các buồng tim phải do chênh lệch áp lực sẽ làm tăng lưu lượng máu qua phổi làm tăng áp lực động mạch phổi . Hậu quả sẽ làm cho sức cản của phổi tăng cao và tác động trở lại làm tăng áp lực trong buồng tim phải để tăng sức cản và khí làm cho áp lực buồng tim phải cao hơn buồng tim trái , luồng máu chảy sẽ đổi chiều từ buồng tim phải qua lổ thông sang buồng tim trái và bệnh nhân trở nên tím . Chỉ định mổ cần đặt ra sớm ở các lứa tuổi nhỏ trứơc khi tình trạng tăng áp phổi cố định . Đối với trẻ lớn hay người trưởng thành , chỉ mổ đặt ra khi có nguy cơ bị Osler.
Chẩn đoán xác định dựa trên siêu âm hai bình diện cho thấy thương tổn giải phẫu ( khoảng 85% các trường hợp ) ; siêu âm doppler cho thấy hình ảnh dòng rối của luồng máu thông ; thông tim dựa trên đường đi của ống thông , đo áp lực buồng tim và sự thay đổi bảo hoà oxy trong các buồng tim phải .
Điều trị ngoại khoa là đóng lại các lổ thông , nên mổ ở lứa tuổi trẻ em để tránh hậu quả tăng sức cản ở phổi (hình 4). Trừ bệnh còn ống động mạch là mổ
cắt óng thông bằng phương pháp mổ tim kín, còn lại tất cả đều phải dùng tuần hoàn ngoài cơ thể đẻ vá lại các lỗ thông. Một số trường hợp hãn hữu tăng cao áp lực phổi trong thời kỳ sơ sinh và nhũ nhi (thường do bệnh thông liên thấp kèm theo còn ống động mạch), người ta tiến hành phẫu thuật tạm thời là làm hẹp bớt động mạch phổi, giảm bớt lưu lượng máu lên phổi để chờ đợi phẫu thuật triệt để
1.2 Nhóm bệnh cản trở tuần hoàn
Nhóm này gồm các bệnh :
· Hẹp lỗ van động mạch chủ đơn thuàn
· Hẹp động mạch chủ (hẹp lỗ van hoặc hẹp dưới van)
· Hẹp eo động mạch chủ.
Rối loạn sinh lý bệnh của nhóm này là cơ tim phía trên chỗ hẹp phải làm việc nhiều sẽ giãn dần và dẫn đến suy tim.
Chẩn đoán xác định dựa vào siêu âm doppler hoặc thông tim, cho biết chênh lệch áp lực phía tim và phía dưới chỗ hẹp; chụp buồng tim bơm thuốc cản quang.
Điều trị ngoại khoa là làm rộng chỗ bị hẹp. Hiện nay do bệnh được chẩn đoán rất sớm ở giai đoạn sơ sinh và nhũ nhi nên một số tác giả dùng kỹ thuật thông tim để nong rộng những chổ bị hẹp bằng cách bơm áp lực vào bóngở đầu ống thông (áp lực từ 7-8 atm trong30 giây ) đã mang lại nhiều kết quả khả quan bước đầu.
1.3 Bất thương giải phẫu của lỗ động mạch vành
Bất thương giải phẫu của động mạch vành hiếm gặp, chiếm khoảng o,23% các bệnh tim bẩm sinh. Thương tổn thường gặp là lỗ động mạch vành phải sinh từ thân động mạch phổi. Như vậy, động mạch vàng bên phải giãn to và cấp máu sang cho động mạch vành trái qua các vòng nối. Lâm sàng thường gặp là những biểu hiện nhồi máu cơ tim ở trẻ nhỏ hoặc chết đột tử trẻ lớn. Chẩn đoán xác định dựa vào chụp động mạch vành cản quang. Điều trị ngoại khoa ghép lại động mạch chủ dưới tuần hoàn ngoài cơ thể.

2 Các bệnh tim bẩm sinh có tím
Bệnh tim bẩm sinh có tím là những bệnh tim có sự pha trộn máu mất bão hoà ôxy (máu đen) của buồng tim phải qua các lỗ thông sang buồng tim trái .Thương tổn giải phẫu của nhóm bệnh này rất phức tạp .Bệnh dung nạp kém và bệnh nhân thường chết sớm trong lứa tuổi nhỏ nếu như không được điều trị.
Bệnh tim bẩm sinh có tím được chia làm 2 nhóm chính: nhóm bệnh tim bẩm sinh có tím ít máu lên phổi ( do bị cản trở về giải phẫu của động mạchphổi) và bệnh tim bẩm sinh có tím qúa nhiều máu lên phổi. Sự khác nhau giữa 2 nhóm này có thể phân biệt trên phim chụp ngực không chuẩn bị , cho nên còn gọi là nhóm bệnh tim bẩm sinh có tím phổi sáng ( ít máu lên phổi) và nhóm bệnh tim bẩm sinh có tím phổi đậm( nhiều máu lên phổi).
Chẩn đoán xác định dựa vào siêu âm doppler và chụp buồng tim cản quang trong một số dị tật phức tạp.

3011
25-02-2010, 01:34 PM
U nguyên phát ở tim rất hiếm (u xơ, u mạch máu, u cơ) và loại u nhầy là thường gặp nhất (chiếm trên 50% các loại u ở tim). U có cuống từ vách liên nhĩ phát triển ra u nhầy thường ở tâm nhĩ trái. Chất toạ u gồm chất toạ keo, sợi chun. U phát triển và ảnh hưởng tới van nhĩ thất nếu u ở nhĩ trái, bệnh nhân có dấu hiệu giống như hẹp lỗ van hai lá với đặc điểm là không thể nằm nghiêng sang traí được. Nếu u ở nhĩ phải sẽ làm chèn ép và ứ trệ máu tĩnh mạch củacác tạng trong bụng. U long ra mãnh nhỏ có thể gây tắc mạch ngoại vi và nếu tụt xuống sẽ lấp van nhĩ thất, bệnh nhân chết đột tử. Chẩn đoán xác định dựa trên kết quả của siêu âm. Điều trị ngoại khoa là cắt bỏ khối u dưới hỗ trợ của tuần hoàn ngoài cơ thể.

3011
08-03-2010, 01:10 PM
Nguyên nhân
1. Đái tháo đường thứ phát
+ Do bệnh lý tại tụy:
- Viêm tụy mạn tính, vôi hoá tụy: có thể xuất hiện đái tháo đường trong 30% các trường hợp, tiến triển chậm, cần phải dùng đến insulin, nguy cơ hay gặp là hạ đường huyết (nguyên nhân do thiếu glucagon là một hormon làm tăng đường huyết hoặc ở những người nghiện rượu, vì rượu sẽ làm ức chế tân tạo đường, dễ gây hạ đường huyết, nhất là khi bệnh nhân không ăn.
- Viêm tụy cấp gây đái tháo đường thoáng qua, sau điều trị khỏi đường huyết về bình thường.
- Ung thư tụy.
- Phẫu thuật cắt bỏ bán phần hoặc toàn phần tuyến tụy.
+ Do bệnh lý tại gan:
- Gan nhiễm sắt (hemosiderin).
- Lắng đọng sắt ở các tiểu đảo b-Langerhans gây bất thường về tiết insulin.
- Xơ gan đẫn đến đề kháng insulin.
+ Do một số các bệnh nội tiết:
- Cường sản, u thùy trước tuyến yên hoặc vỏ thượng thân (bệnh cushing hay hội chứng cushing).
- Tăng tiết GH (STH) sau tuổi dây thì: bệnh to đầu chi (acromegalia).
- Cường sản hoặc u tủy thượng thận sẽ làm tăng tiết cathecolamin (hội chứng pheocromocytoma)
- Basedow.
- Cường sản hoặc khối u tế bào anpha đảo Langerhans làm tăng tiết hormon tăng đường huyết (glucagon).
- Khối u tiết somatostatin, aldosterol có thể gây đái tháo đường, nguyên nhân do khối u ức chế tiết insulin. Nếu phẫu thuật cắt khối u thì đường huyết sẽ giảm.
+ Đái tháo đường do thuốc:
- Do điều trị bằng corticoid kéo dài.
- Do dùng các thuốc lợi tiểu thải muối như: hypothiazit, lasix liều cao, kéo dài sẽ gây mất kali. Thiếu kali dẫn đến ức chế tuyến tụy giải phóng insulin và làm tăng đường huyết.
- Hormon tuyến giáp.
- Thuốc tránh thai: ở một số phụ nữ dùng thuốc tránh thai xuất hiện tăng đường máu (tuy nhiên cơ chế chưa rõ).
- Interferon a: có thể bị đái tháo đường vì có kháng thể kháng lại đảo tụy.
- Vacor: là một loại thuốc diệt chuột có thể phá huỷ tế bào b.
2. Đái tháo đường do bệnh lý ty lạp thể
+ Là một bệnh di truyền từ mẹ cho con do sự đứt đoạn hay đột biến ADN (ít gặp, thường từ 5-10% trong số các trường hợp bị bệnh).
+ Thường kèm theo điếc, viêm võng mạc sắc tố không điển hình.
+ Gặp ở mọi lứa tuổi.
3. Đái tháo đường thể MODY (maturity onset diabetes of the young)
+ Khởi phát sớm (trước 25 tuổi), di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường, có bất thường về tiết insulin (5% trường hợp gặp ở đái tháo đường typ 2).
+ Có 3 thể MODY:
- MODY 1: có liên quan đến đột biến gen HNF- 4 (hiếm gặp).
- MODY 2: liên quan đến đột biến gen glucokinase (tăng đường huyết vừa phải, ít khi cần điều trị bằng insulin).
- MODY 3: liên quan đến đột biến gen HNF-1, tiến triển cần phải điều trị bằng insulin sớm.
4. Bất thường về cấu trúc insulin
Các bất thường về cấu trúc insulin quyết định bởi các gen là một nguyên nhân hiếm gặp của đái tháo đường.
5. Các hội chứng do tăng đề kháng insulin
+ Là một hội chứng di truyền hiếm gặp, thường kết hợp với bệnh gai đen và kèm theo có cường androgen.
Có 3 loại:
- Týp A: những bất thường về số lượng và chất lượng thụ thể của insulin.
- Týp B: có sự xuất hiện kháng thể kháng thụ thể insulin.
- Týp C: những bất thường sau thụ thể insulin.
+ Một số hội chứng hiếm gặp như Leprechaunisme, đái tháo đường thể teo mỡ, hội chứng Ralsin-Mandenhall hay bệnh già-lùn (progeria) thường có liên quan đến týp A.
6. Các hội chứng di truyền kết hợp với bệnh đái tháo đường
+ Trisomia 21 (hội chứng Down).
+ Hội chứng Klinfelter.
+ Hội chứng Turner.
+ Hội chứng Wolfram (điếc, teo thần kinh thị giác, đái tháo đường hoặc đái tháo nhạt).

3011
08-03-2010, 01:29 PM
1. Đái tháo đường týp 1 (do tế bào bêta của đảo tụy bị phá hủy dẫn đến thiếu insulin hoàn toàn):
+ Thường xuất hiện ở người trẻ tuổi < 40 tuổi.
+ Khởi bệnh đột ngột, cấp tính.
+ Thể trạng gầy.
+ Dễ có nhiễm toan ceton.
+ Tổn thương vi mạch thường sau vài năm.
+ Nồng độ insulin huyết thanh thấp.
+ Bắt buộc phải điều trị bằng insulin.
2. Đái tháo đường týp 2 (liên quan đến kháng insulin và rối loạn tiết inslin):
+ Thường gặp ở người lớn tuổi > 40 tuổi.
+ Bệnh khởi phát từ từ.
+ Thể trạng thường béo.
+ ít có nhiễm toan ceton.
+ Tổn thương vi mạch thường xuất hiện sớm, nồng độ insulin máu tăng hoặc bình thường.
+ Điều trị bằng chế độ ăn, luyện tập thể dục và thuốc hạ đường huyết bằng đường uống thì đường máu trở về bình thường.
3. Đái tháo đường ở phụ nữ mang thai
+ Thường gặp ở phụ nữ mang thai vào những tháng cuối từ tháng thứ 6 trở đi của thời kỳ thai nghén. Vì trong 3 tháng cuối thai phát triển rất nhanh nên nhu cầu về cung cấp năng lượng của người mẹ cũng cần phải tăng cao hơn. Chính vì vậy nhu cầu insulin cần phải tăng hơn gấp 3-4 lần so với bình thường để đưa đường từ máu vào tế bào dẫn đến thiếu insulin tương đối và sẽ xuất hiện đái tháo đường.
+ Mặt khác trong khi có thai cơ thể của người mẹ cũng sinh ra một số các nội tiết tố có tác dụng đề kháng insulin.
4. Các týp khác (đái tháo đường thứ phát):
+ Đái tháo đường xuất hiện sau một số bệnh nội tiết như: cushing, bệnh to đầu chi (acromegalia), Basedow, u tuỷ thượng thân (pheocromocytoma), u tế bào tiết glucagon, u tế bào tiết aldosterol...
+ Đái tháo đường do thuốc: corticoid, thuốc tránh thai, thuốc lợi tiểu thải muối (lasix, hypothiazid), hormon tuyến giáp, vacor, dùng lâu, kéo dài có thể dẫn đến tăng đường máu.

3011
08-03-2010, 02:03 PM
+ Glucose máu: bình thường thay đổi từ 3,9-6,4 mmol/l. Có thể lấy máu tĩnh mạch, hoặc máu mao mạch đầu ngón tay dàn trên máy glucomete: sau 15-45 giây có kết quả, rất tiện lợi trong cấp cứu.
+ Nghiệm pháp dung nạp glucose: cần làm trong trường hợp nghi ngờ có đái tháo đường (nếu đường máu lúc đói từ 6,1 đến 6,9 mmol/l).
- Cách làm: Lấy máu làm xét nghiệm đường huyết lúc đói, sau đó cho bệnh nhân uống 75g glucose pha trong 200ml nước đun sôi để nguội. Sau 2h lấy máu thử lại lần 2.
- Kết quả:
. Bình thường, sau 2h uống glucose thì đường máu <7,8 mmol/l.
. Nếu là đái tháo đường sau 2h làm nghiệm pháp đường huyết >11 mmol/l.
. Nếu sau khi làm nghiệm pháp thấy đường máu ³ 7,8 mmol/l và < 11 mmol/l thì là do rối loạn dung nạp glucose.
+ Glucose niệu: khi đường huyết > 8 mmol/l sẽ xuất hiện đường trong nước tiểu.
+ Protein niệu:
- Xét nghiệm để phát hiện tổn thương thận sớm, nhất là microalbumin niệu (30-300mg/24h hoặc 20-200mg/l).
Đây là một xét nghiệm rất quan trọng để theo dõi tiến triển của bệnh.
- Protein niệu xuất hiện khi bệnh nhân đi tiểu >500mg/24h, tiên lượng rất xấu nếu xuất hiện nhiều protein niệu và nhất là khi có suy thân.
+ HbA1C là một xét nghiệm để giúp kiểm soát đường huyết, theo dõi quá trình tiến triển của bệnh và kết quả điều trị, không có giá trị trong chẩn đoán. HbA1C bình thường 5-6%, trên bệnh nhân đái tháo đường thì HbA1C sẽ tăng cao.
+ Xét nghiệm ceton huyết thanh và nước tiểu để theo dõi biến chứng của đái tháo đường, nếu (+) thì bệnh tiến triển sẽ nặng dần và dễ dẫn đến hôn mê.

3011
08-03-2010, 02:08 PM
1. Thuốc uống hạ đường huyết:Điều trị cho bệnh nhân đái tháo đường týp 2, nếu chế độ ăn và luyện tập thể thao mà đường huyết không về bình thường được.
* Nhóm sufonylurea (sunfamit hạ đường huyết):
+ Cơ chế tác dụng:
- Kích thích tế bào bêta của tuyến tụy sản xuất ra insulin.
- Làm tăng nhạy cảm với insulin.
- Làm giảm đề kháng insulin.
- Giảm sự kết dính tiểu cầu hạn chế gây đông máu.
- Làm bình thường quá trình tiêu fibrin nội mạc.
- Giảm hoạt tính gốc tự do.
- Làm chậm tiến triển bệnh lý võng mạc.
+ Sunfamid hạ đường huyết thế hệ 1:
- Tolbutamide (diabetol, tolbucal, xyclamid): hấp thu nhanh qua đường tiêu hoá, sau 30 phút có tác dụng, tác dụng đỉnh sau 4-5h, kéo dài 12h.
Viên nén hàm lượng 0,5g x 1-2g/ngày chia nhiều lần trong ngày. Nếu đường máu trở về bình thường có thể giảm liều và duy trì 0,5- 1g/ngày.
- Chlorpropamide (diabiner, galiron, melliner...): thuốc có tác dụng mạnh hơn tolbutamid nhưng độc tính cao hơn. Thuốc hấp thu nhanh 30’- 1h sau khi uống và kéo dài 24h. Nên có thể cho uống một lần vào buổi sáng.
- Carbutamide:
+ Sunfamid thế hệ thứ 2:
- Glibenclamid (daonil, maninil...): viên 5 mg x 2- 4v/ngày.
- Gliclazid (diamicron, predian): viên 80 mg x 2- 3v/ngày.
- Glimepirid được coi là thuốc có tác dụng hạ đường huyết mạnh nhất trong các sunfonylurêa (amaryl): 2 mg; 4 mg x 1- 2v/ngày, có thể tăng liều đến khi đường máu trở về bình thường, giảm liều điều trị củng cố 1v/ngày.
Có thể dùng đơn độc hoặc phối hợp với bigunamid hoặc insulin.
* Nhóm bigunamid:
+ Cơ chế tác dụng:
- ức chế sự tân sinh glucose ở gan.
- Tăng nhạy cảm của insulin đối với tổ chức ngoại vi.
- Tăng sử dụng glucose ở tổ chức cơ, giảm hấp thu glucose ở ruột non.
- Tăng tổng hợp glucogen, giảm tân tạo glucogen trong gan, ngoài ra biguamid còn có tác dụng ức chế tổng hợp lipit cho nên nó làm giảm cholesterol và triglycerid máu.
- Có tác dụng gây chán ăn nên rất tốt với bệnh nhân đái tháo đường có béo phì.
+ Dựa theo cấu trúc hoá học có 3 nhóm biguanid khác nhau:
- Phenethylbiguanid (phenformin).
- Buthylbiguanid (buformin, silubin, adebit).
- Methyl biguanit (metformin, metforal, glucophage).
Hiện nay trên lâm sàng chủ yếu dùng methyl biguanid vì ít độc hơn 2 loại trên.
Viên metformin 500 mg hoặc 850 mg: 2- 3v/ngày. Liều tối đa có thể dùng 2500mg/ngày, có thể dùng đơn trị liệu hoặc phối hợp với sulfonylurêa hoặc insulin.
+ Tác dụng phụ:
- Chán ăn, buồn nôn, nôn, rối loạn tiêu hoá.
- Nhiễm toan axit lactic do điều trị liều cao kéo dài biguamid sẽ dẫn đến phân hủy quá nhiều glucogen do đó axit lactic sẽ được tạo nên nhiều hơn.
* Nhóm acarbose (nhóm ức chế men anphaglucosidase):
+ Cơ chế tác dụng: ức chế sự phân hủy glucose, làm chậm quá trình hấp thu hydratcarbon bằng cách ức chế men anphaglucosidase ở ruột; làm giảm đường huyết sau ăn, giảm HbA1C. Có tác dụng điều trị cho cả đái tháo đường týp 1 và 2, tuy nhiên hiệu quả điều trị kém hơn 2 nhóm trên, nên ít khi sử dụng điều trị đơn độc mà phải phối hợp với 1 trong 2 loại nhóm trên.
Viên glucobay 50 mg; 100 mg: có thể dùng 200-300 mg/ngày uống ngay khi ăn.
+ Tác dụng phụ: tiêu chảy, sinh hơi ở ruột, dị ứng, độc với gan.
* Nhóm benfluorex (mediator) 150 mg:
+ Cơ chế tác dụng:
- Mediator cải thiện đề kháng insulin tại gan và cơ trong đái tháo đường type 2 có béo phì.
- Không làm thay đổi insulin huyết thanh.
- Độ nhạy cảm với insulin được cải thiện.
- Làm giảm triglycerid máu.
Mediator không độc với gan, không gây nhiễm toan axit lactic, không gây hạ đường huyết.
2. Insulin
+ Chỉ định:
- Đái tháo đường týp 1 là bắt buộc phải điều trị bằng insulin.
- Cấp cứu tiền hôn mê hoặc hôn mê do đái tháo đường.
- Những bệnh nhân sút cân nhiều, suy dinh dưỡng hoặc có các bệnh nhiễm khuẩn đi kèm.
- Đái tháo đường týp 2 đã được điều trị phối hợp với các thuốc uống nhưng không có kết quả.
- Chuẩn bị trước, trong phẫu thuật.
- Đái tháo đường đã có nhiều biến chứng hoặc biến chứng một trong 3 cơ quan đích (tim, thân, não).
- Đái tháo đường ở phụ nữ mang thai.+ Liều đầu tiên: 0,3- 0,5 đv/kg/ngày tiên dưới da.
- Thường phối hợp 2/3 insulin chậm và 1/3 insulin nhanh trộn lẫn. Nếu tiêm dưới 30 đơn vị thì có thể tiêm một lần vào buổi sáng, còn nếu tiêm trên 30 đơn vị phải chia đôi sáng- chiều, không nên tiêm xa bữa ăn hoặc buổi tối để tránh hạ đường huyết. Nếu tiêm insulin nhanh nên chia nhiều lần trong ngày vì tiêm nhiều lần kiểm soát đường huyết tốt hơn.
- Những ngày sau đó thì tùy thuộc vào đường huyết để điều chỉnh liều insulin cho thích hợp- khi đường máu trở về bình thường có thể chuyển sang điều trị củng cố, liều củng cố bằng 1/2 liều ban đầu và điều trị liên tục suốt đời. Nếu có điều kiện nên kiểm tra đường huyết nhiều lần trong ngày.
- Insulin nhanh tiêm trước ăn 30 phút, insulin bán chậm có thể tiêm trước khi ăn sáng hoặc trước bữa ăn chiều.
+ Tai biến và tác dụng phụ khi điều trị insulin.
- Hạ đường huyết: nguyên nhân do điều trị quá liều insulin, do bỏ ăn nhưng liều insulin không được giảm, rối loạn tiêu hoá, stress, nhiễm trùng, do vận động quá mức...
- Dị ứng: tại chỗ tiêm đỏ và đau hoặc có thể dị ứng toàn thân nổi mẩn đỏ.
- Loạn dưỡng mỡ do insulin: là một biến chứng tại chỗ, có 2 thể: teo (atrophie) hoặc phì đại (hypertrophie) trong lâm sàng hay gặp thể teo, nguyên nhân có thể là do rối loạn dinh dưỡng thần kinh ở vùng tiêm do kích thích cơ học hoặc có thể do dị ứng. Để tránh hiện tượng này không nên tiêm một chỗ mà nên tiêm nhiều chỗ dưới da (tốt nhất là dưới da bụng).
- Kháng insulin: khi điều trị insulin với liều 200 đơn vị trở lên thấy không có kết quả thì được gọi là kháng insulin. Để đề phòng tình trạng kháng insulin nên khống chế được chế độ ăn thật tốt và trong điều trị nhất là đái tháo đường týp 2 cần phối hợp với các thuốc uống, luyện tập thể thao đều đặn, tránh béo phì.
+ Một số dạng insulin khác:
- Insulin uống: ngày nay ở một số nước đã sử dụng insulin dưới dạng uống, dưới dạng viên nang khi uống tới ruột non mới được giải phóng và không bị dịch vị dạ dày phá hủy.
- Insulin dạng xịt (khí dung): có thể xịt vào mồm hoặc mũi. Tuy nhiên hiệu quả điều trị kém hơn và phải mất nhiều thời gian.
- Bút tiêm insulin (pen insulin): tiện lợi, khống chế chính xác liều insulin tiêm vào.

3011
08-03-2010, 02:22 PM
Triệu chứng chẩn đoán
*Triệu chứng cơ năng:
Các nang buồng trứng khi kích thước còn nhỏ triệu chứng nghèo nàn, có những khối u tiến triển âm thầm, người bệnh có cảm giác hơi tức hoặc ậm ạch vùng hố chậu, ít gây ảnh hưởng rối loạn kinh nguyệt nên thường bỏ qua. Khi u phát triển nhanh bệnh nhân tự sờ thấy hoặc các triệu đau tăng lên, đái buốt, đái dắt, đái khó, đại tiện khó. Thường đó là giai đoạn muộn. Với những u có cuống dài, xuất hiện các triệu chứng ngoại khoa: đau bụng dữ dội, đột ngột, có khi như dao đâm buộc bệnh nhân phải đi bệnh viện cấp cứu.
* Triệu chứng thực thể:
U có kích thước lớn dễ dàng sờ được qua thành bụng, khối u lồi lên làm bụng vồng cao, có ranh giới rõ, mật độ mềm hoặc căng, sờ có thể di động, có khi không di động.
Thăm âm đạo hoặc thăm trực tràng sờ được khối u ở cạnh tử cung, ranh giới rõ khoặc không rõ, mật độ u mềm hoặc căng, có khi u đè lên tử cung và khó xác định.
* Cận lâm sàng:
- Siêu âm: Âm vang thưa hoặc loãng. Nếu có khối u đường kính < 5cm thì cần theo dõi u cơ năng.
Có thể dùng thước đo buồng tử cung để chẩn đoán u nang buồng trứng.
- Chụp XQ:
+ Chụp ổ bụng không chuẩn bị có hình cản quang đậm âm là u bì buồng trứng
+ Chụp XQ tử cung vòi trứng có bơm thuốc cản quang có thể thấy hình ảnh u gián tiếp.
- Soi ổ bụng có thể thấy được các khối u khi còn nhỏ.
- Nếu u quá to, siêu âm không thể phát hiện được ranh giới của u thì phải dùng CT Scanner.

3011
12-03-2010, 11:28 AM
Ung thư phổi di căn theo 4 đường:
- Xâm nhập tại chỗ: UT xâm nhập ra mô phổi xung quanh dọc theo phế quản, xâm lấm màng phổi và trung thất.
- Di căn theo đường lympho đến hạch rốn phổi. Hạch di căn đè ép mô xung quanh gây các hội chứng lâm sàng.
- Di căn trong khoang màng phổi gây tràn dịch.
- Di căn theo đường máu đến não, xương, gan, tuyến thượng thận. Di căn xương thường ở xương sườn, cột sống, xương đùi, xương chày. Hay gây gãy xương bệnh lý.

3011
12-03-2010, 11:29 AM
+ UT phổi ít có triệu chứng sớm
+ Những biểu hiện lâm sàng sau vài năm khi có u, UT TB nhỏ phát triển nhanh nhất, UT tuyến phát triển chậm nhất.
+ Biểu hiện lâm sàng gồm:
- Ho (80%)
- Ho ra máu (70%)
- Khó thở (60%)
- Đau ngực (40%)
- Thở rít, thở ngáy (Wheeze) (15%)

3011
12-03-2010, 11:32 AM
Chẩn đoán Xquang:
- Xquang là biện pháp không thể thiếu trong chẩn đoán lao phổi. Tuy nó không phải là biện pháp chính xác nhưng nó có giá trị gợi ý và cho hướng chẩn đoán lao phổi.
- Những dấu hiệu tổn thương sau đây gợi ý lao phổi:
. Tốn thương nốt: hạt kê ( đường kính < 2mm ), nốt nhỏ ( 2-5 mm ), nốt lớn ( 5- <10 mm ).
. Tốn thương thâm nhiễm : các nôt qui tụ thành đám từ 10 mm trở nên, có thể chiếm cả thuỳ hoặc nhiều thuỳ phổi.
. Tổn thương hang: hang nhỏ ( đường kính < 2 cm ) , hang lớn ( ³ 4 cm ) , hang khổng lồ ( ³ 6 cm ) trong lao phổi thường gặp tổn thương hang.
. Tổn thương xơ: trong tổn thương lao thường có xơ hoá. Cần tìm dấu hiệu kéo rốn phổi, co kéo rãnh liên thuỳ bé, cơ hoành, khí quản các khoảng gian sườn hoặc dầy dính màng phổi. Là những dấu hiệu nói lên tiến triển mạn tính của bệnh.
. Vôi hoá: gặp trong các lao cũ và mạn tính, hoặc di chứng lao ổn định.
Các tổn thương trên có thể phối hợp với nhau và thường khu trú ở đỉnh phổi hoặc các phân thuỳ đỉnh của thuỳ dưới ( phân thuỳ VI ), với đặc điểm lan tràn theo 3 đường: đường máu và bạch huyết ( từ đỉnh phổi này lan sang đỉnh phổi kia ), đường phế quản ( lan tràn chéo từ đỉnh phổi bên này sang đáy phổi bên kia ), đường tiếp cận ( sang các phân thuỳ khác hoặc màng phổi ).
- Những kỹ thuật Xquang thường áp dụng trong chẩn đoán lao:
+ Chiếu điện ( ngày nay ít sử dụng ): lợi ích của chiếu điện là quan sát tổn thương khi phổi đang hoạt động, nhằm xác định vị trí tổn thương có thể chẩn đoán nhanh và kiểm tra hàng loạt người một lúc giúp cho phát hiện lao ở tuyến cơ sở. Nhưng chiếu điện dễ bỏ sót các tổn thương nhỏ như: lao huỵêt, lao kê và lao thâm nhiễm diện hẹp.
+ Chụp Xquang chuẩn ( bệnh nhân đứng cách xa bóng Roenghen 1,8m ) tư thế thẳng và nghiêng phải hoặc nghiêng trái. Dựa vào phim thẳng và nghiêng có thể xác định được vị trí và tính chất tổn thương ( hang, u lao, thâm nhiễm ). Đây là kỹ thuật thường được áp dụng trong chẩn đoán lao phổi.
+ Chụp cắt lớp ( Tomographie ) để phát hiện hoặc xác định các u hoặc hang mà phim chuẩn thẳng nghiêng không thấy rõ. Nhất là để kiểm tra lần cuối sau đợt điều trị lao phổi, mà nghi ngờ vẫn còn hang. Có thể cắt được các lớp từ 0,5-1cm, từ sau ra trước.
+ Chụp cắt lớp vi tính ( CT-Scanner ) có thể cắt lớp ở nhiều bình diện, lớp cắt mỏng ( 2mm ), nên có thể phát hiện sớm được các loại nốt thâm nhiễm, u lao hoặc hang lao nhỏ để có hướng chẩn đoán lao phổi.
+ Chụp Lordotic hoặc Fleischner: nhằm phát hiện những tổn thương bị xương đòn che lấp. Kỹ thuật di chuyển bóng Roenghen lên hoặc xuống, để bộc lộ rõ tổn thương bị che lấp bởi xương đòn.

3011
12-03-2010, 11:37 AM
+ Lao cơ quan hô hấp thuộc nhóm II, gồm 12 thể:
1.Phức hệ nguyên thuỷ.
2.Lao hạch bạch huyết trong ***g ngực.
3.Lao phổi tản mạn.
4.Lao phổi thể huỵêt.
5.Lao phổi thâm nhiễm.
6.U lao.
7.Lao hang.
8.Lao xơ hang.
9.Lao xơ phổi.
10.Lao màng phổi.
11.Lao đường hô hấp trên, khí quản, phế quản.
12.Lao cơ quan hô hấp phối hợp bệnh bụi phổi nghề nghiệp.

3011
12-03-2010, 11:41 AM
Nguyên nhân và bệnh sinh:
- Hút thuốc lá, thuốc lào: 88% số người nghiện hút thuốc bị viêm phế quản mạn tính. Khói thuốc lá làm giảm vận động tế bào có lông của niêm mạc phế quản, ức chế chức năng đại thực bào phế nang, làm phì đại và quá sản các tuyến tiết nhầy, làm bạch cầu đa nhân giải phóng men tiêu Protein. Khói thuốc lá còn làm co thắt cơ trơn phế quản.
- Bụi ô nhiễm: SO2, NO2. Bụi công nghiệp, khí hậu ẩm ướt, lạnh.
- Nhiễm khuẩn: vi khuẩn, virut, những ổ viêm nhiễm ở đường hô hấp trên và viêm phế quản cấp là cơ sở thuận lợi cho viêm phế quản mạn tính phát triển.
- Cơ địa và di truyền: dị ứng, người có nhóm máu A dễ bị viêm phế quản mạn tính, Thiếu hụt IgA , hội chứng rối loạn vận động rung mao tiên phát, giảm a1Antitripsin.
- Yếu tố xã hội: cuộc sống nghèo nàn, lạc hậu.
- Cơ chế bệnh sinh chủ yếu do:
+ Biến đổi chất gian bào.
+ Mất cân bằng giữa Protêaza và kháng Proteaza.
+ Mất cân bằng giữa hệ thống chống oxy hoá và chất oxy hoá.

3011
17-03-2010, 11:00 AM
-Cho bệnh nhân ngừng vận động, nằm nghỉ nơi yên tĩnh, thoáng, thở nhẹ nhàng, giải thích cho bệnh nhân tránh lo lắng.
- Cắt cơn đau: ngậm dưới lưỡi 1 viên Nitroglycerin 0,5 - 0,75mg, thuốc cắt cơn đau từ 30 giây đến 1 - 2 phút, kéo dài 30 phút. Có thể xịt Nitromint sprey vào miệng 1 - 2 lần. Nếu có điều kiện ghi điện tâm đồ ngay.
Theo dõi huyết áp, mạch, cơn đau. Sau 10 -20 phút, nếu vẫn còn đau ngực thì cho ngậm lại 1 viên Nitroglycerin 0,5mg hoặc xịt Nitromint sprey, thường thì với liều này là có kết quả. Nếu cơn đau kéo dài trên 20 phút mặc dù đã dùng Nitroglycerin thì phải lưu ý đến khả năng nhồi máu cơ tim, bệnh nhân cần được chuyển ngay lên tuyến trên.
Trong ngày có thể dùng thuốc nhiều lần nếu cơn đau lại tái diễn và bệnh nhân không bị đau đầu, hạ huyết áp. Chống chỉ định dùng Nitroglycerin khi huyết áo tâm thu <100mmHg. Tăng nhãn áp.
- Bảo vệ tế bào cơ tim: Vastarel 20mg, uống 3 viên/ngày chia làm 2 lần.
- Có thể dùng thuốc an thần: Seduxen 5mg.

3011
17-03-2010, 11:01 AM
Về nguyên tắc, phải chuyển bệnh nhân lên ngay tuyến bệnh viện để có điều kiện hồi sức tích cực, cấp cứu bệnh nhân. Khi vận chuyển phải hết sức nhẹ nhàng, giữ bệnh nhân bất động trên cáng và sẵn sàng cấp cứu dọc đường. Nếu bệnh viện quá xa, đi lại khó khăn thì giữ lại và mời tuyến bệnh viện đến hỗ trợ, chỉ đạo cách điều trị rồi chuyển khi tình hình bệnh tật cho phép.
Các biện pháp xử trí trước mắt ở tuyến bệnh xá:
- Bất động tuyệt đối trên giường, không cho bệnh nhân tự vận động dù chỉ vận động nhẹ. Trấn tĩnh bệnh nhân. Cho thở ôxy.
- Chống đau: có thể dùng Morphin 0,01g tiêm dưới da (không chỉ định khi có bệnh phổi - phế quản mạn tính, suy hô hấp, tụt huyết áp), hoặc 1 ống Dolargan 0,10g + 10ml nước cất tiêm bắp thịt ml/lần. Tiêm lại sau 3 -4 giờ nếu cơn đau vẫn kéo dài. Cho thêm Seduxen 5 mg uống.
- Chống đông: Aspirin ngày đầu 325mg, các ngày sao 100mg/ ngày, uống sau ăn (không chỉ định nếu có loét dạ dày, tá tràng).
- Nếu nhịp tim quá chậm <50ck/phút: Atropin 1/2 -1mg tiêm tĩnh mạch.
- Nếu có ngoại tâm thu thất: Lidocain 2% truyền tĩnh mạch 200 mg trong dung dịch glucose 5%, liều 20- 50 mg/kg/phút. Nếu thấy ngoại tâm thu thất dày, tiêm tĩnh mạch chậm Lidocain 1 mg/kg rồi mới truyền tĩnh mạch. Để dự phòng rối loạn nhịp tim khi vận chuyển, chỉ xử trí khi ảnh hưởng đến huyết động: Cordarone viên 200 mg, cho 1 - 2 viên/ngày.
- Nếu truỵ mạch nặng: truyền tĩnh mạch Noradrenalin 4mg pha trong 500ml dung dịch glucose 5% để nâng huyết áp lên. Nếu có Dopamin thì truyền 200 mg pha trong 250 ml dung dịch glucose 5% (1ml có 800mg Dopamin), bắt đầu liều 2 - 5 mg/kg/phút rồi tăng dần lên 10 -15 mg/kg/phút để đưa huyết áp tâm thu lên 95- 100 mmHg, khi đã đạt mức huyết áp này thì giảm xuống liều duy trì.
- Nếu có phù phổi cấp: tiêm tĩnh mạch Lasix 20mg 1 ống, ngậm Nitroglycerin 0,5 mg dưới lưõi, truyền tĩnh mạch Isolanid 0,4 mg pha trong dung dịch glucose 5%.
Theo dõi sát huyết áp, mạch, nhịp thở và cơn đau để xử lý kịp thời.
Hiện nay, một số bệnh viện ở Hà Nội (trong đó có BVTƯQĐ108), thành phố HCM, nếu đã có điều kiện can thiệp tái tưới máu cơ tim (nong vành, đặt stent, dùng thuốc tan huyết khối …) để điều trị một cách cơ bản. Vì vậy, nếu bệnh nhân có những dấu hiệu nghĩ đến nhồi máu cơ tim cấp nên sớm chuyển bệnh nhân về tuyến sau để xác định chẩn đoán và quyết định phương hướng xử trí cần thiết.

3011
17-03-2010, 11:07 AM
Ung thư đại tràng là một bệnh lý phổ biến. Tại Mỹ, hàng năm có khoảng trên 200.000 người mắc bệnh và khoảng gần 60.000 người tử vong vì ung thư đại tràng. Đây là căn bệnh đứng hàng đầu trong ung thư đường tiêu hóa tại các quốc gia Âu và Mỹ.
Ở Việt Nam, ung thư đại tràng là một trong ba loại ung thư hàng đầu thuộc hệ tiêu hóa. Theo Hội Ung thư TP Hồ Chí Minh, ung thư đại tràng nằm trong số 5 bệnh ung thư có số người mắc cao nhất. Khảo sát mới nhất về tình trạng ung thư tại TP Hồ Chí Minh cho thấy, ung thư đại tràng xếp thứ 4 ở nam giới (sau ung thư gan, phổi và dạ dày) và thứ 3 ở nữ giới (sau ung thư cổ tử cung và ung thư vú). Nhưng cũng cần biết rằng, di căn của ung thư đại tràng lại nằm ở gan và phổi.
Dự đoán trong vài năm tới, số người mắc căn bệnh này sẽ tăng nhanh do lối ăn uống ít chất xơ, giàu thịt và các món ăn nhanh ngày một thịnh hành. Theo Hiệp hội Ung thư Mỹ, trong số bệnh nhân tử vong do ung thư tại Mỹ thì có tới 60% do ung thư đại tràng, tại Ba Lan con số này vượt 75%.
Hiện nay, y học chưa biết chính xác nguyên nhân gây ung thư đại tràng. Tuy nhiên, có những yếu tố nguy cơ chắc chắn làm dễ mắc bệnh hơn như tuổi tác (trên 9% bệnh nhân ung thư đại tràng là trên 50 tuổi), có tiền sử bị polip đại tràng, có tiền sử mắc bệnh viêm loét đại tràng, có tiền sử mắc bệnh viêm loét đại tràng và bệnh Crohn, trong gia đình có người mắc bệnh ung thư đại tràng hay đường ruột, chế độ ăn – uống nhiều chất mỡ động vật, thịt màu đỏ, nghèo chất xơ nguồn gốc thực vật, ít vận động, béo phì, uống nhiều rượu và hút nhiều thuốc lá…

3011
17-03-2010, 11:09 AM
Ung thư đại tràng có thể khởi phát ở bất cứ vị trí nào trên đại tràng, từ lớp trong cùng của thành ruột (niêm mạc đại – trực tràng), sau đó xâm lấn ra phía ngoài qua các lớp khác của thành ruột. Ung thư ở mỗi vị trí trên đại tràng sẽ có biểu hiện triệu chứng khác nhau – thông thường là có máu trong phân. Trong đại đa số các trường hợp, ung thư đại tràng phát triển âm thầm trong nhiều năm. Trên 95% các trường hợp ung thư đại tràng là loại ung thư tế bào tuyến, nó bắt nguồn từ tế bào của niêm mạc ruột già.
Ở giai đoạn sớm, triệu chứng thường không rõ, nhiều khi người bệnh chỉ đau bụng nhẹ, cũng có khi bị trướng hay đầy bụng, đau tức vùng bụng trước hoặc sau khi ăn. Triệu chứng thường gặp và có giá trị chẩn đoán là đi ngoài ra máu – nhất là ở những người ở độ tuổi 45 - 55; rối loạn tiêu hóa, có ngày bị táo bón, có ngày lại bi đi lỏng kiểu tiêu chảy. Những triệu chứng này thường bị người bệnh nhầm với bệnh trĩ hay rối loạn tiêu hóa do ăn – uống. Do vậy, có tới 85% bệnh nhân nhập viện đã bị ung thư đại tràng giai đoạn giữa hay đã bị di căn.
Theo khuyến cáo của Hiệp hội Ung thư Mỹ, muốn phát hiện sớm ung thư đại tràng cần thử phân, khi xuất hiện triệu chứng như có thay đổi thói quen đi vệ sinh, đau bụng dưới, mệt mỏi. Do căn bệnh nguy hiểm này rất phổ biến, nên mọi người ở tuổi 45 – 55 đi kiểm tra xét nghiệm định kỳ, như thử phân, nội soi đại tràng. Khi có những triệu chứng rối loạn đường tiêu hóa, ăn không tiêu, táo bón, đầy bụng, bị tiêu chảy, nhất là ở tuổi trên 40, thì cần khẩn trương đi khám. Theo Hiệp hội Ung thư Mỹ, khoảng 58% bệnh nhân bị ung thư giai đoạn II và di căn khi được chẩn đoán lần đầu tiên. Trên 85% số bệnh nhân mắc ung thư đại tràng bị di căn và tử vong do phát hiện chậm.

3011
17-03-2010, 11:10 AM
Trên thực tế, cho đến nay chưa có loại thuốc nào được công nhận là có tác dụng với bệnh này. Tỷ lệ sống được 5 năm sau phẫu thuật là 90% nếu ung thư còn trong lòng ruột. 50% nếu ung thư đã ăn qua thành ruột, chưa ăn vào hạch, còn 30% khi khối u đã ăn vào hạch và chỉ 10% nếu đã di căn vào nội tạng, như gan và phổi.
Theo tiến sĩ Khoo Kei Siong, cố vấn cao cấp về ung thư học và điều trị thuộc bệnh viện Gieneagles (Singapore), biện pháp phẫu thuật cắt bỏ khối u là tối ưu cho loại ung thư này và sau đó là áp dụng liệu pháp hóa trị. Nguy cơ rủi ro của phẫu thuật (như chảy máu trong mô liên kết hay nhiễm trùng) nếu được các chuyên gia phẫu thuật tiến hành sẽ giảm 50 – 60%. Sau phẫu thuật cắt bỏ khối u, hóa trị có thể không cần thiết. Điều này phụ thuộc vào bệnh nhân đang bị ung thư ở giai đoạn nào. Ở giai đoạn II và III của bệnh, bệnh nhân phải được hóa trị để tăng khả năng phục hồi. Ở giai đoạn IV, hóa trị có tác dụng ngăn chặn sự phát triển của các tế bào ung thư. Không dùng xạ trị cho ung thư đại tràng vì dễ gây viêm nhiễm xạ cho các tạng trong ổ bụng.
Gần đây, đã có những loại thuốc mới trong hóa trị bệnh ung thư đại tràng không chỉ hiệu quả hơn mà tác dụng phụ tiêu cực cũng ít hơn. Do vậy, hóa trị liệu là phương pháp an toàn hơn cả. Oxaliplatin, Irinotecan, Cetuximab (Erbitux) và Acizumab (Avastin) là những loại thuốc mới hiệu quả trong biện pháp hóa trị liệu, một vài loại trong số này không hề gây rụng tóc. Đặc biệt, mới đây đã có loại thuốc viên đầu tiên chống ung thư đại tràng di căn mang tên Xeloda (Capecitabine), với liều dùng để uống 2 ngày/lần tại nhà. Nghiên cứu tại Đại học Texas (Mỹ) cho thấy, khi vào cơ thể thuốc kết hợp với một enzyme để biến thành 5-FU – một loại thuốc điều trị ung thư đã được sử dụng nhiều năm nay. Hiệu quả điều trị của Xeloda là tương đương với các thuốc hóa trị khác, trong khi tác dụng phụ rất ít, giúp cho sự điều trị không bị gián đoạn và bệnh nhân không phải nhập viện.

3011
17-03-2010, 11:16 AM
Ung thư vú: Là loại ung thư chiếm tới 35% trong các bệnh ung thư ở nữ. Nếu phát hiện ở giai đoạn 0 (lâm sàng), tỷ lệ khỏi bệnh là 100%, từ giai đoạn 1, 2, 3 và 4, tỷ lệ khỏi bệnh giảm dần còn 95%, 80%, 72% và 25%. Có ba phương pháp để phát hiện sớm ung thư vú theo các bước sau. Một là tự khám vú, nếu phát hiện một trong những bất thường thì nên đi khám ngay. Hai là đi khám tại các cơ sở y tế chuyên khoa: Đối với phụ nữ từ 30 tuổi trở lên nên khám 1 – 3 năm/lần, phụ nữ 40 tuổi trở lên khám 1 năm/lần. Ba là chụp X-quang tuyến vú đối với phụ nữ 40 tuổi trở lên, đặc biệt với phụ nữ từng xạ trị vùng ngực, gia đình hoặc bản thân từng bị ung thư vú hoặc ung thư buồng trứng, mang gen hoặc một số hội chứng di truyền.
Ung thư cổ tử cung: Mọi phụ nữ sau khi bắt đầu quan hệ tình dục 3 năm thì nên khám sàng lọc 1 năm/lần, kể cả phụ nữ đã cắt tử cung bán phần (còn cổ tử cung). Phụ nữ từ 30 tuổi trở lên, sau 3 lần khám âm tính liên tiếp thì có thể khám thưa hơn 2 –3 năm/lần. Các biện pháp phát hiện sớm ung thư cổ tử cung bao gồm: Khám phụ khoa, xét nghiệm tế bào học âm đạo, nghiệm pháp a-xit a-xê-tíc hay còn gọi tắt là VIA, nghiệm pháp Lugol và soi cổ tử cung.
Ung thư đại trực tràng: Là bệnh đang có xu hướng tăng mạnh ở nước ta trong những năm gần đây, có tỷ lệ mắc đứng hàng thứ 3 và là nguyên nhân gây tử vong do ung thư thứ 2 ở nhiều nước trên thế giới. Các biện pháp phát hiện sớm ung thư đại trực tràng bao gồm: soi toàn bộ đại tràng; xét nghiệm tìm máu ẩn trong phân (mọi người từ 50 tuổi trở lên cần làm 1 năm/lần, đặc biệt người từng bị hoặc có người thân bị u tuyến, các hội chứng đa polyp, ung thư đại trực tràng, các bệnh viêm ruột…).
Ung thư tuyến tiền liệt: Là bệnh có tỷ lệ chết giảm rõ rệt nhờ khám sàng lọc phát hiện sớm. Các biện pháp phát hiện sớm bao gồm thăm trực tràng bằng tay kết hợp với xét nghiệm PSA 1 năm/lần đối mọi nam giới từ 50 tuổi trở lên.
Ngoài ra, có thể kết hợp với siêu âm nội trực tràng và chụp cắt lớp máy tính vùng tiểu khung.
Ung thư khoang miệng: Là bệnh liên quan nhiều tới hút thuốc lá, ăn trầu, uống rượu… Để phát hiện sớm, nên quan sát khoang miệng qua gương khi đánh răng hàng ngày, nếu thấy vết thương bất thường, khó há miệng hoặc sờ thấy u, cục thì nên đi khám chuyên khoa. Người trên 20 tuổi nên đi khám nên đi kiểm tra khoang miệng 3 năm/lần, người trên 40 tuổi 1 năm/lần, đặc biệt người hút thuốc lá, thuốc lào.
Ung thư da: Là bệnh dễ chẩn đoán bằng mắt thường, có thể điều trị khỏi hẳn. Để phát hiện sớm, nên tự quan sát toàn bộ da và các nốt ruồi trên cơ thể, nhất là các vùng da hở. Ngoài 30 – 39 tuổi nên khám định kỳ 3 năm/lần, trên 40 tuổi nên khám 1 năm/lần, nhất là người từng bị hoặc có người thân bị ung thư da, bệnh về da, người thường xuyên ở dưới ánh nắng mặt trời.

3011
17-03-2010, 11:16 AM
Các chuyên gia đã thống kê 9 dấu hiệu báo động và áp dụng chung cho các loại ung thư, bao gồm: có vết loét lâu liền; ho dai dẳng, tức ngực, điều trị không đỡ; chậm tiêu, khó nuốt; thay đổi thói quen bài tiết phân, nước tiểu; có u trên cơ thể; hạch to lên không bình thường; chảy máu, dịch ra bất thường ở âm đạo; ù tai, nhìn một thành hai; gầy sút, thiếu máu không rõ nguyên nhân. Khi có các dấu hiệu này không có nghĩa là đã mắc ung thư, nhưng mọi người nên đến ngay cơ sở chuyên khoa để được khám, có những lời khuyên thiết thực và có hướng điều trị sớm nhất./.

3011
17-03-2010, 11:22 AM
Nam Giới:
1.Phổi
2.Dạ dày
3.Gan
4.Đại trực tràng
5.Thực quản
6.Vòm hầu
7.Hạch
8. Máu
9.Bàng quang
10.Hạ họng
Nữ Giới:
1.Vú
2.Dạ dày
3.Phổi
4.Đại trực tràng
5. Cổ tử cung
6.Giáp trạng
7.Buồng trứng
8.Gan
9.Hạch
10.Máu

3011
17-03-2010, 11:23 AM
Nam Giới:
1.Phổi
2.Gan
3.Đại trực tràng
4.Dạ dày
5.Thanh quản
6.Lymphom
7.Vòm hầu
8.Thực quản
9.Tiền liệt tuyến
10.Da
Nữ Giới:
1.Vú
2.Cổ tử cung
3.Phổi
4.Đại trực tràng
5.Gan
6.Dạ dày
7.Buồng trứng
8.Tuyến giáp
9.Lymphom
10.Da

3011
17-03-2010, 11:29 AM
Các hãng thuốc lá thường dùng các thuật ngữ trên bao bì dễ gây lầm lẫn như nhẹ (light), êm (mild)... cũng như tự do cảnh báo tác hại theo kiểu “êm và nhẹ”!!!
Tại Hội thảo Chung tay xây dựng cộng đồng không thuốc lá hưởng ứng Ngày Thế giới phòng chống thuốc lá 31/5, bác sĩ Trịnh Văn Hiệp cho biết thông điệp của Tổ chức Y tế thế giới năm nay kêu gọi thanh niên không hút thuốc lá. Vì vậy, một trong những cách hữu hiệu nhất bảo vệ thanh niên trước tác hại của thuốc lá là cấm 100% quảng cáo, khuyến mãi và các tài trợ của ngành công nghiệp thuốc lá cho bất cứ một sự kiện hay một hoạt động nào.
Theo bác sĩ Hiệp, mỗi năm ngành thuốc lá toàn cầu chi hàng chục tỷ USD để tiếp thị sản phẩm của mình. Các hãng thuốc lá dùng nhiều chiêu quảng cáo trá hình thông qua bao bì và đặc tính sản phẩm để đánh lừa người tiêu dùng, sử dụng các thuật ngữ dễ gây lầm lẫn như: nhẹ (light), hàm lượng tar thấp (low tar), êm (mild)...
Bác sĩ Lê Trường Giang, Phó Giám đốc Sở Y tế TP.HCM, cho rằng năm nay việc tuyên truyền phòng chống tác hại của thuốc lá trước tiên phải thực hiện không hút thuốc trong bệnh viện, trường học và sau đó ở những nơi công cộng khác như nhà hàng, quán cà phê, hội nghị... Ông Trương Trọng Hoàng, Phó Giám đốc Trung tâm Truyền thông và giáo dục sức khỏe TP, cũng đồng tình bởi “bệnh viện là nơi chăm sóc sức khỏe cho người dân, trường học là nơi giáo dục con người thì không lý do gì lại có thuốc lá”.
Theo Ban chỉ đạo phòng chống tác hại của thuốc lá TP.HCM, hiện Việt Nam có 15 triệu người hút thuốc lá. Ở TP.HCM, tỷ lệ người hút vẫn còn cao và ngày càng trẻ hóa, có tới 53% nam giới hút thuốc. Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định 45/2005, quy định xử phạt phạt hành chính từ 50 ngàn đến 100 ngàn đồng đối với người hút thuốc nơi công cộng như bệnh viện, sân bay, nhà ga... Các hành vi quảng cáo, khuyến mãi bằng thuốc lá có thể bị phạt từ 25 triệu đến 30 triệu đồng.
Cảnh báo hút thuốc ghi theo quy định nào?
Quyết định của bộ mang tính khẳng định trong khi nghị định của Chính phủ chỉ lưu ý “có thể”.
Hiện nay, việc ghi cảnh báo tác hại của thuốc lá trên vỏ bao thuốc được thực hiện không thống nhất. Chẳng hạn, bao thuốc Marlboro có dòng cảnh báo “Hút thuốc gây ung thư phổi” bằng chữ đen trên nền trắng. Bao thuốc Craven A cũng có cảnh báo bằng chữ đen trên nền trắng nhưng nội dung lại là “Hút thuốc lá có thể gây ung thư phổi”. Trong khi đó, Dunhill, 555 lại ghi “Hút thuốc lá có thể gây ung thư phổi” bằng chữ có màu tương phản với nền bao thuốc (chữ đen trên nền vàng, chữ vàng trên nền xanh).
Việc ghi cảnh báo không thống nhất như vậy xuất phát từ các văn bản pháp luật quy định “chéo” nhau.
Đầu năm 2007, Bộ Y tế ban hành Quyết định 02 quy định từ ngày 17/3/2008, doanh nghiệp phải in cảnh báo về sức khỏe (trên vỏ bao thuốc) bằng chữ đen trên nền trắng hoặc chữ trắng nền đen hoặc chữ có màu tương phản với màu của bao bì. Theo quy định này, doanh nghiệp có thể linh hoạt về màu sắc khi in cảnh báo. Cũng theo Quyết định 02, nội dung cảnh báo là một trong năm câu, trong đó có câu “Hút thuốc gây ung thư phổi”. Năm câu này đều ở dạng “khẳng định” khá mạnh mẽ, không có chữ “có thể”.
Tuy nhiên, đến giữa năm 2007, Chính phủ ban hành Nghị định 119 về sản xuất và kinh doanh thuốc lá, trong đó quy định từ ngày 1/4/2008, doanh nghiệp phải ghi cảnh báo trên bao thuốc lá bằng chữ đen trên nền trắng (không có lựa chọn khác về màu sắc).
Nội dung cảnh báo là “Hút thuốc lá có thể gây ung thư phổi” hoặc “Hút thuốc lá có thể gây bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính”. Đương nhiên là câu cảnh báo với chữ “có thể” của nghị định này nghe có vẻ nhẹ nhàng hơn câu cảnh báo dạng “khẳng định” của Quyết định 02.
Hai văn bản không thống nhất với nhau, dẫn đến việc doanh nghiệp tùy ý vận dụng “linh hoạt”. Trường hợp thuốc lá Craven A thì ghi cảnh báo theo Nghị định 119 cả về màu sắc lẫn nội dung. Thuốc lá Marlboro in cảnh báo bằng chữ đen trên nền trắng và chấp nhận cách ghi nặng nề hơn khi tuân thủ câu cảnh báo “Hút thuốc gây ung thư phổi” của Quyết định 02. Trong khi đó, Dunhill, 555 tuân thủ Nghị định 119 để in nội dung cảnh báo nhẹ nhàng nhưng về màu sắc thì lại “tùy biến” theo Quyết định 02 (dùng chữ có màu tương phản với màu bao bì).

3011
17-03-2010, 11:32 AM
HPV là bệnh lây truyền qua đường tình dục thường gặp nhất trên thế giới. Khoảng 630 triệu người (tỷ lệ 1 trong 10 người) bị nhiễm HPV trên toàn thế giới. Như vậy, có ít nhất khoảng một nửa phụ nữ và nam giới đang có hoạt động tình dục mắc phải HPV ở thời điểm nào đó trong cuộc đời của họ.
Đại đa số phụ nữ - 80 % – cho đến 50 tuổi sẽ bị nhiễm virusnày. Trong số người nhiễm HPV này, khoảng một nửa là thanh thiếu nữ và phụ nữ trẻ 15-24 tuổi đang có hoạt động tình dục. Có hai loại HPV khác biệt: loại có nguy cơ cao và loại có nguy cơ thấp.
HPV típ16 và 18 gây: Khoảng 70% ung thư cổ tử cung và tổn thương tiền ung thư cổ tử cung, âm hộ và âm đạo; Khoảng 60% ung thư hậu môn
HPV típ 6 và 11 gây: Hơn 90 các trường hợp mụn cóc (mào gà) sinh dục; Trong một số trường hợp hiếm gặp, HPV típ 6 hay 11 được truyền từ mẹ sang con có thể gây bệnh đa bướu gai hô hấp tái diễn (Recurrent respiratory papillomatosis - RRP), là bệnh lý có những tổn thương lành tính ở đường hô hấp có thể dẫn đến khàn giọng, và trong một vài trường hợp, gây khó thở.
HPV típ 6, 11, 16 và 18 cũng có thể gây các xét nghiệm Pap bất thường (xét nghiệm được sử dụng để phát hiện các tế bào bất thường ở lớp biểu mô lót cổ tử cung).
Tổ Chức Y Tế Thế Giới ước tính trên thế giới, HPV gây ra 10 triệu trường hợp có tổn thương cổ tử cung mức độ cao, 30 triệu trường hợp có tổn thương cổ tử cung mức độ thấp và 32 triệu trường hợp mới mắc mụn cóc sinh dục mỗi năm.

3011
19-03-2010, 08:32 AM
Colchicin : Môi trường acid dễ làm kết tủa urat gây bệnh gút. Colchicin ức chế sự thực bào của bạch cầu trung tính với tinh thể urat (tạo ra chất ngăn cản sự vận chuyển các vật liệu bị thực bào đến các thể tiêu bào, giữ cho môi trường bình thường) nên được dùng điều trị cơn cấp tính và dự phòng khởi phát đợt cấp. Muốn có hiệu quả phải dùng ngay khi khởi phát đợt cấp. Thuốc có thể gây nôn, tiêu chảy (xảy ra trước khi giảm triệu chứng đau). Thận trọng với người có bệnh về dạ dày, ruột, thận, gan, tim, loạn thể tạng máu và không dùng khi các bệnh này ở mức trầm trọng. Thận trọng khi dùng cho người già, sức yếu, thai nghén, nuôi con bú. Không dùng thuốc lâu dài vì có thể gây bệnh về cơ.
Kháng viêm không steroid (NSAID): Là thuốc chọn lựa đầu tiên, thường dùng ít nhất là 5-7 ngày khi người bệnh bị đau mà chưa điều trị hoặc dùng phối hợp với thuốc dự phòng. Các NSAID thế hệ cũ (ức chế COX1,COX-2) và mới (ức chế chọn lọc COX-2) có hiệu quả như nhau. Lựa chọn thuốc phải căn cứ vào chống chỉ định thuốc đối với từng cá thể (ví dụ người bị bệnh tim, không nên dùng các NSAID thế hệ mới). Không dùng NSAID cho người suy thận, loét dạ dày đang tiến triển, suy tim sung huyết hay có mẫn cảm với thuốc.
Các coricoid : Khi bệnh có ảnh hưởng đến khớp thì có thể dùng tiêm vào khớp hoặc khi bị gút đa khớp khó điều trị bằng các phương pháp khác thì dùng tiêm bắp hay uống. Việc tiêm vào khớp chỉ dùng theo chỉ định của thầy thuốc chuyên khoa, khi chắc chắn không bị nhiễm khuẩn khớp, không bị nhiễm khuẩn da ở chỗ tiêm (nếu không sẽ gây nhiễm khuẩn tại khớp hoặc lan rộng ra toàn thân, gây nhiễm khuẩn huyết). Việc tiêm corticoid vào khớp phải được thực hiện bởi người biết giải phẫu để tiêm đúng vào vị trí (nếu không sẽ không có hiệu quả, tiêm chệch vào cơ, xương, mạch máu, dây thần kinh quanh khớp có thể gây teo cơ, xốp xương, mất chức năng vận động khớp). Cần tiêm đúng liều, đúng số lần, khoảng cách giữa các lần. Đối với thuốc uống cần uống theo liều giảm dần, chỉ trong thời gian ngắn (không quá 10 ngày) theo chỉ định để tránh tác dụng phụ (giữ nước muối, gây rối loạn chức năng thận).
Allopurinol: Allopurinol ức chế enzym xanthin oxidase (đây là enzym chuyển xanthin, hydroxanthin thành acid uric) và giảm sản xuất acid uric nên được dùng dự phòng khởi phát đợt cấp. Chỉ dùng thuốc khi lượng acid uric ở nước tiểu trong 24 giờ vượt quá 800mg ở nam và 750mg ở nữ. Không nên dùng ngay hoặc trong vòng 3-4 tuần đầu sau khi khởi phát đợt cấp (nhằm tránh kéo dài đợt cấp). Trong dự phòng, cần dùng kèm với colchicin hoặc NSAID (liều thấp) cho đến khi nồng độ acid uric máu trở về bình thường, sau đó tiếp tục dùng ít nhất một tháng nữa hoặc cho đến khi tan sỏi urat (tổng cộng khoảng 2 - 3 tháng).
Bắt đầu dùng liều thấp (thường liều duy nhất 100mg/ngày), sau tăng dần mỗi 3-4 tuần một lần cho đến khi nồng độ acid uric máu trở lại bình thường (liều thường dùng đạt đến 200-300mg/ngày, đôi khi phải dùng đến liều cao 600-900mg/ngày). Nếu xuất hiện một đợt cấp phải giữ liều allopurinol không đổi và đợt cấp được điều trị theo cách thông thường.
Allopurinol gây độc cho thận. Khi độ lọc cầu thận giảm thì phải giảm liều hoặc giãn khoảng cách giữa các lần dùng. Khi dùng phải uống nhiều nước (để nước tiểu bài tiết trong 24 giờ đạt khoảng 2 lít), duy trì nước tiểu trung tính hoặc kiềm.
Các thuốc thải uric: Gồm benzbromaron, probecnecid, sulphipyrazon...
Các thuốc trên dùng cho người không dung nạp allopurinol hoặc phối hợp với allopurinol khi dùng đơn độc một loại kém hiệu quả.
Khi dùng thuốc, phải uống nhiều nước để có đủ lượng nước tiểu thải ra, nếu không thì sẽ kết tinh urat, gây sỏi. Có thể dùng natri bicarbonat với liều 1-2-3g/ngày để làm giảm sự kết tinh urat. Trừ benzbromaron đôi khi có thể gây suy gan tối cấp, cả ba thuốc này chỉ gây rối loạn tiêu hoá và dị ứng nhẹ. Không dùng thuốc cho người có sỏi urat.
Đối với người bị gút, người bệnh cần khám lâm sàng, xét nghiệm chắc chắn mới dùng thuốc. Khi dùng thuốc, bệnh nhân cần dùng đúng từng loại thuốc cho mỗi giai đoạn, đúng thời điểm, đúng liều, đúng thời gian. Trong quá trình điều trị, cần khám định kỳ cả lâm sàng và xét nghiệm (chỉ số chức năng gan thận, đếm máu, đo lượng acid uric trong tiểu, máu...) để điều chỉnh liều thuốc cho phù hợp.

3011
19-03-2010, 08:35 AM
Viêm đa cơ và viêm da cơ (bao gồm viêm đa cơ kèm biểu hiện ở da) là bệnh hệ thống chưa rõ nguyên nhân có cơ chế tự miễn dịch. Bệnh đặc trưng bởi tình trạng viêm, thoái hóa của các sợi cơ vân, gây yếu cơ, teo cơ, đặc biệt là các cơ ở gốc chi, dẫn đến giảm hoặc mất chức năng vận động. Bệnh gặp ở nữ nhiều hơn nam giới với tỷ lệ nữ/nam khoảng 2/1. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, song hay gặp nhất ở độ tuổi 40-60, hiếm gặp hơn ở trẻ em, nếu gặp thì hay ở độ tuổi từ 5 - 14 tuổi.
Corticosteroid là liệu pháp điều trị cơ bản. Trong trường hợp không đáp ứng thì có thể dùng một số thuốc ức chế miễn dịch khác. Corticosteroid thường khởi đầu với liều cao tấn công, thường dùng prednisolone (hoặc thuốc corticoid khác liều tương đương) 1-2 mg/kg/ngày từ 2-4 tuần, có thể kéo dài hơn sau đó giảm liều dần 5-10mg sau mỗi 2- 4 tuần khi các triệu chứng đau cơ, yếu cơ được cải thiện. Trường hợp bệnh nặng, tiến triển nhanh có thể truyền methyl prednisolone tĩnh mạch liều cao rồi giảm liều dần tùy đáp ứng. Khi tình trạng lâm sàng có dấu hiệu cải thiện rõ rệt, men cơ trở về bình thường thì chuyển sang liều duy trì 5-10mg prednisolone mỗi ngày hay liều thấp nhất mà có thể kiểm soát được bệnh. Lưu ý khi dùng corticosteroid kéo dài có thể gây các tác dụng phụ như viêm dạ dày, hội chứng Cushing, loãng xương, tăng huyết áp, đái tháo đường, tăng nguy cơ nhiễm khuẩn, đục thủy tinh thể... Cần bổ sung canxi, vitamin D cũng như kali và đề phòng các biến chứng tiêu hóa do thuốc. Bệnh cơ do tác dụng phụ của corticoid cũng là một biến chứng cần phân biệt với bệnh cơ do viêm. Nếu triệu chứng cơ nặng lên mà không kèm tăng men cơ, hoặc triệu chứng cơ không cải thiện hoặc tăng lên khi tăng liều corticoid là những dấu hiệu nhận biết tác dụng phụ này.
Trường hợp bệnh nhân không đáp ứng với liều cao corticoid (thông thường sau điều trị 4 tuần mà triệu chứng không cải thiện) hoặc có biểu hiện nặng như khó thở, suy hô hấp hoặc có tình trạng phụ thuộc corticoid (triệu chứng bệnh nặng lên khi giảm liều prednisolone xuống dưới 20mg/ngày) thì cần phối hợp corticosteroid với các thuốc ức chế miễn dịch như methotrexate, azathioprin hoặc cyclophosphamid.
Azathioprin (imuran) thường được dùng phối hợp với corticosteroid nhằm làm giảm liều, qua đó giảm các tác dụng phụ không mong muốn của thuốc này. Thuốc có tác dụng đối kháng chuyển hóa nhân purin, ức chế tổng hợp DNA, RNA và protein từ đó giảm tăng sinh các tế bào miễn dịch, giảm các hoạt động miễn dịch. Thời gian điều trị azathioprin có thể kéo dài tới 6 tháng. Thuốc thường ít có chỉ định cho trẻ em.
Methotrexate uống mỗi tuần một lần, liều khởi đầu thấp sau đó tăng dần liều tùy đáp ứng, thời gian điều trị trong 4-6 tháng.
Trường hợp bệnh nhân không đáp ứng hoặc có chống chỉ định với methotrexate như có viêm phổi kẽ hay xơ phổi) thì dùng cyclophosphomid truyền tĩnh mạch mỗi tháng một lần trong 6 tháng, sau đó có thể duy trì 3 tháng/lần trong 1-2 năm hoặc duy trì bằng các thuốc khác như corticoid liều thấp hay azathioprin.

3011
19-03-2010, 08:37 AM
Viêm họng mạn tính là viêm mạn tính niêm mạc họng rất hay gặp. Người bệnh thường cảm thấy khô họng, nóng rát trong họng hoặc có cảm giác ngứa họng, vướng họng nhất là khi ngủ dậy, phải cố khạc đờm, đằng hắng để làm long đờm, đờm dẻo và đặc thường tăng lên khi nuốt; Ho nhiều vào ban đêm hay khi lạnh. Khi uống rượu, hút thuốc lá nhiều, nói nhiều, triệu chứng trên càng trở nên rõ rệt. Thường các viêm họng mạn tính sẽ lần lượt qua các giai đoạn xuất tiết, quá phát và teo nếu để kéo dài không điều trị.

Viêm họng mạn tính do nhiều nguyên nhân gây nên như do các ổ viêm tiềm tàng ở mũi, xoang (viêm xoang sau), viêm amidan; các dị tật ở mũi (dị hình vách ngăn, polýp mũi, thoái hóa cuốn mũi dưới), dị ứng (cơ địa), các kích thích (bụi, hóa chất, thuốc lá, rượu...).
Để điều trị nguyên nhân cần giải quyết các yếu tố trên. Ở giai đoạn xuất tiết thuốc điều trị tại chỗ có thể dùng: Súc họng bằng dung dịch kiềm như nước muối nhạt...; Bôi và chấm họng bằng glycerin borat 3%, S.M.C (salicylat Na, menthol); Khí dung họng bằng các hydrocortison phối hợp với kháng sinh. Nếu có nhiều nhầy dính ở thành sau họng thì rửa bằng dung dịch borat Na 1% cho hết vẩy, bôi họng và khí dung. Đốt điện nóng, cao tần đốt bằng nitơ lỏng hay laser (ở giai đoạn quá phát). Ở giai đoạn teo có thể bôi glycerin iốt 0,5%...
Để phòng bệnh nên đeo khẩu trang bảo hộ khi tiếp xúc với bụi và hóa chất; Súc họng hằng ngày bằng dung dịch kiềm ấm hoặc nước muối và nâng cao thể trạng bằng các vitamin như A, C...

3011
19-03-2010, 08:43 AM
Để điều trị các bệnh khớp không phải do vi khuẩn thì hiện nay phổ biến nhất vẫn là sử dụng các thuốc thuộc nhóm chống viêm, giảm đau không steroid (NSAIDs: Nonsteroidal Antiinflammatory Drugs). Nhưng điều không may mắn là các thuốc này hay gây ra các biến chứng ở đường tiêu hóa. Theo một số nghiên cứu cho thấy, mỗi năm ở Hoa Kỳ có khoảng 100.000 bệnh nhân phải nhập viện và 16.500 bệnh nhân bị tử vong do các biến chứng đường tiêu hóa vì sử dụng các NSAIDs.
Hầu hết các NSAIDs có tác dụng ức chế cả cyclooxygenase 1 (COX-1) và cyclooxygenase 2 (COX-2). Đây là hai isoenzymes có vai trò tổng hợp các prostaglandin. COX-1 có vai trò tổng hợp các prostanoid có tác dụng sinh học như gây giãn mạch để điều hòa dòng máu tới tổ chức, tác dụng lên ngưng kết tiểu cầu ảnh hưởng đến quá trình cầm máu, làm tăng lớp nhầy bảo vệ của dạ dày, ruột. Còn COX-2 xuất hiện ở các vị trí viêm có tác dụng tổng hợp các prostaglandin là các chất trung gian gây viêm và gây đau. Các NSAIDs thông thường có tác dụng ức chế cả hai cyclooxygenase (COX-1 và COX-2), vì vậy nó có tác dụng điều trị viêm và giảm đau do ức chế COX-2, nhưng lại có thể gây ra các tác dụng không mong muốn lên đường tiêu hóa như gây viêm dạ dày, chảy máu đường tiêu hóa... do thuốc ức chế COX-1.
Những năm gần đây, các nhà khoa học đã nghiên cứu và tổng hợp được một số NSAIDs có tác dụng ức chế chọn lọc COX-2, nghĩa là ức chế chọn lọc quá trình tổng hợp các prostaglandin gây viêm và đau, ít ảnh hưởng lên quá trình tổng hợp các prostanoid sinh học do ít tác động lên COX-1. Do đó, thuốc đạt được tác dụng điều trị chống viêm, giảm đau nhưng hạn chế được tác dụng không mong muốn lên đường tiêu hóa. Hiện nay đã có một số chế phẩm thuốc ức chế chọn lọc COX-2 được bán trên thị trường như mobic (mylocycalm), vioxx (rofecoxib). Các thuốc này đều là các NSAIDs có tác dụng chọn lọc trên COX-2. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có thuốc nào có tác dụng chọn lọc hoàn toàn lên COX-2 mà chỉ có tính chất chọn lọc tương đối, nghĩa là thuốc vẫn có tác dụng một phần lên COX-1, do đó vẫn có thể gây ra các biến chứng ở đường tiêu hóa tuy với tỷ lệ thấp hơn.

3011
19-03-2010, 08:47 AM
Đến nay (năm 2010) thuốc kháng sinh có 17 nhóm với gần 500 tên thuốc (trong đó có 4 nhóm chuyên biệt là: chống nấm, chống lao, chống phong, trị ung thư; còn lại 13 nhóm là thuốc trị các bệnh nhiễm khuẩn thông thường). Mỗi nhóm lại có các phân nhóm hoặc các thế hệ khác nhau. Ví dụ: nhóm penicillin có 7 phân nhóm, mỗi phân nhóm lại có nhiều tên thuốc gốc khác nhau, mỗi tên thuốc gốc có nhiều tên biệt dược khác nhau. Hay nhóm cephalosporin có 4 thế hệ khác nhau, mỗi thế hệ có nhiều tên thuốc gốc khác nhau (khoảng 40 tên) và nhiều tên biệt dược khác nhau. Ngoài ra còn nhiều biệt dược phối hợp 2 hoặc 3 kháng sinh với nhau hoặc kháng sinh với thuốc chống viêm mạnh (các loại corticoid) để tăng tác dụng.
Dạng thuốc gồm có: thuốc tiêm, thuốc uống, thuốc dùng tại chỗ. Trong đó nhiều dạng thuốc nhất là thuốc uống và thuốc dùng tại chỗ.
Thuốc uống có: các loại thuốc viên (viên nén thường, viên nén bao phim, viên nhộng). Các loại thuốc nước (bột đóng lọ để pha dung dịch, bột gói để uống, hỗn dịch, sirô)...
Thuốc dùng tại chỗ có: dung dịch, mỡ, kem, gel, trứng. Thuốc nhỏ mắt, nhỏ tai. Thuốc phun sương xịt mũi. Thuốc bôi da. Thuốc đặt âm đạo...Các đối tượng phải đặc biệt lưu ý khi dùng kháng sinh
Phụ nữ có thai (đặc biệt là 90 ngày đầu tiên), phụ nữ cho con bú, trẻ em từ sơ sinh đến 6 tuổi, người có bệnh gan thận, người có cơ địa dị ứng, người cao tuổi.
An toàn, hiệu quả cho người dùng kháng sinh:
- Với người bệnh: Khi cần chữa bệnh bằng thuốc kháng sinh phải được bác sĩ khám bệnh, kê đơn (không tự ý dùng thuốc hoặc nghe người khác mách).
Trước khi dùng thuốc phải xem lại đơn bác sĩ về liều dùng, số lần dùng thuốc trong ngày, cách dùng thuốc, kiêng kỵ; sau đó xem tờ hướng dẫn sử dụng trong hộp thuốc về cách dùng, kiêng kỵ, tác dụng phụ... để dùng thuốc cho đúng, tránh những điều đáng tiếc.
- Với bác sĩ: Phải kiểm tra tình trạng bệnh nhân (có thai, tiền sử dị ứng thuốc, các thuốc đang sử dụng...) xác định đúng tác nhân gây bệnh và chọn loại thuốc thích hợp, tránh điều trị kiểu bao vây. Tốt nhất là làm kháng sinh đồ.
Nên uống thuốc kháng sinh khi nào?
- Những loại kháng sinh uống xa bữa ăn: Là những loại thuốc kém bền vững trong môi trường dịch vị hoặc bị giảm hấp thu do thức ăn. Nên uống 1giờ trước bữa ăn hoặc 2 giờ sau bữa ăn. Gồm có: nhóm penicillin (penicillin V, ampicillin, amoxycillin... khoảng 30 tên). Nhóm cephalosporin: các thuốc trong nhóm này đều có chữ "cef" đứng đầu tên thuốc gốc, đây là nhóm thuốc được các bác sĩ ưa dùng nhất hiện nay, có khoảng 40 tên thuốc gốc, mỗi thuốc gốc lại có nhiều tên biệt dược. Ví dụ: cefuroxime có các biệt dược như zinnat, zencef, zinmax, zinacef, xorim, tarxim... Nhóm macrolid: tên thuốc gốc thường có nhóm chữ "mycin" đứng cuối, thường dùng nhất là clarythromycin, azithromycin, erythromycin. Các biệt dược của erythromycin thường có nhóm chữ "ery" đứng đầu, như: ery, erywin, erycin, eryfar... Nhóm thuốc chống lao cũng nên uống xa bữa ăn.
- Những loại kháng sinh uống trong hoặc ngay sau bữa ăn: Là những loại không bị giảm hấp thu do thức ăn, hoặc kích thích đường tiêu hoá. Gồm có: nhóm quinolon (milosacin, rosoxacin, ciprofloxacin...). Nhóm nitroimidazol (metronidazol, tinidazol...). Nhóm cyclin (tetracyclin, doxycyclin...).
- Riêng loại viên bao tan trong ruột, không kể thuộc nhóm kháng sinh nào, đều có thể uống bất kể lúc nào no hay đói (tốt nhất là uống lúc đói với 1 cốc nước sôi để nguội).

3011
19-03-2010, 08:48 AM
Rối loạn lipid máu hay còn gọi là tăng mỡ máu. Bốn thành phần mỡ máu thường được quan tâm theo dõi là: cholesterol toàn phần, LDL - c (còn gọi cholesterol xấu), HDL - c (cholesterol tốt) và triglycerid. Về điều trị thì có 5 nhóm thuốc chủ yếu: nhóm statin ngăn chặn tổng hợp cholesterol tại gan bằng cách ức chế cạnh tranh hoạt động của men HMG - CoA reductase làm giảm tổng hợp cholesterol ở toàn bộ cơ thể. Nhóm resin làm tăng gắn cholesterol với acid mật, do vậy thuốc làm tăng thải cholesterol qua đường mật. Nhóm nicotinic acid làm giảm sự di chuyển acid béo tự do từ các tổ chức mỡ, do vậy gan sẽ có ít nguyên liệu để tổng hợp ra cholesterol. Nhóm fibrat là thuốc làm tăng ly giải ở ngoại biên và giảm sản xuất triglycerid ở gan. Nhóm ezetimibe là thuốc có tác dụng ức chế hấp thu cholesterol một cách có chọn lọc ở ruột non. Việc lựa chọn thuốc chủ yếu phụ thuộc vào bệnh nhân có một số bệnh kết hợp hoặc đang dùng một loại thuốc nào đó, các tác dụng phụ của thuốc mà bệnh nhân không chịu đựng được, hoặc bệnh nhân không đáp ứng với thuốc điều trị đang dùng... Người bệnh không nên tự ý tăng hoặc giảm liều lượng, hoặc yêu cầu thay đổi thuốc. Các thuốc điều trị rối loạn mỡ máu thường được cơ thể dung nạp tốt, nhưng cũng có những tác dụng phụ không mong muốn, và còn phụ thuộc vào cơ địa dễ mẫn cảm của từng người bệnh. Bởi vậy trong thời gian dùng thuốc bệnh nhân cần tự theo dõi các phản ứng phụ để thông báo cho bác sĩ điều trị biết. Mặt khác, cũng cần thông báo cho thầy thuốc các loại bệnh kết hợp (nếu có) và các thuốc đang dùng để tránh hiện tượng tương tác thuốc.
Để đảm bảo điều trị có kết quả tốt cần dùng thuốc dài ngày, thường xuyên liên tục và xét nghiệm kiểm tra mỡ máu định kỳ để đánh giá hiệu quả của thuốc. Bác sĩ thường chỉ định xét nghiệm nồng độ cholesterol và các thành phần liên quan khác sau 4 - 6 tháng dùng thuốc để nếu cần thì điều chỉnh liều lượng, hoặc thay đổi thuốc nhằm mục đích đạt hiệu quả điều trị tối ưu.
Trong nhóm thuốc statin có cerivastatin (các biệt dược: baycol, cholstat, lipobay...) với những tác dụng phụ có nguy cơ bệnh lý nặng ở động mạch thuộc cơ vân đưa đến tử vong nên đã bị cấm lưu hành. Còn thuốc lipitor bác sĩ kê đơn điều trị cho bác hiện là biệt dược của atorvastatin tuy cũng thuộc nhóm statin, nhưng là dẫn chất mới nhất có hiệu quả điều trị tốt và không có tác dụng phụ như ông lo ngại. Atorvastatin (các biệt dược: atorva, medotor, lipitor...) ức chế tổng hợp cholesterol trong gan, nâng số lượng thụ thể LDL (lipoprotein tỷ trọng thấp) của gan thu nhận LDL trong máu và các ILD (lipoprotein tỷ trọng trung gian) chứa nhiều lipid nên giảm cả triglycerid, rất thích hợp với bệnh nhân có nguy cơ bệnh mạch vành như bác. Vậy bác yên tâm tin tưởng vào bác sĩ điều trị và thuốc mà bác đang dùng.

3011
19-03-2010, 08:50 AM
Say rượu được chia thành 3 mức độ:
Mức độ nhẹ: Say rượu mức độ nhẹ thấy ngưỡng cảm giác giảm, rối loạn chú ý, phản ứng chậm, tư duy logic giảm sút, hiểu biết xung quanh rất khó khăn, khả năng phê phán giảm, khí sắc dao động và thường là tăng, hay nổi khùng, dễ bị kích thích, thậm chí rất hung bạo. Các triệu chứng trên thường phối hợp với rối loạn vận động và rối loạn ngôn ngữ. Nồng độ rượu trong máu là 2%o, tính theo khối lượng cơ thể là 1-1,5 ml/kg. Khi có biểu hiện say rượu mực độ nhẹ thường điều trị tại nhà. Cho bệnh nhân nằm nghỉ trên giường, ủ ấm, uống nước chè pha đường nóng. Nếu bệnh nhân không nằm yên, có thể cố định bệnh nhân vào giường bằng 3 sợi dây to bản (1 tay đưa lên trên, tay kia đưa xuống dưới, 2 chân chụm vào nhau). Bệnh nhân đi vào giấc ngủ dài, sau ngủ dậy sẽ tỉnh táo. Có thể dùng thêm thuốc như sau để giúp bệnh nhân chóng tỉnh táo, hạn chế cảm giác mệt mỏi và đau đầu sau khi say rượu: vitamin B1 tiêm bắp. Các chế phẩm thay thế là ancopir, neurobion, vitamin 3B... Thời gian điều trị: 1 ngày.
Mức độ trung bình: Say rượu mức độ trung bình rối loạn chú ý nặng hơn, bệnh nhân hay đãng trí, tri giác thiếu chính xác và sai thực tại. Quá trình hoạt động trí tuệ diễn ra với nhịp độ chậm hơn trước. Xuất hiện tư duy thiếu logic. Các ham thích cũ vượng lên đặc biệt là hoạt động tình dục. Nổi bật trong giai đoạn này là hành vi hung bạo, tấn công và thường gây gổ, đánh nhau gây nhiều phiền phức cho xung quanh. Xuất hiện các rối loạn phối hợp vận động làm cho bệnh nhân đi lại loạng choạng và nói khó. Nồng độ rượu trong máu là 2-5%o, tính theo khối lượng cơ thể là 1,5-2,5ml/kg.
Ở mức độ này thường điều trị tại bệnh xá. Gây nôn cho bệnh nhân bằng các kích thích vật lý (ngoáy họng bằng lông gà, móc họng...) hoặc apomorphin. Cho uống nước chè đường nóng. Cố định bệnh nhân tại giường. Dùng vitamin B1 tiêm bắp. Không được dùng thuốc an thần (aminazin), chấn tĩnh (seduxen) hoặc thuốc ngủ (gardenal) vì dễ gây ức chế hô hấp. Cụ thể như sau:
- Vitamin B1 tiêm bắp. Có thể thay thế vitamin B1 bằng các chế phẩm khác có chứa vitamin B1 như ancopir, nerobion, vitamin 3B...
- Vitaplex truyền tĩnh mạch 30 giọt/phút.
Vitaplex có chứa vitamin B1, glucoza, điện giải nên thích hợp cho điều trị các bệnh nhân say rượu. Thời gian điều trị: 3 ngày
Mức độ nặng: Say rượu mức độ nặng được biểu hiện bằng trạng thái choáng váng ngày càng tăng. Những giấc ngủ sâu kéo dài hơn. Trong nhiễm độc rượu nặng có thể gây ra trạng thái bán hôn mê hoặc hôn mê kèm theo các rối loạn cơ thể nặng. Nhiều trường hợp cần phải rửa dạ dày, trợ tim mạch và hô hấp.
Nồng độ rượu trong máu cao hơn 5%o, tính theo khối lượng cơ thể là 2,5 - 3,5ml/kg. Nhưng lâm sàng là tài liệu chủ yếu đánh giá nghiện rượu vì nó tổng hợp tất cả các phương pháp để đánh giá.
Trường hợp say rượu nặng nên điều trị tại bệnh viện. Cố định bệnh nhân tại giường, ủ ấm, rửa dạ dày, hút đờm rãi, thở ôxy. Bệnh nhân cần được truyền dịch để ổn định huyết áp, nuôi dưỡng và thải độc, cho vitamin B1. Nếu cần phải cho lợi tiểu (lasix tiêm bắp). Cần theo dõi chặt mạch, nhiệt độ, huyết áp, lượng nước tiểu, ý thức của bệnh nhân. Cụ thể như sau:
- Vitamin B1 tiêm bắp. Có thể thay thế bằng các chế phẩm có chứa vitamin B1 như đã nói trên.
- Piracetam tiêm tĩnh mạch.
- Ringer lactat truyền tĩnh mạch 30 giọt/phút.
- Glucoza truyền tĩnh mạch 30 giọt/phút.
- Lasix tiêm bắp.
Thời gian điều trị: 5 - 7 ngày.

3011
21-03-2010, 07:59 PM
Trong cơ thể thường xuyên có những chất cần được đào thải ra ngoài. Đây là những chất được sinh ra do quá trình chuyển hoá, những sản phẩm do sự phân huỷ tế bào và mô đã già cỗi, các chất độc lạ bằng nhiều đường khác nhau xâm nhập vào cơ thể. Những chất trên nếu không thải ra ngoài sẽ làm mất tính hằng định của nội môi. Vì vậy chúng được máu vận chuyển tới cơ quan bài tiết. Phổi đào thải khí carbonic, một phần nước. Bộ máy tiêu hoá đào thải các chất cặn bã của thức ăn, nước, các muối vô cơ, các chất độc, lạ theo phân. Hệ thống da đào thải nước, muối vô cơ theo mồ hôi. Thận đào thải các sản phẩm chuyển hoá protid như urê, acid uric, creatinin và các chất có chứa nitơ khác, các sản phẩm chuyển hoá không hoàn toàn của glucid, lipid như acid lactic, các thể cetonic các muối vô cơ, các chất điện giải, các chất độc, lạ do cơ thể tạo ra trong quá trình chuyển hoá, trong quá trình khử độc hoặc đưa từ ngoài vào bằng các đường khác nhau và cuối cùng là nước. Như vậy, thận là một cơ quan quan trọng nhất của hệ bài tiết. Mất chức năng thận con người không thể tồn tại được.
Trong một ngày đêm thận đã thải ra ngoài:
Nước: 1,2-1,5lít.
Cl-: 6-10g.
Na+ 5-6g.
K+ 2-3g.
Ca++ , Mg++ 0,1-0,2g.
Sulfat: 3-15g.
phosphat: 1-5g.
NH3 0,6-0,8g.
urê 20-30g.
Creatinin 1-1,5g.
acid uric 0,1-2g.

3011
21-03-2010, 08:02 PM
Men tiêu hoá protid: pepsin là men tiêu hoá protid ở dạ dày, do tế bào chính tiết ra dưới dạng tiền men (chưa hoạt động) là pepsinogen. Trong môi trường acid của dạ dày (do HCl quyết định) pepsinogen được biến thành pepsin hoạt động.
Pepsin thuỷ phân cầu nối peptid bên trong phân tử protid mà nhóm -NH thuộc acid amin có nhân thơm, biến protid thành các đoạn polypeptid ngắn hơn (như albumose, pepteose, pepton).
Ngày nay bằng phương pháp sắc ký và điện di người ta đã phát hiện có 5-7 loại pepsin có hoạt tính khác nhau và chia thành 2 nhóm là pepsinogen I và pepsinogen II. Có một lượng nhất định pepsinogen ngấm vào máu và thải qua nước tiểu, gọi là unopepsinogen. Mức độ thải qua nước tiểu song song với mức bài tiết nó ở dạ dày. Do đó trong lâm sàng người ta thường định lượng pepsin nước tiểu và uropepsinogen niệu để đánh giá sự bài tiết nó ở dạ dày.
Pepsin thường tăng cao trong bệnh viêm-loét dạ dày, nhất là pepsinogen I.
- Renin (chymosin, presure), còn gọi là men ông sữa, có tác dụng chuyển chất caseinogen thành casein và kết hợp với Canxi tạo thành chất như váng sữa. Men này quan trọng với trẻ em, người lớn nó rất ít tác dụng.
- Men lipase dạ dày là men tiêu hoá lipid. Men này hoạt động tốt ở môi trường kiềm. Vì ở dạ dày có môi trường toan, nên lipase dạ dày hoạt động yếu, chỉ có tác dụng thuỷ phân những lipid đã nhũ tương hoá (như lipid của sữa, của lòng đỏ trứng) biến chúng thành acid béo, monoglycerid và glycerol.
Lipase dạ dày cần cho trẻ em đang bú sữa. Người lớn men này có tác dụng không đáng kể.

3011
21-03-2010, 08:03 PM
Mật là chất dịch lỏng, hơi nhầy, trong, có màu vàng tươi (mật gan) hoặc có màu cánh gián (mật ở túi mật), pH kiềm nhẹ =6,8-7,4. Số lượng mật ở người bình thường khoảng 0,8-1,0 l/24 giờ.
Tỷ lệ các chất ở mật gan và mật túi mật có khác nhau, nhưng đều chứa các chất: nước, chất vô cơ (Na+, K+, Cl-, HCO3- ...), các chất hữu cơ (acid mật, sắc tố mật-bilirubin, phospholipid, cholesterol ...), trong đó acid mật và bilirubin là thành phần đặc trưng của dịch mật.
Dịch mật không chứa men tiêu hoá, nhưng có vai trò quan trọng đối với quá trình tiêu hoá ở ruột, chất duy nhất của dịch mật có tác dụng tiêu hoá là acid mật.
* Acid mật: Mật người có 4 loại acid mật được tạo từ chất cholesterol. Lúc đầu tế bào gan tạo các a.mật tự do, gồm a.Cholic, a.Chenodeoxycholic, a.deoxycholic và a.lithocholic, là các acid không tan trong nước và không có hoạt tính sinh học. Sau đó chúng được tạo thành các a.mật liên hợp là a. glychocholic, a. glychochenodeoxycholic, a. glychodeoxycholic và a. glycholithocholic; hoặc a. taurocholic, a. taurochenodeoxycholic, a.taurodeoxycholic và a. taurolithocholic .
Acid mật liên hợp là chất hoạt tính bề mặt và có tính khử mạnh. Trong môi trường kiềm của dịch mật, các acid mật tồn tại dưới dạng muối với ntrri hoặc kali, nên thường vẫn được gọi là mối mật.
* Tác dụng chính của a. mật (của dịch mật):
- Muối mật làm nhũ hoá lipid, tăng diện tiếp xúc của lipid với lipase và tăng hoạt tính của men lipase.
- Muối mật tạo Micell giúp hoà tan các sản phẩm thuỷ phân lipid và các vitamin tan trong dầu để hấp thu chúng được dễ dàng.
- Muối mật kích thích tăng tiết các men tiêu hoá của dịch tuỵ, dịch ruột, đồng thời hoạt hoá chúng.
- Mật tạo môi trường kiềm ở ruột, kích thích nhu động ruột, ức chế hoạt động của vi khuẩn lên men thối ở phần trên ruột non.
Khi tắc mật, mật không xuống ruột sẽ dẫn đến rối loạn tiêu hoá và hấp thu một loạt chất dinh dưỡng-đặc biệt là đối với lipid.
Sau khi tham gia tiêu hoá hấp thu các chất ở phần trên của ruột non, các a.mật liên hợp xuống hồi tràng bị vi khuẩn ruột khử hoá, tạo thành các a.mật tự do và 95% được tái hấp thu vào tĩnh mạch cửa về gan, tạo “chu trình ruột-gan” acid mật, có vai trò quan trọng điều hoà sản xuất mật ở gan.
* Bilurubin:
Bilirubin là sản phẩm oxy hoá của Hb, được tạo ra ở các tổ chức liên võng, nhiều nhất là lách, tuỷ xương và gan. ở các tổ chức liên võng ngoài gan tạo ra bilirubin tự do (hay bilirubin gián tiếp-BI: bilirubin indirect).
BI không tan trong nước, trong máu BI phải kết hợp với albumin để vận chuyển, chúng không qua được màng lọc cầu thận, nên bình thường trong nước tiểu không có BI.
BI-albumin theo máu tới gan, được tế bào gan thu nhận và liên hợp với acid glucuronic có men xúc tác là glucuronyl transferase, tạo thành bilirubin-glucuronic (bilirubin liên hợp, hay bilirubin trực tiếp- BD: bilirubin direct), tan được trong nước. Sau đó BD và phần nhỏ BI được đưa vào vi quản mật, theo đường dẫn mật xuống ruột. ở ruột BD bị vi khuẩn ruột khử hoá thành mesobilirubin, rồi urobilinogen. Một phần hai chất này được tái hấp thu vào tĩnh mạch cửa về gan, được tế bào gan tái sử dụng, liên hợp và đổ vào dịch mật , xuống ruột tạo nên “chu trình ruột-gan của bilirubin”. Gan bình thường, trong nước tiểu không có mesobilirubin và urobilinogen.
Phần urobilinogen còn lại trong ruột tiếp tục được biến thành stercobilinogen, rồi stercobilin và thải theo phân, tạo màu đặc trưng của phân.
Khi tăng hàm lượng bilirubin máu sẽ gây hoàng đản (vàng da, vàng niêm mạc). Định lượng bilirubin góp phần chẩn đoán nguyên nhân gây hoàng đản.
-Thiếu máu tan huyết: tăng cả BI,BD; vàng da,vàng mắt, nước tiểu và phân vàng.
-Giảm khả năng thu nhận BI của tế bào gan: Tăng BI, giảm BD, nước tiểu bình thường.
-Rối loạn liên hợp bilirubin: BI tăng, BD giảm, nước tiểu bình thường.
-Rối loạn giải phóng bilirubin từ tế bào gan: lúc đầu tăng BI,BD, nước tiểu vàng, phân bạc màu; sau đó BI tăng mạnh hơn.
-Tắc đường đẫn mật: tuỳ vị trí tắc trong hay ngoài gan mà có tăng BI,BD, nước tiểu vàng kèm theo phân giảm màu, bạc màu.

3011
24-03-2010, 09:31 PM
Sốt ở bé sơ sinh
Nếu bé dưới 2 tháng tuổi có dấu hiệu bị sốt cao thì nhiều khả năng bé bị ốm nặng hơn cha mẹ nghĩ. Cho dù bé bị sốt mà không kèm theo những triệu chứng nào khác thì bạn vẫn nên lưu ý. Giai đoạn này, do hệ miễn dịch của bé còn yếu nên bé có thể dễ dàng mắc một chứng bệnh truyền nhiễm trầm trọng. Nhiều bậc phụ huynh nhầm tưởng bé bị sốt là do cảm lạnh. Tuy nhiên, nếu mắc cảm lạnh, bé thường không có dấu hiệu bị sốt quá cao.
Bé bị phát ban kèm theo sốt
Nếu bé xuất hiện những đám phát ban nhỏ li ti, màu đỏ (kèm sốt) thì có thể bé mắc chứng bệnh viêm màng não. Những nốt ban trông giống như đốm xuất huyết sẽ giữ nguyên màu sắc nếu bạn dùng tay ấn vào chúng; hoặc nốt ban có xu hướng chuyển sang màu tái trong giây lát khi bạn ấn ngón tay vào chúng; sau đó, chúng sẽ trở lại màu sắc như bình thường. Bé có thể xuất hiện những đốm xuất huyết trên da (không kèm sốt) sau khi bé bị ho hoặc nôn (trớ). Cũng có thể bé bị xuất huyết da sau khi tắm. Trường hợp này, đốm xuất huyết có thể được gây ra bởi sự phá vỡ các mao mạch, bạn nên đưa bé đi khám sớm.
Mí mắt của bé bị sưng đau kèm theo sốt
Sưng mí mắt có thể do bé bị côn trùng cắn; tuy nhiên, nếu kèm theo sốt, có thể bé bị nhiễm trùng xoang.
Dấu hiệu khác là mí mắt bé bị đỏ và sưng phù. Vài giờ đồng hồ sau, mí mắt của bé tiếp tục phồng lên khiến bé khó khăn khi cử động. Bạn nên đưa bé đi khám ngay lập tức.
Bé bị ho liên tục
Nếu bé bị ho nặng kèm dấu hiệu thở khò khè thì nhiều khả năng bé bị chứng hen suyễn tấn công. Trường hợp này, bé cần được khám và dùng thuốc trị hen theo chỉ định của bác sĩ. Nếu bé tỉnh giấc giữa đêm cùng những tràng ho không ngớt thì có thể bé mắc chứng bệnh về thanh quản. Lúc này, bạn có thể bế bé đến khu vực không khí thoáng hơn như đứng cạnh một khung cửa sổ mở. Bạn nên đưa bé đi khám khẩn cấp nếu bé có dấu hiệu khó thở: xương sườn của bé cử động lên - xuống theo từng nhịp thở, cánh mũi của bé phập phồng…
Bé nôn (trớ) liên tục
Nếu tình trạng nôn (trớ) ở bé lặp đi lặp lại nhiều lần hoặc bé có dấu hiệu bị ngộ độc thức ăn, bạn nên đưa bé đi khám. Trường hợp khẩn cấp khác là khi bé bị nôn (trớ) ra máu hoặc đờm xanh, đờm vàng. Dấu hiệu này có thể là triệu chứng hẹp môn vị ở bé. Bé cần được chỉ định dùng thuốc và phẫu thuật bởi bác sĩ.
Bé đi khập khiễng hoặc mất khả năng leo trèo
Nếu bé khó khăn trong đi lại (không thể đứng bằng một chân); bé đột nhiên bị sốt thì có thể bé bị nhiễm trùng xương đầu gối hoặc xương hông. Trường hợp này, bé cần được bác sĩ khám nhanh chóng, bởi vì sự nhiễm khuẩn có khả năng phá hủy các khớp xương ở bé. Đôi khi, dấu hiệu bệnh ở bé sẽ trở nên đặc biệt nghiêm trọng nếu bé không được điều trị bằng kháng sinh (theo chỉ định của bác sĩ) trong vòng 48 giờ sau đó. Dấu hiệu điển hình là bé bị ốm trong ngày đầu tiên. Ngày tiếp theo, bé có khả năng bị sốt cao và đau nghiêm trọng ở một phần xương trên cơ thể. Nếu bé không thể cử động khuỷu tay, chân, vai thì bạn càng nên đưa bé đi khám sớm (đặc biệt là những bé dưới 2 tuổi).

3011
07-04-2010, 12:05 PM
Ngày 26-3, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã yêu cầu Bộ Y tế kiểm tra, làm rõ thực trạng giá thuốc tại một số nhà thuốc, bệnh viện trên địa bàn Hà Nội. Tuy nhiên vấn đề nằm ở chỗ, thực trạng bức xúc này, không phải tới giờ mới có, cũng không phải chỉ ở Hà Nội.
Có người nói: Một trong những đặc điểm của thị trường thuốc tân dược Việt Nam là “Bác sĩ bảo mua thuốc nào thì mua thuốc đó”, và “Cửa hàng bán thuốc với giá nào thì bệnh nhân phải mua với giá đó”. Không có mấy người hiểu được tên tuổi, công dụng khi 100% các loại tân dược dùng tiếng latinh và nhất là không mấy người biết về cả giá cả của các loại thuốc. Cho nên, khi đã phải “vái tứ phương” thì người bệnh chỉ còn trông chờ vào y đức của các “từ mẫu” và tất nhiên, lương tâm của các dược sĩ.
Theo kết quả khảo sát 3 tháng đầu năm 2010 của Hiệp hội Sản xuất kinh doanh dược Việt Nam, 16.485 lượt mặt hàng thuốc sản xuất trong nước có 199 lượt mặt hàng tăng giá (chiếm tỷ lệ 1,15%) với tỷ lệ tăng trung bình 5,3%. Đối với thuốc nhập khẩu, khảo sát 19.677 lượt mặt hàng có 68 lượt mặt hàng tăng giá với mức tăng trung bình 5,2%. Có khoảng 6 lần giá thuốc tây y được điều chỉnh trong năm 2009 với mức tăng nhiều loại thuốc lên tới 50% -70% tập trung chủ yếu ở các loại đặc trị tim mạch, tiểu đường, huyết áp...Và chỉ trong 3 tháng đầu năm 2010, giá thuốc tây y cũng đã được điều chỉnh tăng tới 2 lần.
Vào tháng 11 năm ngoái, lần đầu tiên dư luận được biết một phần sự thật về những phạm trù đạo đức trong ngành y dược khi Thanh tra Chính phủ công bố hàng loạt sai phạm trong lĩnh vực y tế tại buổi Đối thoại Chống tham nhũng lần thứ 6: “Việc bán không đúng giá niêm yết, mua bán lòng vòng nhằm nâng giá thuốc cao hơn nhiều lần so với giá thuốc đã kê khai đăng ký lưu hành tại Bộ Y tế đang diễn ra ở nhiều cơ sở kinh doanh tân dược. Thậm chí có cơ sở nâng giá bán gấp 300% giá kê khai.
Trên một bài viết riêng cho báo Đại Đoàn Kết gần đây, nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Văn Truyền cho biết: Chí phí về thuốc đang chiếm khoảng 60% chi phí ở bệnh viện trong khi tỷ lệ này theo khuyến cáo của WHO là 25-30%. Số liệu của Cục Quản lý khám chữa bệnh công bố một kết quả điều tra cho thấy: 41% bệnh án chỉ định dùng 2 kháng sinh, 7,7% bệnh án dùng 3 kháng sinh. Đa số các bệnh án dùng 6-8 thuốc, 10% bệnh án sử dụng 10-15 thuốc. Tỷ lệ đơn thuốc kê 6 thuốc chiếm tỷ lệ 85% số đơn thuốc được khảo sát. Trong khi đó, WHO đưa ra khuyến cáo số thuốc bình quân cho một đơn thuốc chỉ nên từ 2 đến 3 thuốc”. Đây là hiện tượng được Thanh tra Chính phủ khẳng định: Thầy thuốc có biểu hiện lợi dụng nghề nghiệp kê đơn thuốc cho bệnh nhân với nhiều loại thuốc ngoại đắt tiền để hưởng hoa hồng hoặc nhận quà của các cơ sở kinh doanh dược phẩm; móc nối đưa bệnh nhân từ bệnh viện công ra các bệnh viện và phòng khám tư nhân, lạm dụng các xét nghiệm trong chẩn đoán..., gây khó khăn, lãng phí tiền bạc của người bệnh, gây bức xúc trong dư luận.
Người bệnh, ngoài việc chống chọi với bệnh tật, còn phải “đương đầu với những tiêu cực trong ngành y dược” mà chỉ một vấn đề tưởng như rõ ràng nhất là giá thuốc, thực chất từ lâu cũng đã làm lu mờ y đức. Rất tiếc là thời điểm đó, dù giá nhiều loại thuốc được khẳng định chắc chắn trong báo cáo của cơ quan thanh tra là gấp 300% so với giá thật, nhưng đã không được mấy người để ý.
Cũng trong tháng 3-2009, con số 300% được nhắc lại một lần nữa trong Báo cáo “Pháp luật cạnh tranh điều chỉnh hành vi phản cạnh tranh trong hệ thống phân phối dược phẩm tại thị trường Việt Nam” do Cục Quản lý Cạnh tranh, Bộ Công thương công bố: “Thuốc trước khi nhập khẩu vào Việt Nam đã được nhà phân phối, công ty môi giới cấu kết với văn phòng đại diện của các công ty nước ngoài tại Việt Nam để “ấn định”... có khi giá thuốc được nâng cao hơn giá gốc từ 200 đến 300%”.
Sau khi vào Việt Nam, một lượng lớn thuốc tây y được đưa vào các bệnh viện và một lần nữa, chúng lại bị đội giá để “gánh” tiêu cực. Chẳng hạn kết quả khảo sát giá của 606 loại thuốc nhập khẩu được tiêu thụ tại bệnh viện Bạch Mai cho thấy: Có 25,2% thuốc nhập khẩu có giá bán cao hơn giá nhập khẩu từ 35% trở lên.
Những điều tra của báo chí cho thấy, giá của một số loại thuốc tây y thậm chí chênh lệch 540% so với giá nhập khẩu. Và kỷ lục về sự chênh lệch là có loại thuốc được bán cho bệnh nhân với giá gấp 7,5 lần, tức 752% so với giá nhập khẩu.Dường như càng thuốc đặc trị thì mức độ vô lý về giá càng cao. Dường như càng bệnh hiểm nghèo thì giá thuốc càng đội.
Một báo điện tử dẫn lời một trình dược viên, tiết lộ: “Vấn đề không phải lãnh đạo bệnh viện không biết giá nhập khẩu. Song nếu biết giá nhập khẩu rồi thì công ty dược có thể “thỏa thuận” mức “ăn chia” để bệnh viện “ỉm đi” và chấp thuận mức giá mà công ty đưa ra”.
Ở một ý nghĩa nào đó, thuốc là mặt hàng nhân đạo, nhưng mặt hàng nhân đạo này đang phải gánh quá nhiều những thủ tục, những phí, lệ phí, tiêu cực phí, những chi phí trình dược và cả quảng cáo. Và tất cả những tiêu cực, những bất hợp lý này chỉ có một đối tượng duy nhất phải chịu: Đó là người bệnh.
Đảng và Nhà nước ta đã hết sức quan tâm đến người dân nói chung và người nghèo nói riêng với nhiều chính sách an sinh xã hội, nhưng chính sách đó sẽ không thể đi vào cuộc sống khi y đức bị lu mờ và những tiêu cực trong ngành y chưa được ngăn chặn tích cực. (www.daidoanket.vn)

3011
07-04-2010, 12:10 PM
Các xét nghiệm cần thiết để chẩn đoán.
- Na+ bình thường, đôi khi cao (do mất nước) hoặc giảm (do bệnh nhân đái nhiều).
- K+ thường giảm (có thể bình thường hoặc tăng nếu có suy thận).
- Dự trữ kiềm giảm < 15 mỌq/l, pH máu giảm.
- Ceton (+) mạnh.
- ure, creatinin tăng (do suy thận chức năng).
- Clo máu bình thường hoặc tăng (do tái hấp thu tại ống thận).
- Khoảng trống Amion tăng
(khoảng trống Amion = (Na+ + K+) - (Cl- + HC03- + 17 thường < 3).
- Phốt phát huyết thanh tăng trong giai đoạn đầu khu chưa được điều trị, sau điều trị sẽ giảm.
- Huyết cầu tố tăng (do máu cô).
- Bạch cầu tăng (do nhiễm khuẩn hoặc máu cô).
- Triglycerid máu tăng nguyên nhân do thiếu insulin dẫn đến giảm lipoprotein lipase, mặt khác thiếu insulin dẫn đến tốc độ thanh lọc cuả lipid bị chậm lại và gan sẽ tăng sản xuất VLDL (Very Low Density lipoprotein).
* Điện tim:
- Đoạn QT dài, sóng T dẹt, xuất hiện sóng Ự, ST hạ xuống (khi có hạ K+ máu).
- Hình ảnh của thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim.
* Cấy máu, cấy nước tiểu (nếu nghi ngờ có sốt nghi nhiễm khuẩn huyết).
* Các xét nghiệm đông máu.
* Thử HCG (nếu nghi ngờ có thai).
* Xquang tim phổi.

3011
07-04-2010, 12:11 PM
- Theo dõi M, HA, To, nhịp thở mỗi giờ/lần.
- Theo dõi số lượng nước vào, ra.
- Theo dõi đường huyết mỗi giờ/ lần để điều chỉnh lượng insulin đưa vào.
- Kali, pH máu, dự trữ kiềm để điều chỉnh toan- kiềm.

3011
07-04-2010, 12:15 PM
Các dị tật cần phải PT cấp cứu:
I. Dị tật tiêu hoá:
1- Hẹp thực quản là dị tật đường tiêu hoá thường gặp tỉ lệ 1/2000 - 1/4000 trẻ sơ sinh. 80% các dị tật này có dò thông giữa khí quản và thực quản hoặc các dị tật khác về tim mạch, phổi, hệ niệu sinh dục.
Các hình thái:
Túi cùng phía trên, lỗ dò khí quản - thực quản phía dưới.
Có 2 túi cùng
Lỗ dò khí quản, thực quản phía trên, túi cùng phía dưới. Có 2 lỗ dò
Lâm sàng:
Sau khi trẻ trào nước ối , RL hô hấp tiết nước bọt nhiều, tắc đường thở. Khi ăn uống nôn sặc. Bụng chướng hoặc lép kẹp.
Dùng ống sonde dạ dày mềm và vô trùng đặt qua mũi hoặc qua miệng. Nếu ống thông không qua được 8-10 cm là thực quản teo
Chú ý:
Nếu ống thông cứng có thể thủng túi cùng, ngược lại ống quá mềm có thể bị cuộn tròn trong túi cùng.
- Có thể dùng 1 ống bơm tiêm, bơm 5ml không khí vào ống thông dạ dày đồng thời đặt ống nghe ở vùng thượng vị. Nếu teo thực quản sẽ không nghe khí vào dạ dày.
- Chụp XQ sau khi bơm chất cản quang vào thực quản hoặc sau khi đặt một ống thông cản quang và chụp trẻ ở tư thế đứng
- Điều trị: Chuyển trẻ đến trung tâm có khả năng PT tư thế trẻ nửa ngồi hoặc nghiêng về trước. Nếu cần có thể đặt nội khí quản để hút nước bọt tránh ngạt thở
- Phẫu thuật: Có thể cắt đoạn teo nối 2 đầu thực quản mổ 2 thì:
Mổ thông dạ dày sau đó nối 2 túi cùng, nếu 2 túi cách xa phải nối bằng 1 đoạn ruột già.
2. Tắc ruột:Triệu chứng:
Nôn ra sữa hoặc sắc tố mật. Bụng chướng hơi, sút cân. Chậm phân su sau 24h
Phân su bình thường hoặc có nhiều nhày, khô, màu trắng
Chụp XQ bụng đứng không chuẩn bị thấy mức nước, mức hơi.
Các hình thái lâm sàng:
2.1 Teo ruột do teo thắt hẹp lòng ruột:
Teo bởi 1 dải xơ teo hoàn toàn, do xoắn ruột hoặc do tắc ruột không liên tục
2.2 Hẹp môn vị phình đại:
Vùng cơ môn vị phình đại làm hậu môn bị hẹp, tỷ lệ 1/3000 trẻ sinh sống ( LS nôn thành tia, táo bón vì mất nước, sút cân, sờ dưới gan có thể thấy u cục --> PT ngay.
2.3 Tắc ruột do phân su:
Phân su không bình thường, có nhiều TB và đặc quánh lại quện thành cục hoặc thành dây, trẻ không đại tiện trong vòng 3- 4 ngày, bụng chướng, nôn ói ra mật xanh. Nếu phát hiện chậm có thể nhiễm trùng
Xử trí: Thụt tháo + KS phòng nhiễm trùng.
2.4 Thoát vị cơ hoành:
Tỷ lệ 1/5.000- 1/10.000 do cơ hoành bị thủng hoặc tạng trong bụng và ngực thông nhau. 80% lỗ thông ở bên trái do bên phải được gan che phủ.
Những thể nặng biểu hiện ngay từ đầu sau khi sinh cần phải được chẩn đoán cấp cứu ngay tại phòng sinh, ngay sau tiếng khóc đầu tiên bị khó thở nguy kịch, tím tái, có lúc ngừng thở.
Triệu chứng:
Nhìn thấy ***g ngực bên bị thoát vị di động ít theo nhịp thở, ngực phồng, bụng lép, tình trạng tím tái ngày càng nặng
Gõ trong bên ***g ngực có thoát vị
Mất tiếng rì rào phế nang bên thoát vị
Tiếng tim bị đẩy sang phía đối diện với bên thoát vị
XQ: Các quai ruột nằm trên ***g ngực bóng tim bị đẩy sang phải nếu có thoát vị bên trái.
Xử trí:
Hút nhớt , thở oxy qua nội khí quản
Đặt nằm trên mặt phẳng, đầu cao.
Cho trẻ nằm nghiêng về phía thoát vị để tránh chèn ép lên phổi lành
Đặt ống thông dạ dày, hút nước làm giảm áp trong ***g ngực.
Truyền dịch và chuyển tới nơi có khả năng phẫu thuật ngay
2.5. Thoát vị rốn:
Do sự phát triển không đầy đủ của da và cơ của thành bụng trước nên ruột bị thoát ra ngoài, tỷ lệ 1/6.000 trẻ sơ sinh sống
Triệu chứng: Thấy dây rốn bám vào 1 khối to như quả cam hoặc chanh. Qua lớp màng mỏng nhìn thấy quai ruột bên dưới.
Xử trí: Bọc khối thoát vị bằng khăn ấm vô trùng tẩm nước muối sinh lí, chú ý tránh nhiễm trùng, đặt ống thông dạ dày rồi chuyển tới trung tâm phẫu thuật.
2.6. Thoát vị thành bụng:
Dị tật này ít gặp hơn thoát vị rroons, tỷ lệ 1/20.000. Do thành bụng bên không phát triển làm các quai ruột lòi ra, không có gì bao bọc, rốn vẫn như cũ.
Xử trí: Che đậy các quai ruột lòi ra bằng khăn ấm vô trùng đắp nước muối sinh lí. Khi chuyển đến trung tâm phẫu thuật không băng chặt tránh nguy cơ chèn ép ruột non.
2.7. Dị tật không có hậu môn:
Tắc phần cuối cùng của ống tiêu hoá có thể gây tử vong nếu không mổ kịp thời, tỷ lệ 1/3000- 1/5000 trẻ sinh sống thường phối hợp với dị tật khác như tiết niệu, sinh dục hoặc tiêu hoá: hẹp thực quản, hẹp môn vị.
XQ: Xách ngược chân lên, đầu dốc xuống cho thấy khí sáng của bờ trên trực tràng, biết được khoảng cách từ túi bịt đến hậu môn ( Nếu < 2cm mổ theo đường dưới; > 2cm mổ theo đường trên)
I.Dị tật đường hô hấp:
1.Hẹp xoang mũi:
Nếu hẹp cả 2 bên, trẻ thở khó khăn, tím tái, khóc to và không có kéo xương ức, mỗi lần bú trẻ ngạt thở nên không bú được trực tiếp, hai mũi đầy nước mũi.
Đưa ống qua mũi khoảng 3,5cm thấy bị tắc, không vào thêm được nữa.
Xử trí: Đặt ống thông Mayo đè lưỡi để trẻ thở dễ dàng hơn trong khi chờ phẫu thuật.
2. Sứt môi, khe hở vòm miệng:
Sứt môi không chẻ vòm hầu » 1/2.000
Sứt môi 2 bên hoặc một bên
Chờ đợi phẫu thuật chỉnh hình
Có thể gặp hội chứng Pierre- robin: Khe hở vòm, teo hàm dưới- lưỡi tụt ra sau
Xử trí tạm thời bằng nằm sấp hoặc đặt một ống thông Mayo trong khi chờ đợi đến thời điểm thích hợp để được phẫu thuật chỉnh hình.
II. Dị tật ống thần kinh:
1.Thoát vị tuỷ- màng não;
Nhìn thấy khối u ở vùng giữa lưng,thường vùng thắt lưng cùng, bao bọc bởi 1 màng trong, vị trí càng cao các rối loạn càng nặng
Cơ vòng hậu môn giãn rộng, phân ra liên tục
Tiểu tiện giỏ giọt liên tục
Chi dưới liệt, phát triển kém
Có thể kèm theo não úng tuỷ dễ có biến chứng viêm màng não -->Nên mổ sớm
2. Vô sọ: Trẻ khó sống

3011
09-04-2010, 11:55 AM
Nguyên nhân hiếm muộn do nam giới chiếm 40-50%, trong đó hơn 90% là do giảm số lượng và chất lượng tinh trùng.
Theo TS-BS Nguyễn Thành Như - Trưởng khoa Nam học BV Bình Dân, TPHCM, hiện có 10-15% số cặp vợ chồng mới bị vô sinh, trong đó, tỉ lệ do nam chiếm 30%, nữ chiếm 40%, 20% do cả hai vợ chồng...
Vô sinh nam được phân loại: Vô tinh hay tinh dịch ít; vô tinh (suy tuyến sinh dục giảm hướng sinh dục, các bất thường sinh tinh, tắc đường dẫn tinh); thiểu nhược quái tinh (bệnh nội tiết, dãn tĩnh mạch tinh, tinh hoàn ẩn, thuốc sức nóng chất độc hại, nhiễm trùng toàn thân); bình thường nhưng hiếm muộn (bất thường ở người vợ, thói quen giao hợp bất thường, bất thường ở cực đầu tinh trùng, kháng thể kháng tinh trùng...); nhược tinh (không giao hợp lâu ngày, nhiễm trùng đường sinh dục, dãn tĩnh mạch tinh, tắc bán phần đường dẫn tinh).
Hiện nay, tại BV Bình Dân, TPHCM, nhiều trường hợp điều trị vô sinh nam tận gốc có khả năng thành công lên đến gần 90%. TS Như khẳng định: Khám để phát hiện vô sinh không khó, chỉ cần 1-2 ngày là cho kết quả chính xác, chi phí điều trị không cao và thời gian phẫu thuật ngắn.
Điều đáng nói, mặc dù tỉ lệ nam giới vô sinh chiếm 40-50%, thế nhưng do tâm lý ngại không dám đến khám để phát hiện sớm khiến cho tình trạng vô sinh kéo dài. Thậm chí còn chuyển lỗi... chậm có con cho người nữ.
Cũng theo TS Như, tính đến nay, vi phẫu nối mào tinh và ống dẫn tinh một lần để điều trị viêm mào tinh do viêm tắc, so triệt sản, đã được tiến hành với tỉ lệ thành công 63 - 86%. Tỉ lệ mang thai tự nhiên sau đó là 21 - 38%. Nhiều bệnh nhân đã từng triệt sản, vì một lý do nào đó muốn có con lại, sẽ được các bác sĩ tiến hành vi phẫu nối ống dẫn tinh.
Tỉ lệ thành công 71 - 97%, tùy vào thời gian cột, vị trí cột, tình trạng của mào tinh và tinh hoàn, kỹ thuật khâu nối. Tỉ lệ có thai là 30 - 76%. Nếu tinh trùng yếu, vi phẫu có thể giúp làm tăng chất lượng tinh trùng. Dãn tĩnh mạch tinh chiếm 15% dân số nam và khiến cho 40% nam giới bị vô sinh. Với phương pháp mổ hở qua ngả bẹn kết hợp với vi phẫu sẽ giúp tinh dịch đồ cải thiện 66%, có thai 43%.
Theo BS Hồ Mạnh Tường - Hội Nội tiết sinh sản và vô sinh TPHCM, điều trị vô sinh nam phổ biến nhất là áp dụng điều trị nội khoa và điều trị bằng phẫu thuật. Khoảng 10-15% các cặp vợ chồng trong tuổi sinh sản có vấn đề về hiếm muộn. Trong đó, nguyên nhân hiếm muộn do nam giới, đơn thuần hoặc kết hợp, chiếm ít nhất 50%.
Trong phân loại các nhóm hiếm muộn nam, thiểu năng tinh trùng chưa rõ nguyên nhân chiếm khoảng 90%. Các phương pháp điều trị thiểu năng tinh trùng phổ biến hiện nay gồm: Điều trị nội khoa, IUI, IVF/ICSI. Với điều trị nội khoa, bác sĩ đưa ra phác đồ điều trị nội khoa phổ biến hiện nay gồm: Androgens, antiestrogen, kháng sinh; antiestrogen....
Điều trị bằng phẫu thuật phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Chỉ định phẫu thuật, các trang thiết bị, tay nghề của phẫu thuật viên. Trường hợp phẫu thuật thành công, nhưng việc thụ tinh được hay không lại phụ thuộc rất nhiều vào độ tuổi và khả năng sinh sản của vợ. Sau phẫu thuật, nếu vẫn không cho kết quả, bệnh nhân có thể dùng đến các giải pháp: Bơm tinh trùng vào buồng tử cung, thụ tinh trong ống nghiệm hay tiêm tinh trùng vào bào tương noãn.

3011
09-04-2010, 11:57 AM
Trước thông tin gia vị, ớt, hạt dưa nhiễm rhodamine B gây ung thư đang được lưu hành trên thị trường, chiều ngày 25.2, Thanh tra (TT) Sở Y tế TPHCM đã thông báo phát hiện thêm 6 loại gia vị khác cũng nhiễm chất này.
Trước đó, TT đã tiến hành lấy mẫu các loại gia vị nấu bò kho, bột bò kho, gia vị nấu lagu, sa tế khô, bột điều xay... tại các chợ Bình Tây, chợ Trần Bình và cơ sở sản xuất ở quận 6, Bình Chánh để tiến hành kiểm nghiệm sau khi có thông tin nhiều sản phẩm này đã tẩm hoá chất và đã được nhiều địa phương phát hiện, báo chí phản ánh.
Kết quả kiểm nghiệm cho thấy, mẫu sản phẩm gia vị nấu bò kho hiệu Kim Nga địa chỉ 48/1 KP3 đường số 3, phường Bình Hưng Hòa, Bình Tân, ngày sản xuất (NSX) 10.1.2010 có hàm lượng rhodamine B là 322mg/kg; bột bò kho hiệu Kim Nga, NSX 20.1.2010 có hàm lượng rhodamine B là 680,5mg/kg; sa tế khô hiệu Kim Thành địa chỉ 3C64/15 ấp 3, xã Phạm Văn Hai, Bình Chánh, không có NSX, có hàm lượng rhodamine B là 31,7mg/kg.
Ngoài ra, tại cơ sở chế biến gia vị Nam Ấn - địa chỉ 30/7A Phạm Phú Thứ, phường 3, quận 6, TT đã tiến hành niêm phong gần 5 tạ bột gia vị các loại và đình chỉ hoạt động của cơ sở này. Kết quả kiểm nghiệm cho thấy, 3 mẫu sản phẩm bột điều xay (không nhãn, không NSX, hạn sử dụng), gia vị nấu bò kho (NSX 1.1.2010), gia vị nấu ragu loại gói 0,5kg (NSX 1.1.2010) của cơ sở này có chất rhodamine B từ 12,8mcg/kg – 63,3mcg/kg.
TT đã tiến hành đề nghị cơ sở Nam Ấn tiến hành thu hồi và lên phương án tiêu huỷ đối với lô hàng không đảm bảo chất lượng ATVSTP.
Theo TT Sở Y tế, rhodamine B được xác định là chất hoá học dùng để nhuộm quần áo, cấm tuyệt đối trong thực phẩm và thuốc. Điều đáng nói, vì lợi nhuận, các cơ sở sản xuất đã ướp thực phẩm với hoá chất rhodamine B để giảm tối đa chi phí. Người sử dụng hoá chất này lâu ngày sẽ tích tụ trong cơ thể sẽ gây tổn thương gan, thận và dẫn đến ung thư. Còn với những người gan kém, sự đào thải qua gan kém có thể gây dị ứng tức thì, biểu hiện là nổi mẩn trên da, sung huyết.
Trước đó, ngày 29.1, TT Sở Y tế TP đã đình chỉ hoạt động đối với cơ sở Kim Nga vì sản xuất bột ớt có chất phẩm màu dùng trong công nghiệp dệt, không nằm trong danh mục được sử dụng trong thực phẩm của Bộ Y tế, có khả năng gây ung thư. Mẫu bột điều đỏ loại 500g/bịch, qua kiểm nghiệm cũng cho thấy có chứa rhodamine B. TT cũng tiến hành niêm phong 77,5kg bột ớt đỏ và 258kg bột điều đỏ; buộc cơ sở thu hồi và tiêu huỷ 2 loại sản phẩm nói trên.

3011
12-04-2010, 05:02 PM
Có thể nói gì khi bệnh tả xuất hiện ở hai đô thị hiện đại nhất nước là Hà Nội và TP.HCM? Tại tỉnh An Giang, sau khi xâm nhập từ các địa phương Campuchia giáp giới với VN, giới chức y tế đã phát hiện có vi khuẩn tả ở một số nguồn nước sông mà người dân thường sử dụng, là căn nguyên khiến bệnh lây lan. Nhưng tại Hà Nội và TP.HCM, nguồn nước chủ yếu được sử dụng là nước máy, rõ ràng vi khuẩn tả đã xâm nhập vào thực phẩm, dụng cụ hoặc bàn tay người chế biến thực phẩm.
Năm 2009, tại Hà Nội chỉ có bốn trường hợp được xác định dương tính với bệnh tả tại phòng xét nghiệm, nhưng số trường hợp có biểu hiện giống tả lên tới hơn 500 người. Và dịch nhanh chóng giảm thiểu sau khi nghiên cứu của Viện Vệ sinh dịch tễ T.Ư được công bố, với việc phát hiện vi khuẩn tả ở thịt chó sống, thớt chặt thịt, chậu nước dùng rửa thịt... ở một làng nghề thịt chó tại quận Hà Đông. Vì vậy, với tình hình đang diễn ra tại TP.HCM hiện nay, nếu không nhanh chóng xác định căn nguyên lây lan, rất có thể sẽ xảy ra tình trạng tương tự như ở Hà Nội.
Nếu hỏi các quan chức Cục Y tế dự phòng và môi trường, cơ quan đang giữ vai trò điều phối chống dịch - trong đó có dịch tả, về cách phòng dịch, chắc chắn bao giờ cũng được trả lời: quan trọng nhất với chống dịch tả là ăn chín, uống sôi, rửa tay sạch! Đơn giản thế thôi nhưng năm nay là năm thứ tư liên tiếp dịch tả xuất hiện tại VN, cao điểm có vụ dịch với hàng ngàn người mắc, gây nên tình trạng quá tải bệnh viện và rối loạn đời sống xã hội.
Dịch tả cũng gắn liền với câu chuyện phát triển đô thị ở VN. Tại Hà Nội, sau mỗi vụ dịch tả qua đi, các chiến dịch vận động người bán hàng dùng bao tay nilông khi bán thực phẩm cũng qua đi. Và thế là giờ đây tình trạng người bán thực phẩm bốc thức ăn bằng tay, rồi cầm tiền, giẻ lau bàn ghế và hàng trăm thứ mất vệ sinh khác vẫn diễn ra phổ biến.
Yêu cầu nghiêm cấm chở thịt sống không có bao gói ban hành năm 2009, nhưng đến nay vẫn còn không ít người bán hàng chở thịt sống không bao gói nghênh ngang trên đường. Và vẫn còn tình trạng hàng quán thức ăn bày bán cạnh cống rãnh lộ thiên và thùng rác!
Gần bốn năm triển khai quy định cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm cho các hộ kinh doanh thực phẩm, đến nay mới chỉ có 20-30% cơ sở đủ điều kiện được cấp chứng nhận. Năm 2010, mục tiêu đặt ra là cấp cho... 80% số hộ kinh doanh còn lại, một mục tiêu mà ai cũng biết là rất khó.
Hà Nội và TP.HCM đang thay đổi hằng ngày, nhưng cuộc sống của những cư dân đô thị vẫn đang bị chi phối bởi những vấn đề không dễ giải quyết, từ ăn gì, uống gì, đến mua gì ở đâu cho đảm bảo vệ sinh... thì làm sao tránh được căn bệnh khó nói là bệnh tả?

3011
12-04-2010, 05:05 PM
Mấy giờ sau bé bị co giật liên tục rồi ngưng thở, bác sĩ phải đặt máy giúp thở. Suốt gần một tuần mê man bất tỉnh, sáng bé mở mắt, tự thở được, cử động được tay chân. Gia đình bé thở phào nhẹ nhõm, nhưng bác sĩ điều trị lại lo khả năng sau khi hết bệnh bé sẽ bị di chứng não như yếu liệt, động kinh, chậm phát triển tâm thần. Vì vậy phòng ngừa bệnh viêm não là chính, chứ nếu mắc bệnh thì hậu quả thật nặng nề.
Trẻ em đều có thể mắc bệnh viêm não cấp nhưng nhiều nhất là ở trẻ dưới 3 tuổi. Triệu chứng của viêm não gồm sốt cao 39-40 độ C, đau đầu, ói mửa, lừ đừ, bỏ ăn, có thể kèm theo ho, tiêu chảy. Sau đó bệnh nhân thay đổi tri giác theo chiều hướng xấu dần như li bì, đờ đẫn, hôn mê, không đáp ứng với kích thích đau, co giật, có thể tử vong rất nhanh do rối loạn hô hấp dẫn đến ngừng thở dù được điều trị ở những trung tâm cấp cứu hồi sức có đầy đủ phương tiện.
Để phòng ngừa bệnh viêm não nên diệt muỗi, lăng quăng, ngủ mùng, ăn uống hợp vệ sinh, rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh. Không để trẻ cảm lạnh, ăn uống dinh dưỡng. Khi trẻ tiêu chảy phải cho uống nước đầy đủ, rửa tay sạch sẽ khi chăm sóc trẻ, nếu tiêu chảy nhiều kèm theo lừ đừ, ói, sốt phải đi khám bệnh ngay.
Tiêm ngừa viêm não là cách phòng ngừa tốt nhất. Tuy nhiên hiện nay chúng ta chỉ có văcxin viêm não Nhật Bản, não mô cầu, còn các loại khác thì chưa có.

3011
12-04-2010, 05:06 PM
Sẩy thai là tình trạng thai bị tống xuất ra khỏi buồng tử cung trước khi có khả năng sống, tuổi thai thường nhỏ hơn 20-22 tuần. Sẩy thai chiếm tới 20% tổng số thai được nhận biết.
Sẩy thai tự nhiên có các dạng:
- Dọa sẩy thai: tình trạng ra huyết và đau bụng nhẹ vào đầu thai kỳ. Mô thai chưa bị tống xuất ra khỏi tử cung. Thăm khám ghi nhận cổ tử cung đóng. Có nhiều khả năng dưỡng được thai .
- Sẩy thai khó tránh: ra huyết và đau bụng nhiều hơn, cổ tử cung bắt đầu mở ra. Khả năng giữ thai khó khăn hơn.
- Sẩy thai không hoàn toàn: 1 phần mô thai đã tống ra ngoài. Khi siêu âm ghi nhận một phần mô thai còn lại trong lòng tử cung.
- Sẩy thai hoàn toàn: toàn bộ mô thai bị tống ra khỏi tử cung. Siêu âm ghi nhận không còn mô thai trong lòng tử cung.
Siêu âm ngả bụng hay siêu âm đầu dò âm đạo rất có giá trị trong các trường hợp có thai, nhất là các trường hợp có các triệu chứng ra huyết âm đạo bất thường và đau bụng vùng hạ vị. Siêu âm có giá trị:
- Xác định thai trong hay ngoài tử cung
- Tình trạng phôi thai, có dấu hiệu sống hay không dựa vào hình ảnh tim thai.
- Một hay hai thai
- Tuổi thai
Trên siêu âm có thể ghi nhận hình ảnh máu tụ (hay bóc tách túi thai). Tụ máu trong tử cung, dưới nhau là dấu hiệu được thấy ở bệnh nhân có dấu hiệu dọa sẩy thai cũng như các trường hợp không có triệu chứng. Nếu sự phát triển của phôi không bị xáo trộn và không ghi nhận sự tiến triển của khối máu tụ thì có nhiều khả năng thai sẽ diễn tiến tốt.
Tiên lượng theo thống kê:

- Trong vòng 20 tuần đầu thai kỳ, 30-40% có ra huyết âm đạo bất thường.

- 50% các trường hợp này dẫn tới sẩy thai tự nhiên

- Ra huyết âm đạo kéo dài trên 3 ngày làm tăng nguy cơ sẩy thai

- Có hoạt động tim thai vào 6 tuần thì nguy cơ sẩy thai là 7%. Đến 8 tuần nguy cơ là 2%.
Điều trị dọa sẩy thai: chưa có phác đồ điều trị bởi vì nguyên nhân của sẩy thai là do các bất thường về nhiễm sắc thể. Khuyến cáo sử dụng progesterone, dùng vitamin E và nghỉ ngơi. Tuy nhiên các giả thuyết bảo vệ cho các phương pháp điều trị chưa rõ ràng. Ví dụ progesterone là một chất do hoàng thể thai kỳ của buồng trứng tiết ra trong 3 tháng đầu thai kỳ. Khi có tình trạng suy hoàng thể thai kỳ thì có nguy cơ sẩy thai do thiếu progesterone, nhưng tỉ lệ này rất thấp.
Trường hợp của chị thai khoảng 6 tuần bắt đầu có dấu bóc tách túi thai, đến 8 tuần có vẻ tăng lên. Nhưng vì chị không tả đầy đủ các chi tiết rất quan trọng là tình trạng phôi thai có phát triển hay không, có tim thai hay không... nên tôi rất khó có thể đưa ra lời khuyên rõ ràng. Nếu tình trạng phôi thai phát triển tốt thì tiên lượng sẽ tốt hơn. Chị hãy hỏi rõ bác sĩ để tránh lo lắng quá mức vì nếu căng thẳng cũng góp phần tăng sẩy thai.

3011
13-04-2010, 01:42 PM
Xơ nang tuyến vú là vấn đề y khoa phổ biến, còn gọi là thay đổi sợi bọc tuyến vú, là một dạng tổn thương lành tính, thường gặp ở nữ giới. Theo các nhà khoa học thì đây chỉ là hiện tượng thường gặp, do ảnh hưởng của tình trạng rối loạn nội tiết tố nữ. Theo kết quả nghiên cứu, có khoảng 60% các cục u trong vú phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ không phải là ung thư và trên 90% nữ ở vào tuổi tiền mãn kinh có thay đổi sợi bọc tuyến vú và được xem là một biểu hiện của quá trình lão hóa.
Trong đời sống sinh lý bình thường ở nữ giới, mỗi chu kỳ kinh nguyệt, dưới tác động của nội tiết tố sinh dục estrogen và progesterone, các mô tuyến vú giãn nở, giữ nước lại và căng lên, những vùng có mật độ chắc hơn, khi sờ có cảm giác như bướu; sau khi hành kinh, các cảm giác này giảm dần rồi trở lại bình thường. Trải qua nhiều chu kỳ kinh nguyệt, việc kích thích này cứ lặp đi lặp lại làm cho mô tuyến vú trở nên chắc và hình thành các nang nhỏ chứa dịch, trong các ống dẫn bị tắc hoặc bị giãn, nhất là khi có tình trạng mất quân bình giữa hai nội tiết tố estrogen và progesterone, ở người tiền mãn kinh hoặc người thường xuyên bị tress; khi đó tuyến vú có những vùng bất thường tạo thành những u cục hay những mảng chắc gồ lên dưới da hoặc những hạt rất nhỏ rải rác khắp hai vú.
Triệu chứng biểu hiện : Đau ở vú là triệu chứng thường gặp nhất, xảy ra ở trong thời kỳ kinh nguyệt, nhất là ở giai đoạn tiền mãn kinh. Ở người có bộ ngực “dày”, đau có thể xuất hiện ở 1 bên hoặc cả 2 vú, vị trí thường là 1/4 trên ngoài hoặc vùng 1/2 dưới của vú, có thể đau lan ra cánh tay cùng bên. Mức độ đau và thời gian đau thay đổi tùy từng cơ địa mỗi người. Có người chỉ đau nhẹ vào 1 tuần lễ trước ngày có kinh, ít đau hơn khi có kinh. Có người đau liên tục, hoặc có cảm giác căng ở hai vú. Nếu sờ vào sẽ thấy các mảng hoặc dạng cục ở vú, đây là dấu hiệu thường gặp. Người bệnh có thể nhận biết hoặc phát hiện qua siêu âm hay chụp nhũ ảnh, có cảm giác đau hay khó chịu khi ấn vào. Một số trường hợp có nang to, tròn, chắc, di động, chứa nhiều dịch tạo cảm giác căng căng khi ấn vào.
Ngoài các triệu chứng trên, người bệnh có thể kèm theo rối loạn kinh nguyệt, đau bụng hoặc đau lưng nhiều khi hành kinh.
Chẩn đoán : Ngày nay siêu âm là phương tiện được chỉ định rộng rãi, không gây độc hại, an toàn, đơn giản, rẻ tiền, nhanh chóng, không đau, không làm thủ thuật xâm lấn vào tuyến vú, giúp xác định tính chất đặc hay nang, số lượng, vị trí xơ nang tuyến vú. Ngoài ra có thể kết hợp nhũ ảnh, nhưng chỉ sử dụng khi thật cần thiết, vì có tia phóng xạ và không có giá trị hơn siêu âm, ít áp dụng trong các trường hợp tuyến vú mỏng, hoặc chọc hút bằng kim nhỏ (FNA) khi sang thương dạng đặc.
Điều trị : Để khắc phục tình trạng các triệu chứng đau và tăng nhạy cảm nhiều ở vú, nên chuẩn bị cho mình một trạng thái tâm lý thoải mái, vui vẻ, làm việc và nghỉ ngơi hợp lý, cân bằng chế độ dinh dưỡng. Nên ăn cơm gạo trắng thường ngày nên thay bằng gạo lứt để bổ sung nhiều vitamin nhóm B, bổ sung lượng canxi có trong bơ sữa, tăng lượng magiê có trong trái cây rau quả để giảm ứ nước, giảm căng ngực. Tránh các thức ăn có nhiều muối, dùng nhiều thức ăn giàu kali như: cam, quýt, chuối, tránh các chất kích thích như: rượu, bia, cà phê, thuốc lá, uống nhiều nước, bổ sung vitamine B6, magiê, kali. Chỉ dùng thuốc giảm đau khi các triệu chứng đau và tăng nhạy cảm nhiều ở vú như paracetamol 500mg, uống không quá 3 viên trong ngày. Chườm nóng tại chỗ, dùng nịt ngực thích hợp.
Về điều trị, để giảm thiểu mô tuyến vú hiện đang được các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu. Điều trị ngoại khoa chỉ thực hiện khi các nang chứa dịch to căng đau, và những xơ nang có kết quả siêu âm, nhũ ảnh hay chọc hút bằng kim nhỏ có nghi ngờ ác tính.

3011
13-04-2010, 01:43 PM
Các bác sĩ Bệnh viện K áp dụng phương pháp mới giúp phát hiện sớm và cắt bỏ hiệu quả khối u có nguy cơ cao gây ung thư đại trực tràng.
Khối u (polyp) đại trực tràng (ĐTT) là bệnh gặp nhiều trong tổng số bệnh nhân điều trị ung thư tại Bệnh viện K (Hà Nội). Khối u phát triển và lồi vào trong ĐTT do sự phát triển quá mức của niêm mạc ĐTT. Đây là một trong những nguyên nhân gây ung thư ĐTT nếu không được phát hiện sớm để điều trị.

Bác sĩ Bùi Ánh Tuyết - Khoa Nội soi thăm dò chức năng (Bệnh viện K) cho biết do triệu chứng của bệnh thường ít và không đặc hiệu nên khó phát hiện.
Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời các khối u này có khả năng phát triển thành ung thư với tỷ lệ tăng dần theo năm.
Cụ thể 2,5% trong năm, 8% trong 10 năm, 24% trong 20 năm. Đáng chú ý, có tới 40% bệnh nhân có khối u nhung mao không cuống chuyển thành ung thư, trong khi khối u tuyến ống chỉ có 15% chuyển hóa thành ung thư.
Tuy nhiên, phát hiện và chẩn đoán khối u ĐTT là việc không đơn giản đối với các bác sĩ. Bệnh nhân thường được phát hiện có khối u khi bệnh đã vào giai đoạn cuối, nguy hiểm tới tính mạng.
Thường thì các bác sĩ dùng phương pháp nội soi như làm khối u bị thiếu máu rồi hoại tử và tự rụng hoặc điều trị bằng tia laser. Nhưng do phương pháp này gặp nhiều hạn chế nên mới đây các bác sĩ Bệnh viện K đã áp dụng phương pháp cắt khối u ĐTT qua nội soi ống mềm. Đây là phương pháp giúp phát hiện sớm và cắt bỏ hiệu quả khối u có nguy cơ cao gây ung thư ĐTT.
Bác sĩ Tuyết cho hay đã có 38 bệnh nhân bị khối u ĐTT được điều trị bằng kỹ thuật mới này. Trong đó có 60,5% bệnh nhân có khối u đơn, 39,5% nhiều khối u và một số bệnh nhân được chỉ định cắt toàn bộ đại tràng.
Với phương pháp cắt khối u ĐTT qua nội soi ống mềm, các bác sĩ sẽ sử dụng dòng điện cao tần.
Theo đó, bác sĩ dùng một thòng lọng điện, gồm một lõi dây kim loại được ***g trong vỏ nhựa để có thể trượt dễ dàng, cho tiếp xúc với phần phải cắt đi của khối u, tại đây dòng điện cao tần được chuyển thành nhiệt năng.
Toàn bộ quá trình cắt đốt và cầm máu được thực hiện nhờ kết hợp giữa nhiệt năng và lực cơ học do thòng lọng siết lại. Kết quả thực hiện trên 38 bệnh nhân cho thấy, 36 bệnh nhân (chiếm 94,8% bệnh) không có biến chứng. Chỉ có một số bệnh nhân bị tai biến chảy máu ngay sau cắt nhưng bác sĩ đã dùng kẹp clip cầm máu kịp thời, không có trường hợp tai biến nặng nào xảy ra.
Với kỹ thuật mới này bệnh nhân có thể xuất viện ngay sau điều trị từ một đến ba ngày, giảm đáng kể thời gian nằm viện so với những phương pháp cũ.
Bác sĩ Tuyết khuyến cáo nếu phát hiện các triệu chứng như có máu trong phân, thay đổi thói quen đại tiện kéo dài trên một tuần hoặc đau bụng thì nên đi nội soi để phát hiện khối u kịp thời (nếu có) và xử lý ngay để tránh khối u gây ung thư ĐTT.
Cách tốt nhất để ngăn ngừa nguy cơ xuất hiện khối u ĐTT là không hút thuốc lá, hạn chế uống rượu, tăng cường tập luyện thể thao, ăn nhiều rau xanh, giảm lượng chất béo nạp vào cơ thể…

3011
13-04-2010, 01:44 PM
Ngày càng có nhiều người trên thế giới mắc bệnh ung thư và khuynh hướng này sẽ tiếp tục gia tăng trong 20 năm tới, cảnh báo của các chuyên gia ngăn ngừa ung thư ngày 3-4.
Theo một báo cáo tại Hội nghị quốc tế lần thứ 5 khu vực châu Á - Thái Bình Dương về ngăn ngừa ung thư (APOCP), từ năm 2008 đến năm 2030, số bệnh nhân ung thư trên toàn cầu sẽ tăng gấp đôi, từ 12,4 triệu ca mới/năm lên con số 26,4 triệu ca mới/năm.
Ngày càng có nhiều người trên thế giới mắc bệnh ung thư và khuynh hướng này sẽ tiếp tục gia tăng trong 20 năm tới, cảnh báo của các chuyên gia ngăn ngừa ung thư ngày 3-4.

Theo một báo cáo tại Hội nghị quốc tế lần thứ 5 khu vực châu Á - Thái Bình Dương về ngăn ngừa ung thư (APOCP), từ năm 2008 đến năm 2030, số bệnh nhân ung thư trên toàn cầu sẽ tăng gấp đôi, từ 12,4 triệu ca mới/năm lên con số 26,4 triệu ca mới/năm.
Báo cáo cũng cho biết đa số các ca mắc ung thư mới xảy ra tại các nước đang phát triển, nơi hệ thống y tế chưa thể chống chọi hiệu quả với căn bệnh này.
Theo giáo sư Murat Tuncer, chủ tịch Tổ chức ngăn ngừa bệnh ung thư khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong số các ca mắc bệnh ung thư trên thế giới, có hơn 60% ở khu vực châu Á.
Về nguyên nhân của tình trạng gia tăng bệnh ung thư, giáo sư Tuncer cho rằng do dân số thế giới đang già đi, ngày càng béo ra, chế độ ăn uống không lành mạnh, nhưng quan trọng nhất là thuốc lá. “Giờ chúng ta mới cấm thuốc lá ở nơi công cộng là đã muộn, muộn đến 20 năm”, ông nói.
Còn theo Tổng thư ký APOCP Keun-Young Yoo, bệnh ung thư đang là mối đe dọa nghiêm trọng đối với nhiều nước châu Á, với số ca mắc bệnh mới sẽ tăng lên đến 10 - 13 triệu người vào năm 2030.
APOCP diễn ra từ ngày 3 đến 7-4-2010 tại Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ, với sự tham dự của hơn 3.000 chuyên gia và quan chức đến từ 70 nước, trong đó có Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc…

3011
16-04-2010, 11:33 AM
Biểu hiện triệu chứng giảm toàn bộ tế bào máu ngoại biên :
- Thiếu máu :Từ từ, mức độ thường nặng, khó hồi phục.
- Xuất huyết : Có đặc điểm của xuất huyết do giảm tiểu cầu, chấm, nốt, mảng bầm máu ở da, chảy máu ở niêmmạc, có thể ở nội tạng.
- Dễ bị nhiễm khuẩn, do giảm bạch cầu.
- Gan, lách, hạch không to.
Xét nghiệm huyết học :
- Hồng cầu : Giảm nhiều, MCV, MCH, MCHC ở giới hạn bình thường, đẳng sắc, hồng cầu lưới giảm < 0,5%.
- Hb giảm nặng.
- Bạch cầu : giảm số lượng, chủ yếu giảm bạch cầu hạt trung tính, tăng tỷ lệ bạch cầu lympho, không có nguyên bạch cầu.
- Tiểu cầu giảm nhiều, thường dưới 50 x 109/l.
+ Máu tuỷ :
- Số lượng tế bào tuỷ giảm < 30 x 109/l
- Tỷ lệ 3 dòng tế bào tuỷ giảm : dòng hồng cầu dưới 15%, dòng bạch cầu tuỷ giảm dưới 40%, thường không gặp mẫu tiểu cầu.
- Các tế bào tuỷ chủ yếu là tế bào trưởng thành, tế bào non và trung gian ít hoặc không có.
- Không có tế bào bất thường di căn vào tuỷ.
+ Sinh thiết tuỷ : (nếu có điều kiện) : Tuỷ xơ hoá, ổ tạo máu rất ít, tuỷ nhiễm mỡ.

3011
16-04-2010, 11:35 AM
Điều trị hỗ trợ : - Chống thiếu máu : Truyền khối hồng cầu, cố duy trì Hb>80g/l.
- Tránh chảy máu ở các bộ phận nguy hiểm (chảy máu nội sọi, phổi, tiêu hoá) truyền khối tiểu cầu, duy trì tiểu cầu > 20 x 109/l.
- Đề phòng nhiễm khuẩn :
Đề phòng nhiễm khuẩn :
+ Đảm bảo vệ sinh, chăm sóc răng miệng, không cặp nhiệt độ hậu môn, không để xước da, niêm mạc.
+ Nếu có sốt, cần tìm kỹ ổ nhiễm khuẩn, cấy các dịch nghi nguồn bệnh, cho kháng sinh có tác dụng cả với vi khuẩn gram dương và âm.
Điều trị đặc hiệu :
Trong điều kiện chưa thực hiện được ghép tuỷ xương và chưa có ATG (Antithymocyte globulin) điều trị như sau :
- Methylprednisolon liều cao, tiêm tĩnh mạch :
Ngày 1 – 3 : 20mg/kg/ngày
Ngày 4 – 7 : 10mg/kg/ngày
Ngày 8 – 11 : 5mg/kg/ngày
Ngày 12 – 20 : 2mg/kg/ngày
Ngày 21 – 30 : 1mg/kg/ngày
Duy trì : 0,1 – 0,2mg/kg/ngày.
Nếu có đáp ứng, duy trì 3 – 6 tháng
Nếu không đáp ứng chuyển điều trị cyclosporin A.
- Cyclosporin A : 8 – 10mg/kg/ngày x 14 ngày sau đó giảm liều dần trong 2 tuần, duy trì 2mg/kg/ngày trong 3 tháng.
- G-CSF (Granulocyte – colony – Stimulating Factor) hay GM – CSF : phối hợp với Methylprednisolon hay Cyclosporin A : 5 mg/kg/ngày tiêm dưới da trong vòng 2 tuần.
- Có thể phối hợp Androgen và Prednisolon :
Mythyltestosterone (Propionat testosterone)
Uống 2 – 5mg/kg/ngày
Tiêm bắp 1 – 2mg/kg/tuần
Prednisolon 2mg/kg/ngày, uống cách ngày.
Thời gian 3 tháng.
- Phẫu thuật cắt lách : chỉ định cho trẻ > 10 tuổi, điều trị bằng các biện pháp trên 6 tháng không kết quả.

3011
19-04-2010, 02:58 PM
Ngày 18-4, Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Hải Dương chính thức xác nhận việc phát hiện ổ dịch tả ở thôn Bằng Trai, xã Vĩnh Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương với 16 bệnh nhân bị tiêu chảy sau khi ăn cỗ tại một đám tang.
Ngành y tế của tỉnh đã nhanh chóng chỉ đạo các đơn vị tiến hành các biện pháp phòng ngừa, xử lý môi trường, nguồn nước của các hộ gia đình có bệnh nhân.
Như vậy, đây là địa phương thứ 5 trên cả nước phát hiện có bệnh nhân tiêu chảy cấp nguy hiểm có nguồn gốc từ phẩy khuẩn tả. Ông Nguyễn Huy Nga, Cục trưởng Cục Y tế dự phòng và môi trường (Bộ Y tế) cảnh báo, thời tiết nắng nóng bất thường là môi trường thuận lợi cho khuẩn phẩy tả phát triển, vì vậy, cần hết sức coi trọng công tác vệ sinh phòng ngừa.

3011
19-04-2010, 03:00 PM
Cả nước hiện có hơn 500 doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh thực phẩm chức năng (TPCN). Đây được coi là lãnh địa mới, đầy rẫy những thông tin mù mờ. Trong dự thảo Luật An toàn thực phẩm mới nhất sẽ được trình Quốc hội thông qua vào tháng 5 tới, nhiều ý kiến cho rằng luật chưa có những quy định mang tính đột phá để siết chặt loại hình kinh doanh này. 34 tuổi, chị Nguyễn Thu Thủy ở phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình được các thành viên của trang web trẻ thơ (Diễn đàn trẻ thơ) chào mời mua bộ sản phẩm Shiseido colagen, chiết xuất từ động vật cá da trơn với tác dụng giúp da đẹp, mịn màng như da em bé ngay sau 2 tháng sử dụng với giá 600.000 nghìn đồng/hộp 126 viên. Theo quảng cáo đây là thực phẩm chức năng, có xuất xứ từ Nhật Bản, để duy trì tác dụng lâu dài phải uống thường xuyên, mỗi tháng 1 hộp. Chẳng biết hiệu quả của loại sản phẩm này tới đâu, nhưng chị Thủy kể, các mẹ là thành viên của Diễn đàn trẻ thơ hô hào nhau mua để nhanh chóng "re 20" - trở về tuổi 20 - như quảng cáo nhiều lắm. Bản thân chị Thủy cũng đã đặt hàng qua trang web cho mình và em gái uống hai hộp và mới thấy… ngủ ngon hơn. Lần theo số điện thoại được giới thiệu trên trang web, phóng viên Hànộimới được tiếp cận với mẫu Shiseido colagen được quảng cáo "bán chạy số 1 của Nhật" đang bán phổ biến trên mạng này.
Cảm nhận đầu tiên là đây không phải hàng được nhập khẩu chính thức vì không có tem của nhà phân phối, không có hướng dẫn tiếng Việt. Mang sản phẩm này đến các đại lý chính thức của mỹ phẩm Shiseido trên địa bàn Hà Nội đều nhận được cái lắc đầu của nhân viên nơi đây. Theo họ, Công ty TNHH Thương mại xây dựng Thủy Lộc, đơn vị cung cấp các sản phẩm của Shiseido, mới chỉ bán miếng mặt nạ chứa colagen và khẳng định chưa biết tới sản phẩm Shiseido colagen này. Như vậy, chẳng thể biết hiệu quả của sản phẩm này thực chất tới đâu, có phải là hàng chính hãng hay không. Đây cũng chỉ là một ví dụ nhỏ về sản phẩm TPCN và phong trào sử dụng TPCN đang ngày càng lan rộng trong cộng đồng người tiêu dùng cả nước.
Thống kê của Bộ Y tế cho thấy, TPCN mới nở rộ ở nước ta vài năm trở lại đây và đang phát triển rất mạnh mẽ. Hiện thị trường đã có hơn 500 doanh nghiệp và cơ sở sản xuất, kinh doanh với hơn 1.500 sản phẩm đang lưu hành.
Chưa quản chặt khâu phân phối
Trong khi đó, ở nước ta, TPCN chưa được quản chặt, kể cả khâu sản xuất, nhập khẩu, phân phối. Trên thị trường, nhiều loại sản phẩm được quảng cáo là TPCN nhưng chủ yếu lại được bán qua kênh chính thức là các hiệu thuốc. Một số loại vitamin bán theo đơn thuốc cũng được xếp vào hạng TPCN và bán công khai ở siêu thị khiến không ít chị em không thể phân biệt. Ngoài ra còn có không ít thượng đế nghe quảng cáo đã mua hàng có tác dụng chống ôxy hóa, kéo dài tuổi thọ… qua nguồn của tiếp viên hàng không, phi công, hàng ăn cắp… với giá rẻ hơn nhưng chất lượng thì… hậu xét. Cục An toàn vệ sinh thực phẩm - Bộ Y tế khuyến cáo, hiện tượng một số nhà phân phối TPCN quảng cáo quá tác dụng, thậm chí quảng cáo "mập mờ", "nước đôi" đang làm cho công tác quản lý chung trở nên phức tạp, không ít người tiêu dùng vỡ mộng sau thời gian sử dụng. Việc các thượng đế chưa hiểu rõ về TPCN, hay do quá tin hoặc lạm dụng khi xem TPCN như thần dược chữa bệnh là sai lầm; TPCN cũng như bất kỳ sản phẩm nào cần phải dùng đúng chỉ định và theo khuyến cáo mới mang lại tác dụng.
Theo Luật gia Bùi Ngọc Thanh, mục đích cuối cùng của Luật An toàn thực phẩm mà Bộ Y tế đang gây dựng là bảo vệ sức khỏe cho người tiêu dùng Việt Nam (với 86 triệu dân). Theo đó, giải quyết vấn đề an toàn thực phẩm không chỉ là chú trọng những thức ăn trên mâm cơm mỗi gia đình mà cần quan tâm đến cả thức uống với sự tham gia chặt chẽ của cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp. Hiện Dự luật An toàn thực phẩm đang thiếu cơ sở xác định tính đúng đắn của thông tin trên nhãn sản phẩm TPCN như tác dụng, khuyến cáo, liều sử dụng, đối tượng sử dụng, chế tài xử phạt mờ nhạt.
Ban soạn thảo cần ngồi lại để lấp lỗ hổng này, trong đó cần chú trọng đặc biệt đến các vấn đề: giảm bớt sự trở ngại trong kinh doanh; tạo khả năng phân phối rộng rãi thức ăn, TPCN an toàn tới thượng đế vì đây là nhu cầu có thực; phân định rõ sản phẩm nào là thuốc, sản phẩm nào là TPCN, sản phẩm nào có tác dụng thật sự với sức khỏe trên cơ sở bằng chứng khoa học rõ ràng; có nội dung giáo dục, tuyên truyền về pháp luật và kiến thức an toàn thực phẩm. Song song với việc xây dựng luật, Bộ Y tế cần khảo sát thực tế giá của TPCN qua việc bán hàng đa cấp. Trên cơ sở đó, đề xuất cơ sở pháp lý để TPCN được bán với giá hợp lý. Với các trang web có nội dung quảng cáo chưa được xác thực, cần mạnh dạn đề xuất phương án loại trừ. Đây cũng là ý kiến của bà Nguyễn Thị Thu Hà - đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai.

3011
19-04-2010, 03:02 PM
Kết quả một công trình nghiên cứu của Mỹ cho biết việc đi ngủ sớm sẽ giúp trẻ ở độ tuổi thiếu niên chống lại chứng trầm cảm và ám ảnh muốn tự tử.
Công trình nghiên cứu được thực hiện dựa trên các trẻ em ở độ tuổi từ 12-18 này cho thấy những trẻ ngủ sau nửa đêm có biểu hiện trầm cảm cao hơn 24% so với những em đi ngủ trước 22 giờ.
Những em ngủ chưa đến năm tiếng mỗi đêm có nguy cơ bị trầm cảm cao hơn 71% so với những em ngủ tám tiếng.
Ước tính có khoảng 80.000 trẻ em và thanh thiếu niên ở Anh bị trầm cảm.
Các nhà nghiên cứu thuộc Trung tâm Y tế của trường Đại học Colombia, New York, đã xem xét các dữ liệu thu thập được từ 15.000 thiếu niên trong thời điểm những năm 1990.
Kết luận đưa ra là cứ 15 trường hợp được nghiên cứu thì có một em bị trầm cảm.
Ngoài ra, tỉ lệ những trẻ có thời gian do bố mẹ quy định là sau nửa đêm thường nghĩ nhiều đến chuyện tự tử cao hơn 20% so với những trẻ đi ngủ trước 22 giờ.
Những trẻ ngủ dưới năm tiếng mỗi đêm có nguy cơ tìm cách tự tử cao hơn 48% so với những trẻ ngủ tám tiếng. Còn những trẻ thường xuyên ngủ đủ thì mức độ bị trầm cảm ít hơn tới 65%.
Chứng trầm cảm và ám ảnh tự tử thường xuất hiện cao hơn trong các bé gái, trẻ vị thành niên và những trẻ ít được sự quan tâm của bố mẹ.
Phần lớn bố mẹ của những trẻ em tham gia chương trình nghiên cứu yêu cầu con đi ngủ muộn nhất là 22 giờ. Một phần tư các trường hợp để con đi ngủ từ lúc nửa đêm hoặc muộn hơn nữa. Tính trung bình, các em ngủ 7 tiếng 53 phút mỗi đêm, ít hơn mức khuyến nghị chín tiếng cho lứa tuổi này.
Tiến sĩ James Gangwisch, người đứng đầu công trình nghiên cứu này nói là cho dù có thể các thanh thiếu niên bị trầm cảm thường khó ngủ hơn, nhưng rõ ràng việc cha mẹ định giờ đi ngủ cho con có liên quan tới chứng trầm cảm.
Rõ ràng, việc thiếu ngủ càng làm cho tình trạng trầm cảm trở nên nghiêm trọng hơn.
Việc thiếu ngủ có thể ảnh hưởng tới phản ứng của não, làm ảnh hưởng tới khả năng phân tích, phán đoán, tập trung và kiểm soát hành vi./.

3011
19-04-2010, 03:05 PM
Khoảng 40% phụ nữ có thể tự sờ và phát hiện một khối u vú bất thường nào đó ở ngực của mình. Theo hiệp hội chống UT thế giới (UICC), khối u ở tuyến vú là một trong bảy triệu chứng báo động ung thư (UT). Trong khi đó, một số chuyên gia UT vú của hội UT Hoa Kỳ cho biết: Có 7 hiểu biết chưa đúng thường gặp ở chị em phụ nữ khi phát hiện có một khối u vú ở ngực của mình.
1. Khối u vú nào cũng là UT?“Điều này là ảo tưởng, nhưng lại là một cách nghĩ khá phổ biến ở phụ nữ”, theo GS. Stephen Sener, nguyên Chủ tịch Hội UT Hoa Kỳ. Mỗi phụ nữ cần cảnh giác khi phát hiện bất kỳ khối u nào ở tuyến vú của mình. Vấn đề cần thiết là phải được xác định rõ: khối u có phải là u ác tính (UT) không? Thực tế, tâm lý và ứng xử của mỗi người có khác nhau tùy trình độ học vấn, văn hóa, điều kiện tài chính, nghề nghiệp, nơi cư trú (sống ở thành phố hoặc miền quê). Phụ nữ có tuổi càng dễ lo lắng mất ăn mất ngủ hơn vì sợ bệnh UT. Một số phụ nữ trẻ thì thờ ơ, chủ quan: bệnh UT vú ít có ở người trẻ tuổi!
Thống kê cho thấy: UT vú có nguy cơ xảy ra ở người có tuổi, phụ nữ tuổi mãn kinh nhiều hơn ở người trẻ. Tỉ lệ mắc bệnh UT vú ở người phụ nữ có tuổi là 1/7 hoặc 1/8 khi phát hiện khối u bất thường ở vú.
Đừng quên một số bệnh lành tính cũng có thể gặp ở tuyến vú phụ nữ như: u nang nước (còn gọi bọc nước), u sợi tuyến (thay đổi sợi bọc tuyến vú), u lao, u mỡ, khối tụ máu, viêm vú, viêm giãn ống dẫn sữa…
Dù sao, cần đến thăm khám để xác định bệnh ở BS chuyên khoa ung bướu (UB).
2. UT vú luôn có biểu hiện khởi đầu là khối u vú?
“Không nhất thiết như thế”, theo BS. Jennifer Eng-Wong, Viện UT Lombardi, Đại học Georgetown, Washington DC, Hoa Kỳ. Lý do: một số bệnh UT vú cũng có triệu chứng khởi đầu khác như: chảy dịch núm vú, ngứa loét núm vú, một chỗ dày, dính da ửng hồng, một hạch nhỏ ở vùng nách… Đôi khi, chẩn đoán UT vú được nhận định thật sớm qua siêu âm và chụp nhũ ảnh tuyến vú khi chị em phụ nữ khám tầm soát UT vú định kỳ.
3. Khối u vú ác tính có biểu hiện khác khối u lành tính
Không phải luôn luôn là như vậy. Có thể nhầm lẫn khi thăm khám u vú ác/lành tính, u nang, u lao… Nhiều người hay nghĩ: khối u UT vú phải cứng, không di động, đau. Thật khó xác định lành/ác tính nếu khối u ở phần sâu, kích thước nhỏ và thành ngực người phụ nữ dày. Việc thăm khám BS chuyên khoa UB và làm các xét nghiệm định bệnh thêm là vô cùng cần thiết.
4. Khối u vú còn nhỏ không cần lo lắng?
Đây cũng là một hiểu biết chưa đúng thường gặp. Thực ra, UT khởi bệnh với khối u có kích thước rất nhỏ (UT giai đoạn tại chỗ, rất sớm). Khối u UT vú phát triển dần theo thời gian từ cỡ hạt đậu, về sau to như quả cam. Kích thước khối u không có ý nghĩa xác định tính chất lành/ác tính để chủ quan bỏ qua, thiếu cảnh giác UT vú. Việc thăm khám lâm sàng khối u kích thước nhỏ có khó khăn, nhưng siêu âm, chụp CT-scan tuyến vú hoặc chụp MRI giúp người thầy thuốc xác định khối u.
5. Sờ chạm khối u vú rồi, nhưng chưa cần khám bác sĩ vội?
Không nên chần chừ, dù rằng khối u vú bạn sờ gặp chỉ bằng đầu ngón tay trỏ. Nên thu xếp và đi khám với BS chuyên khoa UB hoặc bệnh viện có chuyên khoa UB ngay, nhất là khi bạn ở tuổi trung niên hoặc ở thời kỳ mãn kinh (40 - 55 tuổi). Ngoài việc thăm khám lâm sàng, các BS sẽ cho thực hiện thêm siêu âm tuyến vú. Chụp nhũ ảnh tuyến vú khi có tổn thương vú nghi ngờ ác tính. Đôi khi, cần thực hiện thêm kỹ thuật chọc hút khối u và xét nghiệm tế bào (FNA) để xác định tính chất lành/ác tính của khối u vú.
6. Khối u vú của tôi lành tính bởi vì gia đình tôi không có người bị UT vú?
Cần nhớ: chỉ có 5 - 10% người UT vú có yếu tố di truyền gia đình với các gen BRCA1, BRCA2. Đa số phụ nữ bị UT vú không biết rõ căn nguyên gây bệnh. Và phần nhiều có tâm lý chủ quan, vô tư: khối u vú của tôi không phải UT vú, vì gia đình tôi không ai bị bệnh này.
7. Người phụ nữ có tiền sử bị nang nước tuyến vú thì ít bị UT vú?
GS. Susan Love, Trường Đại học UCLA, bang California cho biết: một số phụ nữ đi khám bệnh vì có khối u vú đã quan niệm như vậy. Thực ra, bất kỳ một dấu hiệu bất thường nào xuất hiện thêm ở vú, vùng nách (như u vú, hạch nách), núm vú (chảy dịch, lở loét...)… đều phải được thăm khám, xem xét cẩn thận với BS chuyên khoa để xác định UT vú và điều trị sớm.
Bệnh UT vú nếu được phát hiện chẩn đoán sớm và điều trị đúng mức thì kết quả điều trị rất cao, có thể đạt 80% sống thêm hơn 5 năm.
Mỗi phụ nữ nên tự khám tuyến vú của mình mỗi tuần và nên đi khám tầm soát UT vú mỗi năm ở độ tuổi từ 40 trở lên với BS chuyên khoa UB.

3011
19-04-2010, 03:07 PM
Dùng KS không có chỉ định của bác sĩ dẫn đến một số vi khuẩn còn sống sót tạo ra chất chống lại KS đó, gọi là hiện tượng kháng KS.
KS vào cơ thể tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh, đồng thời cũng tiêu diệt luôn các vi khuẩn có ích ở đường ruột mà các vi khuẩn này giúp cơ thể hấp thu một số vitamin B12, K, PP và thúc đẩy quá trình tiêu hóa ở ruột. Vậy dùng KS đã gây ra loạn khuẩn ruột, rối loạn tiêu hóa và bệnh thiếu sinh tố.
Một số vi khuẩn có nội độc tố, khi dùng KS vi khuẩn chết, độc tố vi khuẩn giải phóng vào máu làm cho bệnh nặng thêm và có thể tử vong. Dùng KS có thể gây ngộ độc cho một vài cơ quan như dùng KS nhóm aminosid có thể gây chóng mặt ù tai hoặc giảm thính lực, độc với thận. Cloroxit gây giảm bạch cầu, KS chống lao độc với gan, quinolone tổn thương gân xương.
Một biến chứng tồi tệ nhất là sốc phản vệ, cấp cứu không kịp thời dẫn đến tử vong.
Ngành nông nghiệp còn dùng KS trong chăn nuôi. Lượng KS tồn dư trong đất, trong nước, trong thực phẩm gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng.
Trải qua gần một thế kỷ, vị thế của KS đã được khẳng định, nhờ đó con người có thể chống lại các bệnh nhiễm khuẩn rất hiệu quả. Vì vậy, con người phải có trách nhiệm giữ gìn loại thuốc kỳ diệu đó bằng cách sử dụng thuốc KS hợp lý, đúng chỉ định. Ở những nơi có điều kiện nên làm KS đồ, người dùng KS phải tuân thủ tuyệt đối sự hướng dẫn của bác sĩ. Nếu không, con người đã vô tình đánh mất thứ “vũ khí” lợi hại để bảo vệ chính mình.

3011
19-04-2010, 03:48 PM
Theo báo cáo từ Viện Pasteur TP. Hồ Chí Minh và Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh, từ ngày 04/4 – 11/4/2010, trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh đã ghi nhận 04 trường hợp tiêu chảy cấp, xét nghiêm dương tính với phẩy khuẩn Tả, gồm 02 trường hợp tại Phường 6, Quận 8; 01 trường hợp tại Phường 14, Quận 8; 01 trường hợp tại Phường 7, Quận 5.
Các trường hợp này đều khởi bệnh với triệu chứng đi ngoài phân lỏng, nhiều lần/ngày, sau đó đến khám và được điều trị tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới TP. Hồ Chí Minh. Hiện tại, các bệnh nhân trên đã được điều trị ổn định, không còn dấu hiệu mất nước.
Kết quả điều tra hiện chưa phát hiện được nguồn lây và các yếu tố dịch tễ liên quan.

3011
19-04-2010, 03:48 PM
Bệnh nhân nam, 50 tuổi, thương trú tại xã Tân Lãng, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh. Ngày 05/4/2010, bệnh nhân xuất hiện đau bụng, đi ngoài phân lỏng nhiều lần. Bệnh nhân đã đến khám tại Bệnh viện huyện Lương Tài sau đó được chuyển lên Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh.
Điều tra dịch tễ cho thấy, trong vòng 05 ngày trước khi khởi phát, bệnh nhân có ăn tiết canh, rau sống, gia đình sử dụng hố xí xả phân trực tiếp xuống ao. Kết quả xét nghiệm mẫu nước ao cạnh nhà bệnh nhân dương tính với phẩy khuẩn Tả.
Hiện tại, bệnh nhân trên đã được điều trị ổn định, số lần tiêu chảy giảm, không còn dấu hiệu mất nước.
Cục Y tế dự phòng và Môi trường đã chỉ đạo các Viện Vệ sinh dịch tễ/Pasteur, Sở Y tế các tỉnh/thành phố tăng cường công tác giám sát, xử lý triệt để các ổ dịch, điều tra xác định nguồn lây và các yếu tố dịch tễ liên quan, tuyên truyền cho người dân các biện pháp chủ động để phòng, chống dịch.

3011
19-04-2010, 03:50 PM
1. Thực hiện vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường, rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh.
2. Đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, thực hiện ăn chín uống sôi, sử dụng nước sạch để phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tiêu hoá, đặc biệt là phòng tránh bệnh Tả.
3. Trong vùng có dịch, các gia đình không nên tổ chức ăn uống đông người.
4. Khi phát hiện trong gia đình có người bị tiêu chảy cấp, phải thông báo ngay cho cơ sở y tế nơi gần nhất để được khám và điều trị kịp thời.

3011
19-04-2010, 03:52 PM
Thuốc thường dùng là baclofen, dantrolen diazepam... Tuy nhiên nhược điểm của phương pháp là, do thuốc không chọn lọc trên các cơ bị liệt ở chi trên, nên có thể giảm lực cơ bình thường (như làm yếu cơ thân mình nên khó ngồi). Dùng lâu ngày sẽ quen thuốc, phải tăng liều dùng, hoặc dẫn tới "lệ thuộc thuốc".
Với thuốc baclofen: lúc đầu được nghiên cứu với mục đích chữa động kinh nhưng không đáp ứng, trái lại có hiệu quả trên các cơ co cứng. Ở trẻ em, liều điều trị cao (so với tuổi) mới hiệu quả, nhưng liều cao lại có các tác dụng phụ nguy hại hơn lợi ích, vì thế không được dùng. Hiện nay baclofen chỉ dùng cho người lớn để thư giãn cơ sau tai biến mạch máu não. Ưu điểm của thuốc không gây nên sự tích lũy thuốc, người bệnh có thể dùng kéo dài mà không sợ bị hội chứng cai khi ngừng thuốc. Tuy nhiên sau thời gian dùng kéo dài, có sự quen thuốc, nên hiệu lực có phần giảm đi.
Baclofen tiêm tủy sống có hiệu lực ổn đinh hơn uống, tuy nhiên kỹ thuật này khó, dễ gây nhiễm khuẩn. Cách uống cũng vẫn còn được dùng khá phổ biến (tuy với một ít người hiệu năng không ổn định).
Ở liều điều trị và thời gian điều trị thích hợp ít khi gây ra hiện tượng lệ thuộc thuốc. Khi dùng liều cao, kéo dài sẽ gây ra các hội chứng: ảo giác (về thính giác, thị giác, xúc giác), hoang tưởng, lo âu, nhầm lẫn, suy giảm thay đổi thất thường; suy nghĩ mất tập trung, mất tính tự chủ, rối loạn tính khí, rối loạn cư xử, điên cuồng; rối loạn giao cảm (tăng thân nhiêt, tim nhanh, rùng mình) đăc biệt gây các phản ứng ngược (tăng trương lực cơ, co cứng cơ phản hồi, co cứng cơ bắp cao độ).
Không dùng baclofen cho người động kinh, suy thận, suy gan, suy hô hấp, có tiền sử loét dạ dày, người có thai cho con bú (do không đầy đủ thông tin). Thuốc ức chế thần kinh trung ương nên không dùng khi lái xe vận hành máy làm việc trên cao hay các công việc mạo hiểm khác.
Để tránh tác dụng phụ cần khám định kỳ để thầy thuốc điều chỉnh liều khi cần thiết.
+ Dantrolen là dẫn chất của phenytoin cũng được nghiên cứu để chữa động kinh (năm 1963), nhưng không có hiệu quả sau đó được được đề nghị làm thuốc thuốc giãn cơ (vào năm 1967).
Dantrolen làm giãn cơ (giảm co cơ) do xóa bỏ kích thích trong các tế bào cơ bắp, có thể là qua tác động lên thụ thể ryanodin, giảm sự tập trung canxi vào nội bào. Do tác động này được dùng trong co cứng cơ sau tai biến mạch máu não.
Ưu điểm của thuốc là không có tác dụng lên dẫn truyền thần kinh, nên không có tác dụng gây tê tại chỗ, không có tác dụng thần kinh - cơ nên không gây liệt cơ như kiểu cura; không tăng thân nhiệt ác tính (thường hay gặp ở các thuốc ức chế thần kinh khác) điều này không chỉ có lợi khi sử dụng trong điều trị co cứng cơ mà còn có ích khi dùng với thuốc gây mê tổng hợp (thuốc gây mê tổng hợp gây hiện tượng tăng thân nhiệt).
Tuy nhiên, thuốc có thể gây rối loạn thị giác, rối loạn tâm thần, trầm cảm, nhức đầu, mất ngủ, căng thẳng, ảo giác, viêm, lên cơn động kinh, hiếm gặp hơn là suy giảm hô hấp, nghẹt thở; gây suy các cảm giác về mùi vị, chán ăn, buồn nôn, tiêu chảy, chuột rút (ở vùng bụng). Ngoài ra có thể tác động gây viêm màng ngoài tim (khi uống), có các phản ứng tim mạch thoáng qua; gây hại tủy xương (hiếm gặp), gây đau cơ lan tỏa, yếu cơ (chỉ kéo dài vài ngày); đau lưng, đái ra tinh thể (hiếm thấy)...
Không được dùng dantrolen cho người suy gan nặng, suy tim mạch nặng, tổn thương và suy hô hấp, co cứng cơ cấp, có thai cho con bú (do không đầy đủ thông tin). Thuốc ức chế thần kinh trung ương, không dùng khi lái xe, vận hành máy móc, làm việc trên cao hay các công việc mạo hiểm khác.

3011
19-04-2010, 03:54 PM
Điều trị viêm amidan cấp trắng (do vi khuẩn) ở trẻ em
Toàn thân: Kháng sinh toàn thân, nhóm thuốc hay sử dụng nhất là b lactam như clamoxyl, augmentine, zinnat, cephalexine... có hoạt tính trên phần lớn các chủng gram dương và gram âm, thuốc có nhiều đặc tính ích lợi và hữu hiệu với tác động diệt khuẩn chống lại nhiều tác nhân gây bệnh thông thường, bao gồm các chủng sản xuất b - lactamase. Tác động diệt khuẩn này đạt được là do ức chế sự tổng hợp màng tế bào bằng cách gắn kết vào các protein đích thiết yếu. Nhóm b lactam thường có hoạt tính với các nhóm vi khuẩn: hiếu khí gram âm: Escherichia coli, Klebsiella sp, Proteus mirabilis, Proteus rettgeri, Haemophilus influenzae... Hiếu khí gram dương: Staphylococcus aureus và Staphelococus epidermidis (bao gồm các chủng có sản xuất pennicilinase trừ các chủng kháng methicilline), Streptococus pyogenes (và những streptococci tán huyết â), Streptococcus pneumoniae... Kỵ khí: cầu khuẩn gram dương và gram âm.
Nhóm thuốc này được hấp thu tốt qua đường tiêu hoá và nhanh chóng bị thủy phân ở niêm mạc ruột và trong máu để phóng thích thuốc vào hệ tuần hoàn. Thuốc hấp thu tốt nhất khi được uống trước hoặc trong bữa ăn. Nồng độ tối đa đạt trong huyết thanh sau 2 - 3 giờ. Thời gian bán huỷ trong huyết thanh từ 1 - 1,5 giờ. Mức độ gắn kết với protein thể hiện khác nhau từ 33-50% tùy theo phương pháp được dùng. Nhóm thuốc này không bị chuyển hoá và được đào thải bởi quá trình lọc ở cầu thận và sự thải ở ống thận.
Thận trọng khi trẻ có biểu hiện dị ứng với bất kỳ thành phần nào của thuốc. Nếu dùng thuốc dài ngày có thể đưa đến hiện tượng tăng sinh các vi khuẩn không nhạy cảm như nấm... lúc này phải ngưng thuốc. Chứng viêm đại tràng giả mạc, do đó phải cân nhắc khi sử dụng nhóm thuốc này ở những trẻ đang bị tiêu chảy.
Nếu nghi ngờ viêm amidan do nguyên nhân liên cầu b tan huyết nhóm A phải điều trị ngay bằng kháng sinh chống liên cầu như pennicilin G và kéo dài quá trình điều trị trong 2 tuần.
- Thuốc hạ sốt, giảm đau: paracetamol là thuốc chủ đạo hay được thầy thuốc sử dụng do tính an toàn cao nếu sử dụng đúng cách và đúng liều. Liều khuyến cáo ở trẻ là 10mg/kg cân nặng/ngày.
- Thuốc giảm xung huyết, giảm phù nề: các men chống viêm a choay, amitase.
- Thuốc giảm ho.
Tại chỗ:
- Súc họng bằng các dung dịch kiềm loãng như bicacbonate, nước muối 0,9%...
- Thuốc kháng viêm, sát khuẩn tại chỗ như betadine, oropivalone, lysopaine...
Với viêm amidan mạn tính thường có chỉ định điều trị bằng điều chỉnh độ pH tại chỗ để chuyển môi trường của lông chuyển niêm mạc họng về môi trường kiềm, làm cho vi khuẩn khó phát triển. Nếu cần thiết có chỉ định cắt amidan.

3011
19-04-2010, 03:56 PM
“Fluoroquinolon- Chọn lựa và sử dụng trong viêm phổi cộng đồng ngày nay” do Hội hô hấp Hà Nội phối hợp với Công ty Bayer Schering Pharma vừa tổ chức tại Hà Nội cho biết: hiện viêm phổi cộng đồng là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong các bệnh nhiễm trùng. Ở nước ta viêm phổi cộng đồng chiếm tới 12% các bệnh về phổi. Việc thất bại trong điều trị viêm phổi cộng đồng thường do chọn lựa sai phác đồ điều trị (dùng kháng sinh quá yếu, hoặc dùng không đúng kháng sinh, hoặc dùng kháng sinh đã bị vi khuẩn kháng thuốc) và bệnh nhân không tuân thủ điều trị... Vì vậy, việc sử dụng kháng sinh sớm, đúng và chọn kháng sinh phù hợp có vai trò quan trọng quyết định hiệu quả chữa bệnh và giảm tỷ lệ kháng thuốc của vi khuẩn.
fluoroquinolon (moxifloxacin, ciprofloxacin, levofloxacin) là thế hệ kháng sinh quinolon mới có phổ kháng khuẩn rộng được dùng trong điều trị viêm phổi mắc phải trong cộng đồng. Tuy nhiên cần coi các kháng sinh này như một “vũ khí chiến lược” chỉ dùng khi mà các kháng sinh khác không đáp ứng.
Tại Hội thảo Thạc sĩ, dược sĩTrần Thị Thu Hằng, chủ nhiệm bộ môn dược lý Đại học y khoa Phạm Ngọc Thạch đã đưa ra các kết quả nghiên cứu về ứng dụng các thông số dược động học và dược lực học để dự đoán hiệu lực diệt khuẩn cũng như cách sử dụng thông số này trong việc định chế độ liều các fluoroquinolon trong điều trị viêm phổi cộng đồng

3011
19-04-2010, 03:57 PM
Viêm khớp dạng thấp, loãng xương hoặc một số bệnh khớp khác gây ra thoái hóa khớp. Biểu hiện các tổ chức sụn bị hư hỏng, các chất bôi trơn khớp sụt giảm và giảm độ nhớt; khớp bị cứng, khô, gây đau đớn, vận động khớp (đi lại, đứng lên, ngồi xuống, lao động) khó khăn, phát ra tiếng kêu răng rắc. Ngoài các thuốc chữa bệnh đặc hiệu, thường dùng nhóm thuốc hỗ trợ chống thoái hóa khớp chung như glucosamin sulfat, hyaluronat...
Glucosamin sulfat
Có thể dùng riêng glucosamin sulfat hoặc kết hợp với chondroitin sulfat và chất khác (như thực phẩm chức năngjointsupportsupreme). Glucosamin sulfat kích thích tế bào sụn ở đầu khớp sản xuất ra proteoglycan (một loại mucopolysacharid), thành phần thiết yếu cấu tạo nền sụn, ức chế các men collagenase, phospholinase (là các men tiêu hủy protein, làm hỏng sụn), cải thiện sự thu nhận canxi vào xương, chốngsự thoái hóa sụn xương; tăng sản xuất và cải thiện độ nhớt hoạt dịch, làm giảm sự khô cứng khớp.
Chondroitin sulfat làm tăng tính vững bền collagen nội bào, duy trì tính co giãn của mô liên kết, giữ vững tính vững chắc và đàn hồi của sụn; kích thích sản xuất proteoglycan, thành phần thiết yếu tạo nên sụn, dẫn các chất dinh dưỡng đến nuôi sụn, chống thoái hóa sụn.
Loại kết hợp cả hai chất trên nhưjoint support supreme sẽ có tác dụng cao do hợp lực hai tác dụng cùng chiều. Ngoài ra, trong joint support supreme còn có thêm các chất khác như: MSM (methyl sulfonyl methane) làm tăng hiệu quả của hai chất trên, đồng thời tăng khả năng cung cấp máu cho các mô, làm giảm co thắt, giảm đau. Các chất khác như các enzym (sufer oxid dimutase, catalase, glutathione peroxidase), betacarotten, Co-Q10, N-acetyl cysteine, diphenylamin... có vai trò chống ôxy hóa, làm chậm quá trình lão hóa, giúp cho xương khớp khỏe mạnh.
Glucosamin, chondroitin vốn là những chất nội sinh, dùnglàm thuốc chiết từ sụn cá mập, nay được chế tạo từ vỏ tôm cua...không bị độc như khi dùng các hóa chất tổng hợp. Thuốc có thể dùng cho cả người bị đái tháo đường (vì không tìm thấy chúng can thiệp vào sự điều hòa tổng hợp hexosamin làm tăng đường máu, với liều 1.000mg/ngày cũng không trực tiếp làm tăng đường máu dù phân tử có gốc glucose).
Để có hiệu quả, cần dùng liều tấn công trước.Trong vòng 1-2 tuần khi hết các triệu chứng trên sẽ dùng liều duy trì ít nhất trong 6 tháng. Uống thuốc sau khi ăn. Sau một đợt điều trị có thể nghỉ một vài tháng, rồi lặp lại đợt khác. Như vậy sẽ tránh tái phát triệu chứng đau, khô cứng khớp.
Hyaluronat sodium(hyazin)
Là chất cao phân tử, chiết xuất từ mào gà trống. Tiêm trực tiếp vào khớplàm giảm đau, giảm viêm nhưkháng viêm không steroid (do làm giảm sinh tổng hợp prostaglandin, bradykinin, chặn tác dụng của cytokin). Quan trọng hơn là chống thoái hóa khớp do ức chế sự phân hủy protein kết khối với các proteoglycan (một chất nền của sụn), sinh tổng hợp tế bào sụn khớp.
Là một chất tự nhiên nên thuốc dung nạp tốt, chỉ gây đau ở chỗ tiêm (30%), mệt mỏi (17%), đỏsưng tại chỗ nhẹ và không kéo dài. Không dùng cho người quá mẫn cảm với thuốc.
Cần tiêm thuốc khi có chỉ định của thầy thuốc, có kỹ thuật viênam hiểu về giải phẫu, tiêm đúng vị trí, tiêm ở cơ sở có đủ điều kiện vô khuẩn để tránh tai biến. Nếu thực hiện ở nơi không đủ điều kiện, không làm đúng kỹ thuật dễ gây tai biến.

3011
19-04-2010, 03:59 PM
Các nguyên nhân thường gặp là viêm mũi, viêm mũi xoang, viêm họng, viêm thanh quản, viêm khí-phế quản, viêm phổi, dị vật đường thở... Nhiều bệnh nhân còn phàn nàn rằng họ bị ho mỗi khi thời tiết thay đổi.
Triệu chứng ho thường xuất hiện vào ngày thứ 3-4 sau khi sốt do hiện tượng tích đọng dịch tiết của niêm mạc đường hô hấp. Việc điều trị thuốc làm long dịch và giảm tiết là cần thiết. Ho khỏi dần sau 2-3 tuần. Một số trường hợp cho dù uống thuốc ho hay không thì bệnh nhân vẫn cứ bớt dần sau 1 tuần.
Đánh giá tình trạng ho là do thầy thuốc khám và có chỉ định điều trị cụ thể cho từng bệnh nhân. Vì đây là một phản xạ bảo vệ phổi để tống đờm rãi và những vật lạ ra khỏi đường thở nên thầy thuốc thường chỉ điều trị nguyên nhân gây ho mà không cắt cơn ho trừ những triệu chứng ho quá nhiều ảnh hưởng nặng nề tới sinh hoạt, sức khỏe của người bị bệnh. Trong nhiều trường hợp, cơn ho không liên quan gì đến bệnh phổi cấp tính, hoặc do môi trường ảnh hưởng và nó tự lành một cách hoàn toàn tự nhiên.
Chú ý khi dùng : Thuốc cắt cơn ho tác động của thuốc ức chế lên thần kinh trung ương làm mất phản xạ ho thường được sử dụng cho những trường hợp ho khan. Thuốc cắt ho tác động lên nguyên nhân gây ho và làm mất đờm.
Thuốc chống dị ứng dùng trong những trường hợp cảm cúm cũng không có lợi vì nó chỉ có tác dụng cắt cơn ho tức thời nhưng do làm quánh đờm và mất phản xạ tống đờm ra khỏi đường thở nên thuốc sẽ làm cho triệu chứng ho nặng lên. Nếu điều trị đúng nguyên nhân, ho có thể chấm dứt mà không cần phải ức chế phản xạ ho bằng những thứ thuốc vừa không có tác dụng mong muốn lại vừa có nhiều phản ứng phụ.
Thuốc ho phối hợp: Thuốc ho có chứa chất pseudoephedrin khi uống có thể làm trẻ bị kích thích, khó ngủ và có phản ứng co cứng bắp thịt. Một số trường hợp quá liều còn dẫn đến vấn đề về tim mạch và các tác dụng phụ nguy hiểm khác. Phenylpropanolamin có trong nhiều loại thuốc ho lại là chất cường giao cảm gián tiếp, nếu dùng dài ngày hoặc lặp lại nhiều lần sẽ gây tăng nhịp tim, tăng huyết áp, kích thích thần kinh, xáo trộn thị giác. Clorpheniramin là thành phần chính của nhóm thuốc chống dị ứng thế hệ 1 khi dùng nên lưu ý cho trẻ nghỉ ở nhà vì tác dụng gây buồn ngủ của nó làm cho trẻ dễ ngã khi đùa nghịch ở trường. Các thuốc ho chứa codein do tính ức chế trung tâm hô hấp, giảm thiểu cường độ và tần số ho nhưng tuyệt đối tránh dùng cho trẻ dưới 15 tuổi nếu hàm lượng codein trong thuốc lên đến 25mg. Xu hướng dùng thuốc ho chứa thành phần này đang giảm dần vì đây là tiền chất để chế ra chất ma tuý nguy hiểm là heroin.
Thuốc long đờm hiện hay được sử dụng là acetylcystein, carbocystein, bromhexin... Một số biệt dược phối hợp thuốc cắt cơn ho với long đờm nhằm giảm mức độ trầm trọng của cơn ho, đồng thời phục hồi khả năng làm sạch tự nhiên của đường hô hấp. Hiện nay nhiều công ty dược phẩm trong nước đã sản xuất được một số thuốc ho với sự phối hợp một số dược liệu trị ho có kết quả rất tốt.
Thuốc ho được bào chế cho trẻ chủ yếu dưới dạng sirô với hương vị nhiều loại trái cây nên trẻ rất thích uống vì thế khi sử dụng phải để thuốc tránh xa tầm với của trẻ, tránh những trường hợp trẻ tự ý dùng dẫn đến biến chứng ngừng hô hấp rồi tử vong.
Thuốc kháng sinh chỉ được sử dụng trong trường hợp ho do nguyên nhân nhiễm khuẩn như viêm họng, viêm amiđan cấp mủ, viêm phế quản, viêm phổi do vi khuẩn...
Ho là một triệu chứng khá phổ biến nhưng cũng không được chủ quan khi sử dụng thuốc nếu không có sự trao đổi và kiểm soát của thầy thuốc để hạn chế tối đa tác dụng có hại của thuốc ho đối với trẻ. Nhiều bố mẹ cho rằng ho không phải là một bệnh nan y nên luôn tự dự trữ thuốc ho trong nhà và sử dụng ngay khi thấy con mình bị ho theo hướng dẫn trên vỏ lọ hoặc theo kinh nghiệm. Đây là một việc làm hết sức nguy hại vì đôi khi không những không dứt cơn ho mà còn làm cho tình trạng bệnh của trẻ nặng thêm. Thậm chí có những trường hợp gây nguy hiêm đến cả tính mạng trẻ.

3011
19-04-2010, 04:00 PM
Phòng xơ hoá động mạch ở người cao tuổi
Xơ hoá động mạch là một bệnh lý nguy hiểm, dẫn đến cơn đau tim và đột quỵ. Bình thường động mạch mềm mại, gấp lại dễ dàng như ống nhựa mềm. Trong thành động mạch có lớp cơ trơn, khi co lại có tác dụng co bóp làm máu lưu thông. Một động mạch bị xơ cứng thì không thể co bóp được. Tuổi cao là một nguyên nhân chính của xơ cứng động mạch. Khi sinh thiết tử thi ở một bệnh viện công lập vào đầu những năm 1900, nhà giải phẫu bệnh học người Đức Monckeberg nhận thấy lớp giữa thành động mạch bị vôi hoá, chính là cơ sở của xơ hoá động mạch,không nhìn thấy được. Xơ hoá động mạch xảy ra do tuổi cao, chứ không liên quan gì đến cholesterol cả. Đó là vôi hoá lớp giữa động mạch. Trong khi đó xơ vữa động mạch lại xảy ra bên trong thành mạch, có thể nhìn thấy được. Vitamin K2 đặc biệt giữ không cho canxi và phospho lắng đọng vào động mạch chủ và làm đảo nghịch hiệu quả của thức ăn không tốt cho tim. Qua nghiên cứu các nhà khoa học cho thấy vitamin K dường nhưcó tác dụng làm dừng quá trình vôi hoá và cứng thành mạch máu.
Bảo vệ tim mạch ở người trẻ tuổiĐột tử do cơn đau tim kết hợp với canxi hoá động mạch, chủ yếu ở người trẻ. Trong nghiên cứu tim mạch mang tên Fragmingham, một nam giới 35 tuổi bị vôi hoá động mạch chủ có nguy cơ tử vong do cơn đau tim cấp tăng gấp 7 lần bình thường. Những người dưới 65 tuổi có nguy cơ tử vong do cơn đau tim gấp 2 lầnnếu bị vôi hoá thành động mạch chủ. Trong một thí nghiệm trên động vật, các nhà nghiên cứu Nhật Bản đã sử dụng chế độ đặc biệt trong 3 tuần để gây nên xơ vữa động mạch, rồi tính lượng canxi lắng đọng trong thành động mạch. Một số động vật được cho ăn thêm 100 mg/kg cân nặng vitamin K. Những con vật không dùng vitamin K thì nồng độ canxi khoảng 17,5 mcg/mg, còn vitamin K giảm trung bình 1 mcg/kg. Các tổn thương van tim bị thoái lui nhanh chóng bởi dùng vitamin K.
Dự phòng các cục máu đông
Khả năng này của vitamin K là do dự phòng lắng đọng tiểu cầu, một quá trình khác với đông máu. Lắng đọng tiểu cầu là do stress ôxy hoá và gốc tự do trong khi đó vitamin K có tác dụng chống ôxy hoá mạnh. Một số nghiên cứu trên động vật bị stress ôxy hoá chỉ ra rằng vitamin K mạnh hơn vitamin E trong việc lọc sạch các gốc tự do, phòng ngừa tổn thương tế bào do bị ôxy hoá bởi các gốc tự do. Hiệu quả đạt tới 80% so với vitamin E trong dự phòng ôxy hoá linoleic acid (một acid béo không no). Một cơ chế thú vị khác là vitamin K cũng đóng vai trò hoạt hoá hai yếu tố đảo ngược sự đông máu là protein S và C trong khi đó sự thiếu hụt protein S và C cũng có thể là nguyên nhân làm máu đông.
Các thuốc kháng vitamin K dùng trong bệnh tim mạch
Bình thường khi bị đứt hay vỡ mạch máu thì xảy ra hiện tượng chảy máu. Khi đó cơ thể huy động hệ thống đông máu để cầm máu. Đó là phản ứng bảo vệ của cơ thể, có sự tham gia của nhiều yếu tố đông máu. Tuy nhiênphần lớn các yếu tố đông máu chỉ có thể hoạt động khi có mặt vitamin K. Vitamin K hoạt hoá các yếu tố đông máu bằng chuyển đổi gốc glutaminic (Glu) thành gốc gamma carboxy glutaminic. Do vậy, vitamin K có vai trò quan trọng trong quá trình đông máu, vì thiếu nó thì máu không đông được. Tuy nhiên một số bệnh lý tim mạch lại thường hay kèm theo tình trạng tăng đông máu, dễ dẫn đến tạo thành các cục máu đông trong lòng mạch, làm tắc mạchmáu và gây ra những hậu quả nghiêm trọng như nhồi máu cơ tim, đột quỵ, tắc mạch phổi, có thể dẫn đến tử vong. Từ đó các nhà nghiên cứu đã cho ra đời các thuốc kháng lại vitamin K như warfarin (coumadine), sintrom,previscan,để làm loãng máu, không cho máu đông và vón cục. Nếu bạn uống thuốc warfarin, một thuốc kháng vitamin K có tác dụng làm loãng máu, bạn cần biết rằng vitamin K có thể làm giảm tác dụng của thuốc. Do vậy, sử dụng vitamin K chống chỉ định ở những người điều trị bằng thuốc chống đông.
Trong quá trình điều trị bằng thuốc kháng vitamin K, không nên ăn các loại thực phẩm chứa nhiều vitamin K. Tuy nhiên nếu bệnh nhân dùng các loại thuốc kháng vitamin Kquá liều lại có thể gây thiếu vitamin K, làm máu loãng quá mức.Thiếu vitamin K thì thời gian đông máu kéo dài, gây ra các vết bầm tím và xuất huyết, như rong kinh, chảy máu lợi, vết thương khó cầm máu. Khi đó lại cần dùng thêm vitamin K để tái phuc hồi quá trình đông máu.

3011
19-04-2010, 04:04 PM
Hẹp eo động mạch chủ là dị tật tim bẩm sinh đứng hàng thứ 3 sau thông liên thất và còn ống động mạch. Vị ttrí hẹp có thể ở trước ống động mạch hoặc sau ống động mạch. Bệnh gặp ở con trai nhiều gấp 3 lần ở con gái. Khoảng 20% trẻ nhỏ nhập viện vì suy tim là do hẹp eo động mạch chủ. Tỉ lệ tìm thấy trên mổ tử thi là 1/4000 (1).
Triệu chứng của bệnh phụ thuộc vào vị trí hẹp. Bệnh nhân hẹp eo động mạch chủ trên ống thường biểu hiện ngay ở giai đoạn sơ sinh hoặc trẻ còn bú bằng chậm phát triển thể chất và suy tim. Bệnh nhân có vị trí hẹp sau ống có biểu hiện lâm sàng đa dạng phụ thuộc vào mức độ hẹp. ở trẻ còn bú, các triệu chứng không đặc hiệu như chậm tăng trưởng, kém ăn, kích thích có thể là hậu quả của hẹp nhẹ. Trái lại, hẹp nặng có thể biểu hiện là một cấp cứu với các hậu quả của tưới máu tổ chức kém dẫn đến suy sụp đa phủ tạng(1). Biểu hiện của sơ sinh hoặc trẻ bé rất nguy kịch. Sau khi sinh, trẻ không có triệu chứng vài ngày hoặc vài tuần nhưng ngay sau khi ống động mạch đóng lại các triệu chứng của suy tuần hoàn xuất hiện nhanh chóng với hạ huyết áp, nhịp nhanh, thở nhanh, không sờ thấy mạch chi dưới. Trong những trường hợp nặng mạch chi trên cũng yếu do suy thất trái. Vô niệu và toan chuyển hoá có thể xuất hiện trong vòng vài giờ (2).
Trên khám lâm sàng, nghe thấy tiếng thổi ở bên ngực trái hoặc sau lưng là dấu hiệu cổ điển. Chênh áp giữa chi trên và chi dưới là dấu hiệu gợi ý đáng quan tâm. Cần phải luôn nghĩ đến hẹp eo động mạch chủ trên trẻ có cao huyết áp(1). Tiếng thổi nghe rõ nhất ở giữa hai xương bả vai (2).
X quang thấy tim hơi to hoặc không có gì đặc biệt. Mặc dù CT, MRI hoặc chụp mạch là các phương pháp chẩn đoán chính xác nhưng đa số các trường hợp có thể được chẩn đoán bằng siêu âm.
Chẩn đoán hẹp eo động mạch chủ không khó tuy nhiên tỉ lệ bỏ sót chẩn đoán khá cao. 3/5 bệnh nhân trong báo cáo này đã chẩn đoán nhầm trước mổ: 2 bệnh nhân được chẩn đoán còn ống động mạch và 1 bệnh nhân chẩn đoán là bệnh cơ tim dãn. Nguyên nhân chẩn đoán sai lầm trước hết là do các thiếu sót trong khám lâm sàng. 4/5 bệnh nhân trong loạt nghiên cứu này không được đo huyết áp và bắt mạch chi dưới. Huyết áp cao chi trên, thấp ở chi dưới và mạch mu hoặc mạch bẹn yếu hoặc không bắt được là các dấu hiệu lâm sàng quan trọng cần phải được tiến hành một cách hệ thống cho các bệnh nhân tim mạch để không bỏ sót hẹp eo động mạch chủ. Tiếng thổi tâm thu trong hẹp eo động mạch chủ cũng có các đặc điểm khác trong còn ống động mạch. Tiếng thổi trong còn ống động mạch nghe rõ ở liên sườn II bên trái, trong khi đó tiếng thổi trong hẹp eo động mạch chủ nghe rõ ở khoang liên sườn III bên trái và phía sau giữa 2 xương bả vai (2).
Siêu âm mặc dù là phương tiện xác định chẩn đoán nhưng trên thực tế vẫn có thể nhầm lẫn. 3/5 bệnh nhân đã có nhầm lẫn trong chẩn đoán siêu âm: 2 trường hợp chẩn đoán còn ống động mạch và 1 trường hợp chẩn đoán là bệnh cơ tim dãn. Hai trường hợp chẩn đoán còn ống động mạch do người làm siêu âm chỉ chú ý đến thương tổn còn ống động mạch kèm theo mà không chú ý đến tổn thương chính là hẹp eo động mạch chủ. Trường hợp chẩn đoán bệnh cơ tim dãn có lẽ do người làm siêu âm chỉ chú ý đến các biểu hiện dãn các buồng tim do hậu quả của hẹp eo động mạch chủ mà không thăm dò kĩ động mạch chủ. Chính vì vậy trước khi khẳng định chẩn đoán bệnh cơ tim dãn cần thăm dò kĩ động mạch chủ để loại trừ hẹp eo động mạch chủ.
Điều trị còn ống động mạch chủ yếu bằng phẫu thuật tuy nhiên trong các trường hợp cấp cứu có thể điều trị tạm thời bằng một số thuốc.
ProstaglandinE có tác dụng duy trì mở ống động mạch ở sơ sinh vì vậy có thể tưới máu chi dưới bằng thất phải và thậm chí nếu ống đóng thì vẫn làm dãn động mạch chủ sau chỗ hẹp, vì vậy vẫn làm tăng luồng máu qua chỗ hẹp.
Phẫu thuật hẹp eo động mạch chủ thành công đầu tiên là do Gross ở Boston và Crafoord ở Nylin năm 1945(2). Các trường hợp hẹp eo động mạch chủ nhẹ có thể thích nghi với cuộc sống không cần phẫu thuật. Do vậy, chỉ định phẫu thuật được dành cho các bệnh nhân có chênh lệch áp lực giữa chi trên và chi dưới >20mmHg khi nghỉ hoặc hẹp >50% đường kính động mạch (1). Cho đến nay có nhiều kỹ thuật mổ nhưng có thể chia 3 loại chính(1, 2, 3, 4, 5, 6):
- Phẫu thuật cắt đoạn hẹp và nối đầu trên với đầu dưới
- Tạo hình động mạch chủ bằng động mạch dưới đòn
- Tạo hình động mạch chủ bằng miếng vá nhân tạo.
Mỗi loại kỹ thuật có chỉ định khác nhau, tuy nhiên phẫu thuật cắt đoạn hẹp và nối đầu trên với đầu dưới là phẫu thuật được ưa thích. Kết quả phẫu thuật rất khích lệ. Trong số 138 bệnh nhân được phẫu thuật tại bệnh viện Boston chỉ có 14 trường hợp tử vong trong nhóm <1 tháng tuổi chủ yếu là có kèm theo các dị tật phối hợp khác. Mặc dù vậy, theo dõi lâu dài cho thấy 12 bệnh nhân (9%) có biểu hiện hẹp lại, chủ yếu là các bệnh nhân đã mổ trong thời kì sơ sinh (2).
Trong những năm gần đây nhiều tác giả đã tiến hành điều trị hẹp eo động mạch chủ bằng nong chỗ hẹp bằng bóng(7, 8, 9). Kinh nghiệm từ Mexico cho thấy trong số 333 bệnh nhân được nong bóng có tỉ lệ thành công đạt đến 93,7%(7).

3011
21-04-2010, 02:55 PM
1. Chụp X. quang:
+ Thường chụp X. quang vùng cổ 2 tư thế (thẳng và nghiêng)không chuẩn bị hoặc có uống cản quang thực quản.
+ Xác định được hình ảnh khối U chèn ép khí quản và thực quản, hình khối U phát triển vào trung thất hoặc có di căn vào phổi (nếu có).
2. Chụp xạ hình tuyến giáp:
+ Thường dùng I131 phóng xạ để chụp tuyến giáp. Hiện nay nhiều nơi còn dùng những kháng thể đơn dòng có gắn đồng vị phóng xạ để chụp xạ hình tuyến giáp nhằm phát hiện Ung thư tuyến giáp và các ổ di căn nhỏ.
+ Trên xạ hình đồ các khối Ung thư tuyến giáp thường có hình “nhân lạnh”. Tuy nhiên hình ảnh này không đặc hiệu cho Ung thư vì các nhân nang tuyến giáp cũng có hình nhân lạnh (có thể kết hợp với chụp Siêu âm để chẩn đoán phân biệt).
3. Siêu âm tuyến giáp:
+ Siêu âm thường được tiến hành sau khi đã khám lâm sàng và chụp xạ hình tuyến giáp.
+ Xác định được U là đặc hay Nang, đo được kích thước, thể tích và trọng lượng của U và tuyến giáp.
4. Chụp cắt lớp vi tính (CT) và chụp cộng hưởng từ (MRI):
+ Xác định được vị trí, hình dạng, kích thước...của khối Ung thư tuyến giáp.
+ Xác định được mức độ chèn đẩy, xâm lấn, tương quan giải phẫu... của khối Ung thư với các cơ quan xung quanh như: khí quản, thực quản, các mạch máu...
5. Chẩn đoán tế bào học:
+ Chẩn đoán tế bào học khối U bằng sinh thiết hút kim nhỏ là một phương pháp chẩn đoán đơn giản, nhanh chóng, rẻ tiền. Với một xét nghiệm viên có kinh nghiệm thì độ chính xác của chẩn đoán có thể đạt tới 90 %.
+ Có thể chọc hút cả khối U và Hạch cổ, chọc nhiều vị trí và chọc nhiều lần để chẩn đoán chính xác hơn.
6. Xét nghiệm giải phẫu bệnh lý:
Đây là xét nghiệm cho giá trị chẩn đoán quyết định Ung thư tuýên giáp cả về bệnh lý và các type mô bệnh học. Tuy nhiên chỉ làm được sau khi đã mổ cắt hoặc sinh thiết khối U.
7. Xét nghiệm tìm chất đánh dấu khối U (Tumour marker):
Các “chất đánh dấu khối U” là các chất đặc biệt do các khối U tiết ra mà bình thường không có trong cơ thể. Khi phát hiện thấy có các chất đó trong máu thì chứng tỏ các khối U đó đang có mặt trong cơ thể.
Trong Ung thư tuyến giáp có thể phát hiện thấy các chất đánh dấu khối U như: HTG (Human Thyroglobulin), CEA (Carcino Embrionic Antigen)...

3011
21-04-2010, 02:56 PM
1. Chẩn đoán xác định: cần dựa vào
+ Nguyên nhân sinh bệnh: có các yếu tố nguy cơ mắc bệnh cao (tuổi, giới, nơi ở, tiền sử. . . ).
+ Tính chất U và những rối loạn cục bộ do U gây ra: U rắn chắc, xâm nhiễm mạnh các cơ quan xung quanh, di động kém, nói khàn, đau tức lan lên vùng góc hàm cùng bên, loét da. . .
+ Kết quả chẩn đoán tế bào học và đặc biệt là xét nghiệm mô bệnh học khối U sau mổ cho giá trị chẩn đoán quyết định.
2. Chẩn đoán phân biệt:
+ Các viêm tuyến giáp không đặc hiệu (Hashimoto, Riedel. . . ): thường xác định được bằng chẩn đoán tế bào học (sinh thiết hút kim nhỏ) và mô học sau mổ.
+ Bướu giáp thể nang biến chứng chảy máu trong nang: bướu giáp to ra nhanh, chắc cứng, đau và các biểu hiện chèn ép các cơ quan vùng cổ. Chọc hút khối U thấy có máu, không thấy tế bào Ung thư.
+ Viêm tuyến giáp đặc hiệu và Apxe tuyến giáp: tuyến giáp hay Bướu giáp to ra nhanh, đau, nóng, đỏ. Chọc hút sinh thiết không thấy có tế bào Ung thư mà là các tế bào viêm mủ. Điều trị kháng sinh có hiệu quả.
3. Chẩn đoán giai đoạn bệnh:
Theo Hiệp hội quốc tế chống ung thư (1994) có thể phân loại Ung thư tuyến giáp dựa theo T (Tumor), N (Node) và M (Metastasis) như sau:
+T: U tuyến giáp nguyên phát
- Tx : U nguyên phát không ghi nhận được.
- T0 : không có U nguyên phát.
- T1: U có đường kính < 1 cm, còn nằm trong giới hạn tuyến giáp.
- T2: U có đường kính 1-4 cm, còn nằm trong giới hạn tuyến giáp.
- T3: U có đường kính > 4 cm nhưng vẫn còn nằm trong giới hạn tuyến giáp.
- T4: U có đường kính bất kỳ nhưng đã xâm lấn ra ngoài vỏ bao tuyến giáp.
+ N: Hạch to vùng cổ
- Nx: hạch vùng cổ không khám thấy.
- N0: không có hạch di căn vùng cổ.
- N1: di căn một hạch cùng bên, kích thước < 3 cm.
- N2: hạch di căn có kích thước 3-6 cm.
. N2a: di căn một hạch cùng bên.
. N2b: di căn nhiều hạch cùng bên.
. N2c: di căn hạch hai bên hoặc bên đối diện.
- N3: hạch di căn có kích thước > 6 cm.
+ M: Di căn xa
- Mx: di căn không phát hiện thấy.
- M0: không có di căn.
- M1: có di căn xa.

3011
25-04-2010, 08:58 PM
Chợ đêm ẩm thực Bến Thành (Q.1) được thành lập cách đây 8 năm (ngày 30.4.2002), nằm ngay trung tâm của TP, được xem là nét đặc trưng về văn hóa của TP, là khu ẩm thực về đêm chính thống và quy mô mà phần lớn du khách nước ngoài đến TP.HCM đều biết, ghé qua đây một lần để thưởng thức các món ăn mang hương vị Việt (với khoảng 60 món ăn của 3 miền), các món của người Hoa. Tại đây phục vụ đa dạng các món ăn dân dã, từ bún bò Huế, bánh canh, bánh cuốn, cơm hến, hải sản… tuy nhiên, điều đáng nói nhất ở khu phố ẩm thực về đêm quy mô của TP này là tình trạng kém vệ sinh. Nếu ai đã một lần ghé vào đây và ngồi gần nơi chế biến các món ăn thì sẽ hết muốn ăn. Bởi, từ khung cảnh chế biến đến đội ngũ nhân viên phục vụ, các phụ gia, phẩm màu, nguyên liệu thức ăn bừa bộn, bầy hầy rất mất vệ sinh.
Chúng tôi đến phố ẩm thực đêm Bến Thành vào một ngày cuối tuần, khách ở nơi đây tấp nập, chỉ còn chiếc bàn trống gần khu nấu nướng. Ngồi ở đây mới thấy cảnh mặt sàn cả một dãy dài của khu chế biến món ăn (do nhiều xe đẩy tay xếp lại) nước nhèm nhẹp đen sì; các dụng cụ, chén dĩa để lăn lóc; các gia vị, tương cà có màu lòe loẹt để trơ ra ngoài không che đậy; nhân viên chạy tới chạy lui bốc hốt trông không vệ sinh chút nào. Nhìn thấy cảnh đó, nên khi phục vụ đem thức ăn ra, chúng tôi không còn cảm thấy ngon lành gì nữa. Hôm sau, trước giờ phố ẩm thực đêm
Bến Thành đi vào hoạt động, chúng tôi ra quan sát, thì biết được, nơi đây, mỗi hộ bán có một xe đẩy. Những chiếc xe này được gửi ở bãi xe của Bệnh viện Sài Gòn và khu vực lân cận. Đến chiều cuối ngày các chủ quán ở phố ẩm thực mới lần lượt chở từng bịch đựng các nguyên liệu chế biến món ăn ra, rồi qua bệnh viện lấy xe về. Vì “dã chiến” như thế nên dụng cụ chế biến thức ăn rất sơ sài và nhếch nhác.

3011
25-04-2010, 09:17 PM
Bướu cổ là chứng rất thường thấy. Phầnlớn trường hợp là bướu của tuyến giáp trạng trước cổ. Tuyến giáp trạng hay thyroid gland là tuyến tiết ra kích thích tố giáp trạng giúp cho sự biến dưỡng của cơ thể và có rất nhiều nhiệm vụ cho sự tăng trưởng và hoạt động của tế bào nên rất quan trọng. Các bệnh gây ra thừa hay thiếu kích thích tố giáp trạng đều có thể gây nguy hiểm và cần phải chữa trị.
Nếu bướu cổ lớn chiếm hết cả tuyến giáp trạng vào có lâu ngày, thường đây là trường hợp bướu lành gọi là goiter. Chứng này hay xảy ra nơi người đàn bà, nhất là hồi nhỏ ăn uống thiếu chất iodine, dễ gây ra bệnh goiter. Thường loại bướu này chỉ gây ra thiếu thẩm mỹ nhưng vì thiếc thích tố giáp trạng vẫn đầy đủ nên không nguy hiểm gì.
Tuy nhiên cần phải thử máu về giáp trạng gọi là thyroid tests để biết chắc chắn. Một số trường hợp chứng bướu cổ goiter làm tiết ra quá nhiều kích thích tố giáp trạng gọi là tocxi goiter sẽ cần phải chữa trị.
Trường hợp mọc bướu trên tuyến giáp trạng trước cổ trong khoảng thời gian ngắn như trong câu hỏi trên, nhất là bưới cổ thành jột cục cứng và lớn nhanh, nuốt nước miếng thấy chạy lên chạy xuống, sẽ cần phải định bệnh để biết là loại bướu lành hay là ung thư. Khoảng một phần ba trường hợp mọc bướu cổ thuộc loại bướu nước thyroid cysts. Bướu cysts là loại bướu lành, định bệnh bằng siêu âm ultrasound hay dùng kim để hút nước ra thử.
Tuy nhiên nếu bướu thuộc loại cứng, không phải bướu nước, nếu lớn nhanh và to hơn 4 cm, sẽ phải nghi là ung thư. Ðiều quan trọng khác nữa là bướu cổ giáp trạng thường xảy ra nơi người đàn bà nhiều hơn đàn ông, nên nếu có bướu cổ loại cứng như nói trên ở người đàn ông, xác xuất là ung thư sẽ còn tăng thêm nữa.
Ðể định bệnh sẽ cần phải đi khám nghiệm, thử máu và thyroid tests, làm siêu âm ultrasound, làm thử nghiệm hấp thu chất phóng xạ iodine. Sau đó sẽ phải xem có tế bào ung thư hay không dưới kính hiển vi bằng cách dùng kim hút ra một miếng nhỏ gọi là needle aspiration biopsy. Nếu có ung thư, cần phải phân biệt thuộc loại ung thư nào.
Có ba loại ung thư bướu cổ chính: loại nhẹ nhất là papillary, loại trung bình gọi là follicular và nguy hiểm nhất là anaplastic. Phần lớn trường hợp (từ 70-90%) là loại ít nguy hiểm papillary.
Nếu ung thư chưa chạy đi đây, laọi này giải phẫu ngay sẽ coi như chữa khỏi hẳn. Tuy niên nếu lớn tuổi nhiều và ung thư đã chạy đi ra các hạch hay nếu chạy khắp cơ thể, sẽ gây ra tử vong sau vài năm dù có giải phẫu cắt bỏ.
Loại ung thư bướu cổ follicular tương đối nguy hiểm hơn tuy nhiên cách chữa trị cũng giống như loại trên là giải phẫu cắt bỏ gần hết tuyến giáp trạng và sau đó dùng chất phóng xạ iodine để diệt các tế bào giáp trạng còn sót lại. Nếu ung thư chưa chạy đi đâu, phần lớn các các trường hợp đều có thể dùng phương pháp chữa phóng xạ iodine này để diệt hết tế bào ung thư nào sót lại hay không để chữa tiếp bằng xạ.
Ðiều đáng chú ý là những bệnh nhân này vì không còn tuyến giáp trạng nên sẽ phải uống thuốc kích thích tố giáp trạng gọi là Synthroid cả đời để bồi bổ lại. Ngoài ra vẫn phải thử máu thường xuyên mỗi 6 tháng để theo dõi.
Loại ung thư nguy hiểm nhất gọi là anaplastic, có thể làm chết trong vòng 6 tháng. Tuy nhiên laọi này tương đối hiếm, hay xảy ra ở người lớn tuổi nhiều và khi định bệnh ra, thường ung thư đã chạy đi khắp cơ thể. Chữa trị bằng hóa học trị liệu chemotherapy hay dùng radiation cũng ít hiệu quả. Một vài loại ung thư giáp trạng hiếm hơn nữa gọi là thyroid lymphoma và medullary throid carcinoma ít thấy và cần phải chữa trị chuyên môn tùytheo loại.
Tóm lại bướu cổ thường hay xảy ra, phần lớn là những trường hợp bướu lành. Tuy nhiên. Nếu có cụ bướu lớn nhanh và có những đặc điểm như đã tả trên, cần phải đi khám bệnh có phải ung thư hay không và chữa trị càng sớm càng tốt, trước khi ung thư có dịp lan tràn đi khắp cơ thể gây nhiều nguy hiểm và tử vong.

3011
25-04-2010, 09:25 PM
1. Đặc điểm chung:
Đại đa số ung thư tuyến giáp đều tiến triển âm thầm, chậm chạp và kéo dài nên bệnh nhân thường không nhận thấy được ngay những thay đổi của toàn thân, vẫn lao động và sinh hoạt bình thường. Cho đến khi xuất hiện những rối loạn tại chỗ do u chèn ép, xâm lấn(gây khó thở và không ăn uống được), khối u hoại tử, bội nhiễm và loét thì tình trạng toàn thân mới sa sút nặng.
2. Các triệu chứng sớm:
+ Khối U: thường do bệnh nhân hay người nhà tình cờ phát hiện ra. U to ra dần, di động theo nhịp nuốt, có thể nằm ở bất cứ vị trí nào của tuyến giáp. Thường chỉ có một nhân đơn độc nhưng cũng có khi có nhiều nhân và nằm ở cả hai thuỳ tuyến giáp. Mật độ thường chắc. Bề mặt thường gồ ghề.
+ Hạch cổ: có khi U chưa sờ thấy được nhưng đã có hạch cổ to. Tuy nhiên, những triệu chứng sớm này khó phân biệt với một bướu lành tính, do đó khi có hạch cổ kèm theo khối U với những tính chất như trên thì luôn phải cảnh giác và tìm các biện pháp chẩn đoán xác định Ung thư sớm.
3. Các triệu chứng muộn:
+ Khối U: có khi khá lớn, lấn ra phía trước, ra sau, lên hai cực trên sát hai góc hàm và xuống dưới vào trong trung thất (khám lâm sàng không sờ thấy được cực dưới của U). Bề mặt thường gồ ghề, mật độ có chỗ cứng chắc có chỗ mềm. Đặc biệt, khối U dính chặt và xâm lấn vào các cơ quan vùng cổ nên ranh giới không rõ và khả năng di động kém. Có khi khối U xâm nhiễm và loét sùi qua da vùng cổ, gây chảy máu và bội nhiễm tại chỗ.
+ Khàn tiếng, khó thở, khó nuốt, nuốt nghẹn. . . ở các mức độ khác nhau do khối U phát triển xâm lấn và chèn ép các cơ quan xung quanh. Các triệu chứng này gặp với tỉ lệ cao và sớm, nhất là ở Ung thư thể không biệt hoá.
+ Cảm giác vướng tức, bó chặt ở vùng cổ: là triệu chứng thường gặp. Có khi cảm giác đau tức tại U lan lên góc hàm, mang tai cùng bên do U chèn ép và kích thích đám rối thần kinh cổ.
+ Hạch to ở vùng cổ (dọc hai bên khí quản, theo các bờ trong, ngoài và sau hai cơ ức đòn chũm, góc hàm, hố thượng đòn. . . ).

3011
25-04-2010, 09:27 PM
1. Chụp X. quang:
+ Thường chụp X. quang vùng cổ 2 tư thế (thẳng và nghiêng)không chuẩn bị hoặc có uống cản quang thực quản.
+ Xác định được hình ảnh khối U chèn ép khí quản và thực quản, hình khối U phát triển vào trung thất hoặc có di căn vào phổi (nếu có).
2. Chụp xạ hình tuyến giáp:
+ Thường dùng I131 phóng xạ để chụp tuyến giáp. Hiện nay nhiều nơi còn dùng những kháng thể đơn dòng có gắn đồng vị phóng xạ để chụp xạ hình tuyến giáp nhằm phát hiện Ung thư tuyến giáp và các ổ di căn nhỏ.
+ Trên xạ hình đồ các khối Ung thư tuyến giáp thường có hình “nhân lạnh”. Tuy nhiên hình ảnh này không đặc hiệu cho Ung thư vì các nhân nang tuyến giáp cũng có hình nhân lạnh (có thể kết hợp với chụp Siêu âm để chẩn đoán phân biệt).
3. Siêu âm tuyến giáp:
+ Siêu âm thường được tiến hành sau khi đã khám lâm sàng và chụp xạ hình tuyến giáp.
+ Xác định được U là đặc hay Nang, đo được kích thước, thể tích và trọng lượng của U và tuyến giáp.
4. Chụp cắt lớp vi tính (CT) và chụp cộng hưởng từ (MRI):
+ Xác định được vị trí, hình dạng, kích thước...của khối Ung thư tuyến giáp.
+ Xác định được mức độ chèn đẩy, xâm lấn, tương quan giải phẫu... của khối Ung thư với các cơ quan xung quanh như: khí quản, thực quản, các mạch máu...
5. Chẩn đoán tế bào học:
+ Chẩn đoán tế bào học khối U bằng sinh thiết hút kim nhỏ là một phương pháp chẩn đoán đơn giản, nhanh chóng, rẻ tiền. Với một xét nghiệm viên có kinh nghiệm thì độ chính xác của chẩn đoán có thể đạt tới 90 %.
+ Có thể chọc hút cả khối U và Hạch cổ, chọc nhiều vị trí và chọc nhiều lần để chẩn đoán chính xác hơn.
6. Xét nghiệm giải phẫu bệnh lý:
Đây là xét nghiệm cho giá trị chẩn đoán quyết định Ung thư tuýên giáp cả về bệnh lý và các type mô bệnh học. Tuy nhiên chỉ làm được sau khi đã mổ cắt hoặc sinh thiết khối U.
7. Xét nghiệm tìm chất đánh dấu khối U (Tumour marker):
Các “chất đánh dấu khối U” là các chất đặc biệt do các khối U tiết ra mà bình thường không có trong cơ thể. Khi phát hiện thấy có các chất đó trong máu thì chứng tỏ các khối U đó đang có mặt trong cơ thể.
Trong Ung thư tuyến giáp có thể phát hiện thấy các chất đánh dấu khối U như: HTG (Human Thyroglobulin), CEA (Carcino Embrionic Antigen)...

3011
25-04-2010, 09:29 PM
Theo Hiệp hội quốc tế chống ung thư (1994) có thể phân loại Ung thư tuyến giáp dựa theo T (Tumor), N (Node) và M (Metastasis) như sau:
+T: U tuyến giáp nguyên phát
- Tx : U nguyên phát không ghi nhận được.
- T0 : không có U nguyên phát.
- T1: U có đường kính < 1 cm, còn nằm trong giới hạn tuyến giáp.
- T2: U có đường kính 1-4 cm, còn nằm trong giới hạn tuyến giáp.
- T3: U có đường kính > 4 cm nhưng vẫn còn nằm trong giới hạn tuyến giáp.
- T4: U có đường kính bất kỳ nhưng đã xâm lấn ra ngoài vỏ bao tuyến giáp.
+ N: Hạch to vùng cổ
- Nx: hạch vùng cổ không khám thấy.
- N0: không có hạch di căn vùng cổ.
- N1: di căn một hạch cùng bên, kích thước < 3 cm.
- N2: hạch di căn có kích thước 3-6 cm.
. N2a: di căn một hạch cùng bên.
. N2b: di căn nhiều hạch cùng bên.
. N2c: di căn hạch hai bên hoặc bên đối diện.
- N3: hạch di căn có kích thước > 6 cm.
+ M: Di căn xa
- Mx: di căn không phát hiện thấy.
- M0: không có di căn.
- M1: có di căn xa.

3011
26-04-2010, 02:25 PM
Nhiều nghiên cứu cho thấy một khi bác sĩ đưa tay nhận tiền của công ty dược thì cũng là lúc sự khách quan và phán xét lâm sàng của họ bị đánh mất. Họ có thể giới thiệu những loại thuốc không cần thiết cho bệnh nhân (tức sai chỉ định); họ cũng có thể chọn những thuốc đắt tiền nhất để làm hài lòng công ty dược mà họ nhận tiền hoa hồng. Đã có ước tính rằng gần 50% thuốc ở các nước đang phát triển hoặc được ra toa một cách không phù hợp (sai chỉ định), hoặc không cần thiết. Ở Việt Nam chưa có những nghiên cứu như thế nên khó biết tình hình ra sao. Nhưng kinh nghiệm từ các nước trong vùng và những gì báo chí Việt Nam nêu thời gian qua cho thấy tình trạng bác sĩ chịu sự chi phối của kỹ nghệ dược là rất lớn, nhất là trong điều kiện thu nhập của phần đông bác sĩ Việt Nam còn hạn chế. Cố nhiên, biện minh vì thu nhập thấp nên phải nhận hoa hồng không thể thuyết phục ai. Những người nhận hoa hồng từ công ty dược có thu nhập rất cao, cao hơn các bác sĩ ở các nước phương Tây. Nhưng các bác sĩ nhận hoa hồng cũng chẳng phạm pháp, vì họ làm trong thỏa thuận giữa kỹ nghệ dược và cá nhân họ là người tiêu dùng trung gian. Vấn đề là y đức. Hải Thượng Lãn Ông từng nói rằng nghề thầy thuốc là một “đạo” và “nhân thuật”: đạo làm thuốc và nhân thuật cứu người. Ông còn cảnh báo: “Đem nhân thuật làm chước dối lừa, đem lòng nhân đổi ra lòng buôn bán. Như thế thì người sống trách móc, người chết oán hờn không thể tha thứ được...”. Do đó, nhận hoa hồng không phạm pháp nhưng vi phạm y đức. Y đức không phải là luật pháp, cho nên vấn đề là lương tâm và xa hơn là văn hóa sống.
Khoảng hai năm trước, một cuốn sách về y đức xuất bản ở Trung Quốc làm rúng động lương tâm dư luận. Trong sách Nỗi đau của Trung Quốc, tác giả là một đại biểu quốc hội điều tra và mổ xẻ những vi phạm y đức tràn lan trong giới y bác sĩ Trung Quốc dưới hình thức lừa đảo, bòn rút tiền bệnh nhân, liên minh ma quỷ để khai thác bệnh nhân, điều trị “quá độ” (tức điều trị không cần thiết), hãm hại bệnh nhân... Trớ trêu thay, bệnh nhân chẳng hay biết, chỉ nằm nhà chờ chết và tự trách mình nghèo! Nước ta cũng không ít trường hợp tương tự, nhưng có lẽ chúng ta chưa đủ can đảm để vạch ra những mảng tối đang hoành hành xã hội hiện nay.
Chuẩn mực y đức không phải chỉ là những quy ước đạo đức dành cho người thầy thuốc, mà còn ảnh hưởng đến bệnh nhân. Người hàng xóm của tôi lẽ ra còn sống và cống hiến cho xã hội, nếu người bác sĩ ra toa thuốc 650.000 đồng đó có tình thương đồng loại và cảm thấy áy náy khi biết thu nhập của bà chỉ hai, ba chục ngàn đồng một ngày. Rất tiếc là trong buổi giao thời của kinh tế thị trường, đồng tiền đã làm lu mờ phán xét đạo đức của một số người và gây ra nhiều cái chết tức tưởi.

3011
26-04-2010, 02:26 PM
Theo một điều tra khảo sát xã hội của TS Trần Hữu Quang vào năm ngoái thì người nghèo thường mắc bệnh nặng và chi phí y tế là một gánh nặng kinh tế. Theo điều tra này, 47% gia đình có người bị bệnh nặng là thuộc nhóm có thu nhập thấp. Chi phí y tế của những gia đình nghèo lên đến gần 9% chi tiêu hằng ngày. Trong nhóm người nghèo, chi phí điều trị trung bình mỗi năm là 2 triệu đồng, với thu nhập 40.000 đồng/ngày, chi phí y tế lên đến gần 14% tổng thu nhập. Đó là một khoản rất lớn.
Có lẽ ít bệnh nhân biết được tại sao chi phí điều trị và nhất là giá thuốc lại quá cao như thế. Mấy tuần qua, báo chí cung cấp một phần câu trả lời: đó là tiền hoa hồng bác sĩ nhận từ các công ty thuốc và nâng cao giá bán cho bệnh nhân. Thật ra, ai cũng biết đằng sau nhiều toa thuốc (không phải tất cả) là những khoản hoa hồng mà bác sĩ và công ty dược đã thỏa thuận, nhưng khó mà tưởng tượng nổi tiền hoa hồng lên đến hàng trăm triệu đồng mỗi tháng.
Kỹ nghệ dược là một kỹ nghệ khá đặc biệt, nhất là khi nhìn qua lăng kính tiếp thị. Không như các loại hàng hóa khác được bán trực tiếp cho người tiêu dùng, dược phẩm phải qua một khách hàng trung gian: bác sĩ. Do đó, không ngạc nhiên khi thấy các công ty dược ra sức gây tác động đến giới bác sĩ, hơn là đến người tiêu thụ cuối cùng (bệnh nhân). Một nghiên cứu ở Malaysia cho thấy trong thời gian 5 tuần, một bác sĩ có đến 17 giờ tiếp xúc với đại diện của 25 công ty dược (trong số này có 16 công ty đa quốc gia hay còn gọi là “đại gia” trong ngành dược quốc tế)!
Cách gây ảnh hưởng của kỹ nghệ dược cũng cực kỳ... phong phú và tùy thuộc vào cấp bậc, vai vế của bác sĩ trong chuyên ngành, từ quà cáp, tổ chức đi du lịch nước ngoài đến nhận tiền hoa hồng trực tiếp. Ở Mỹ, kết quả nghiên cứu cho thấy có đến 95% bác sĩ cho biết họ có ít nhất một mối quan hệ với kỹ nghệ dược như mô tả trên. Chỉ có 5% là hoàn toàn độc lập. Tuy nhiên, con số 5% này vẫn được xem là quá cao, vì trong thực tế có lẽ 100% bác sĩ đều có ít nhất một mối tương tác với kỹ nghệ dược.
Theo một nghiên cứu vừa công bố trên tập san PLoS Medicine, mỗi năm các công ty dược dùng trên 50 tỉ USD cho hoạt động tiếp thị, 70% trong số này nhắm vào các bác sĩ. Câu hỏi đặt ra là ai sẽ trả cho những chi phí này? Tất nhiên, các công ty dược không phải là những nhà từ thiện, nhiệm vụ của họ là kinh doanh lấy lời và chiếm thị trường. Chính bệnh nhân là những người phải chi trả khoản chi phí khổng lồ này, và bác sĩ là người đóng vai trò làm tăng giá thuốc.

3011
26-04-2010, 03:02 PM
Với sự phát triển của khoa học, hiện nay có rất nhiều phương pháp xét nghiệm giúp xác định sự hiện diện của hòn sỏi, vị trí của nó cũng như các tác hại của nó đối với hệ niệu.
Tùy theo mức độ nghi ngờ và mức độ nặng nhẹ của bệnh, thầy thuốc có thể chỉ định một hay nhiều phương pháp sau để chẩn đoán:
- Siêu âm còn được gọi là âm vang ký, đây là một phương pháp ứng dụng sự phản hồi của sóng âm thanh trên vật chất để vẽ nên hình ảnh của sự vật. Trên màn ảnh hòn sỏi sẽ hiện ra như một vật cản âm (bóng sáng) tiếp theo đó là một vệt đen gọi là bóng lưng. Vì siêu âm chỉ cho hình ảnh của một vạch trên thiết diện của hòn sỏi nên ít khi cho được những thông tin đầy đủ của sỏi. Mặt khác, có một số vật thể khác cũng cho hình ảnh giống sỏi như một đám sỏi vụn hoặc những cặn của nước tiểu…. Siêu âm lại tùy thuộc vào khả năng chuyên môn của người đọc, tùy vị trí hòn sỏi có thể dễ tìm thấy bằng sóng âm hay không. Do đó thầy thuốc thường ít khi điều trị sỏi dựa trên siêu âm hoàn toàn mà phải cần thêm phim X quang để có thể xác định rõ ràng hơn.
Có thể ví dụ như sau: X quang như là một bức ảnh chụp toàn diện, sau khi chụp xong, bức ảnh có thể đưa cho nhiều người xem, nghiên cứu, lúc này nhìn không ra thì lúc khác nhìn ra; còn siêu âm như là một người cầm ống nhòm quan sát, nhìn thấy gì thì mô tả cho người khác nghe, thấy được nhiều hay ít tùy vào khả năng của người cầm ống nhòm. Tuy nhiên, siêu âm là một xét nghiệm rẻ tiền, ít có hại, có thể làm liên tiếp nhiều lần nên cũng có mặt thuận lợi trong việc phát hiện và nhất là theo dõi sỏi tái phát. Có thể dùng siêu âm để theo dõi các trường hợp nghi ngờ, nếu siêu âm cho thấy triệu chứng sỏi thì sẽ áp dụng các phương pháp khác. Nên nhớ rằng với siêu âm, người ta chỉ chẩn đoán được chính xác sỏi với tỷ lệ 30%, và chủ yếu là trên những hòn sỏi to.
- X quang: Đây là phương pháp chẩn đoán đã làm thay đổi bộ mặt cuả Niệu khoa vì nó giúp cho các bác sĩ nhìn được hòn sỏi xuyên qua cơ thể. X quang là phương tiện chủ yếu cho các nhà Niệu khoa để chẩn đoán và điều trị sỏi.
+ Phim không chuẩn bịLà phim chụp bộ niệu không cản quang, gọi là không chuẩn bị chỉ là về phương diện thuốc, bệnh nhân vẫn phải chuẩn bị về phương diện ruột. Phải súc ruột cho thật sạch để hơi và chất thải trong ruột không làm che lấp các chi tiết cần phát hiện. Hiện nay có một số phòng chụp X quang tư nhân không chuẩn bị ruột kỹ, bệnh nhân thì rất thích vì không phải súc ruột (nhất là phụ nữ ) nhưng không biết là mình vừa mất tiền, vừa phải chịu tia phóng xạ mà không được chăm sóc chu đáo. Nếu không rửa ruột, bệnh nhân cần dùng thuốc xổ liều mạnh để tống chất bả ra khỏi ruột.
Trên X quang, hòn sỏi có thể xuất hiện như sau:
- Sỏi Phosphate Calcium: Một khối trắng bờ tròn đều, đôi khi có những vòng tròn đồng tâm qua quá trình tích tụ.
- Sỏi Magnesium ammonium phosphate: Thường xuất hiện dưới dạng sỏi nhiều nhánh như củ gừng hoặc san hô nên còn được gọi là sỏi san hô. Sỏi này cản quang mạnh, xuất hiện màu trắng đục trên phim, nếu có phối hợp với Calcium phosphate hoặc Oxalate thì có thể xuất hiện các vòng đồng tâm.
-Sỏi Calcium Oxalate: Thường là các hòn sỏi nhỏ, tròn , trên X quang thấy có nhiều gai hướng tâm.
- Sỏi Cysteine: Là sỏi kém cản quang, trêm phim X quang có thể thấy dạng trắng mờ, nhưng đặc điểm là bề mặt rất trơn láng, tròn đều.
- Sỏi Urate: Sỏi rất kém cản quang, ít khi phim bộ niệu không chuẩn bị phát hiện được loại sỏi này.
+X quang thận thuốc ( còn được gọi là U.I.V: Niệu ký nội tĩnh mmạch)
Người ta sẽ chích một liều Iode vào tĩnh mạch bệnh nhân, tuỳ tình trạng chức năng thận và cân nặng của người bệnh mà liều này nhiều hay ít. Chất Iode sẽ được hấp thụ ở thận và phóng thích ra nước tiểu, cho nên sẽ cho hình ảnh của thận niệu quản bọng đái là những nơi chứa nước tiểu. Nếu một hòn sỏi không cản quang ( không thấy được trên phim bộ niệu không chuẩn bị) thì nay nó sẽ choán một chỗ trong đường tiểu. Chúng ta sẽ thấy một vùng không có thuốc xuất hiện đúng với hình ảnh của hòn sỏi.
Ngoài ra, U.I.V. còn cho ta biết tình trạng ứ nước do sỏi đem lại, tình trạng thận có còn khả năng giữ đươc hay không để quyết định phương pháp mổ, tình trạng thận sau khi mổ có còn sử dụng được hay không? Trên nguyên tắc, một bệnh nhân trước khi mổ thận cần được chụp X quang bộ niệu và U.I.V. là tối thiểu, chưa kể đến một vài loại phim đặc biệt khác trong một vài tình huống cần phải thực hiện thêm.
+ X quang điện toán cắt lớp, còn dược gọi là CT
Là phương tiện đắt tiền, nhưng có giá trị cao, nhất là nếu chụp CT xoắn ốc. Ít khi thầy thuốc chỉ định chụp CT để chẩn đoán sỏi mà thường để xác định thêm những tình huống khác kết hợp với sỏi.
- Nội soi
Là phương pháp đưa dụng cụ quang học vào bọng đái, niệu quản và đôi khi lên đến thận để quan sát các hòn sỏi, các tổn thương ở bộ niệu. Trước thập niên 60, các dụng cụ này thường được chiếu sáng bằng bóng đèn. Qua một ống nội soi có kích thước khoảng bằng chiếc đũa ăn cơm, người ta trang bị một hệ thống kính phóng đại, một đường dẫn điện vào cho một bóng đèn đặt ở đầu ống, một đường cho nước vào, một đường cho nước ra, và một hay hai khe để đưa các dụng cụ vào thao tác. Ống sẽ được đưa vào bọng đái qua ngã niệu đạo.
Vì niêm mạc niệu đạo rất nhạy cảm nên người ta phải gây tê tại chỗ bằng chất bôi trơn có pha thuốc tê Lidocaine. Ở những cá nhân rất nhạy cảm hoặc trẻ em, đôi khi phải sử dụng thuốc mê để dễ dàng thao tác. Vì đây là một loại xét nghiệm gây đau cho nên chỉ áp dụng khi không thể tránh được.
Ngày nay, ống nội soi được cải tiến nhiều, thay vào dây dẫn điện và bóng đèn trong bọng đái có thể cháy bóng, chập mạch, người ta dùng một nguồn sáng ở ngoài và dẫn ánh sáng vào trong qua một hệ thống cáp quang học. Kỹ thuật tiến bộ hơn, người ta có thể dùng các loại ống soi mềm thay vì ống soi cứng. Trước kia, với hệ thống cáp quang với các sợi thủy tinh có thiết diện tròn, hiệu suất truyền ánh sáng kém hơn nên phải chế tạo các dụng cụ to hơn; người ta đã thay các sợi thủy tinh bằng loại có thiết diện lục lăng để tiết kiệm tối đa khoảng trống và có thể thu nhỏ dụng cụ. Với hệ thống kính lúp cũ, sự khúc xạ ánh sáng được hình thành do hiệu ứng mặt cong của kính nên có giới hạn về kích thước, ngày nay đã có loại kính lúp tạo khúc xạ ánh sáng bằng cách thay đổi mật độ của kính, hiệu quả là với một hình lăng trụ, ánh sáng đi qua có hiệu quả như một kính lúp.

3011
26-04-2010, 03:04 PM
Thoát vị đĩa đệm cột sống xảy ra khi nhân keo của đĩa đệm thoát ra ngoài và chèn ép vào rễ thần kinh, tủy sống. Những chấn thương như ngã ngồi, trượt chân, cố sức nâng vật nặng... có thể gây bệnh.
Các triệu chứng của bệnh thoát vị đĩa đệm cột sống có thể xuất hiện ngay sau chấn thương hoặc vài tháng, thậm chí vài năm sau đó. Vì thế, phương pháp xác định bệnh hiệu quả nhất là chụp cộng hưởng từ MRI. Nếu chụp phim sẽ khó phát hiện do nhân keo đĩa đệm không cản quang, hoặc chỉ nhận ra qua những dấu hiệu như cột sống lệch trục, hẹp khoảng liên đốt sống. Lưu ý là có thể nhầm thoát vị đĩa đệm với bệnh thoái hóa đốt sống, viêm cột sống dính khớp, lao cột sống hay u rễ thần kinh.
Một số triệu chứng điển hình của thoát vị đĩa đệm cột sống:
- Đau lưng: cảm giác đau giảm khi nằm nghiêng và tăng khi ho hoặc đại tiện.
- Đau khi gõ hoặc ấn vào khoảng liên đốt.
- Đau tự nhiên vùng xung quanh gai sau. Nếu bệnh nặng có thể cảm giác đau lan xuống vùng mông và đùi.
- Hạn chế cử động cột sống: không còn khả năng ưỡn của thắt lưng.
- Không cúi được sâu: khoảng cách giữa ngón tay và mặt đất khi cúi người thả lỏng tay lớn hơn 50 cm.
- Giảm vận động chân và giảm cảm giác vùng da chân. Trường hợp nặng có thể bị liệt.
Cách điều trị:- Áp dụng xen kẽ việc nằm nghỉ trên nền cứng, bó bột, làm nóng tại chỗ bằng chiếu tia, xoa bóp.
- Dùng thuốc giảm đau hoặc tiêm corticoid tại chỗ.
- Dùng phương pháp kéo nắn cột sống giúp đẩy đĩa đệm về vị trí cũ.
- Sau giai đoạn cấp, cần tránh những động tác quá sức như mang vác nặng, cúi gập người…
- Khi có rối loạn vận động trầm trọng hoặc bị ép tủy, đã điều trị phục hồi 3 tháng nhưng không có kết quả, cần cắt là cột sống, cắt thoát vị, nạo đĩa đệm…
- Làm giảm áp đĩa đệm bằng laser: dùng kim chọc vào nhân keo dưới sự hướng dẫn của X-quang tăng sáng 3 chiều. Dây dẫn của máy phát laser được luồn qua kim tới nhân. Khi phát tia, nhân keo bị tiêu hủy một phần nên co lại, làm giảm áp lực đè lên các dây thần kinh. Kỹ thuật này có thể áp dụng cho hầu hết các thoát vị đĩa đệm, trừ những trường hợp quá nặng như khối thoát vị quá lớn, trượt đốt sống...

3011
01-05-2010, 11:58 PM
Trong các biến chứng của bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) thì tai biến mạch máu não là một biến chứng nguy hiểm, đe doạ đến tính mạng của người bệnh.
Trong các biến chứng của bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) thì tai biến mạch máu não là một biến chứng nguy hiểm, đe doạ đến tính mạng của người bệnh. Giúp người bệnh kiểm soát bệnh và đề phòng những tai biến có thể xảy ra, chúng tôi xin mời bạn đọc tham khảo bài viết về vấn đề này của GS.TS. Trần Đức Thọ, Chủ tịch Hội Nội tiết - đái tháo đường Việt Nam.
Tai biến mạch máu não (TBMMN) là sự rối loạn tuần hoàn não dưới dạng cấp tính, bệnh xuất hiện đột ngột trong vài giây hoặc có thể xuất hiện nhanh trong vài giờ với các triệu chứng như: đau đầu dữ dội, nôn, buồn nôn, liệt chi, mất ngôn ngữ, mất phản xạ, xuất huyết não... Người bệnh có thể bị tử vong nhanh chóng nếu không được cấp cứu kịp thời, nếu qua khỏi thì cũng giảm tuổi thọ nghiêm trọng và suy giảm nhiều chức năng của cơ thể, thậm chí tàn phế. Đối với bệnh nhân ĐTĐ, nhiều trường hợp tử vong do nhồi máu não, đặc biệt là nhồi máu ổ khuyết.
Tăng huyết áp (THA) là biểu hiện thường gặp ở bệnh nhân ĐTĐ. THA kinh diễn là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến TBMMN. Tỷ lệ THA ở bệnh nhân ĐTĐ cao gấp 1,5 - 3 lần so với nhóm không bị ĐTĐ. Đối với ĐTĐ týp 1, THA xảy ra sau nhiều năm. Đối với bệnh nhân ĐTĐ týp 2, THA là vấn đề thường gặp, sẽ nghiêm trọng hơn về huyết áp nếu người bệnh có biến chứng ở thận.
ĐTĐ làm cho quá trình xơ vữa động mạch diễn ra nhanh hơn ở người bình thường, do vậy hiện tượng những cục huyết khối hình thành trong lòng động mạch hay các mảng xơ vữa làm bít tắc lòng động mạch là nguyên nhân làm cho máu, ôxy không đến nuôi dưỡng được vùng mạch máu đó cung cấp. Đây không chỉ là lý do dẫn đến tắc mạch máu não, phình vỡ mạch máu não mà còn gây ra đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim...
Hầu hết các bệnh nhân ĐTĐ thường bị nhiễm mỡ máu, có lượng cholesterol trong máu vượt quá khả năng cho phép, nhất là cholesterol có hại làm cho quá trình xơ vữa động mạch càng trở nên trầm trọng hơn, nguy cơ TBMMN càng cao. Điều quan trọng là các yếu tố này thường xuất hiện đồng thời ở bệnh nhân ĐTĐ, do vậy nguy cơ tai biến là rất có thể nếu không được kiểm soát và điều trị bệnh đúng đắn.

3011
01-05-2010, 11:59 PM
Dựa trên các yếu tố nguy cơ như thừa cân, béo phì, có cuộc sống tĩnh tại, ít vận động, hút thuốc lá, gia đình có người bị ĐTĐ, phụ nữ sinh con lớn hơn 4kg... cần phải có kiểm tra đường huyết để xác định sớm bệnh. Khi đã có những biểu hiện bệnh như sút cân nhanh chóng, khát nước nhiều, ăn nhiều, tiểu nhiều, mệt mỏi, rụng tóc, rối loạn kinh nguyệt, chóng mặt, mất ngủ... cần phải đi khám bệnh ngay. Tại các cơ sở y tế, bác sĩ sẽ tiến hành đo nồng độ glucose huyết tương ngẫu nhiên hoặc nồng độ glucose huyết tương lúc đói. Kết quả này được khẳng định lại bằng xét nghiệm lần thứ 2.
Xác định TBMMN dựa trên những biểu hiện lâm sàng của bệnh và trên hình ảnh chụp CT não có tổn thương hoặc nhồi máu ổ khuyết. Cũng cần phần biệt bệnh nhân TBMMN não do các nguyên nhân khác như u não, bệnh van tim, bệnh máu, do dùng thuốc chống đông, phẫu thuật tạo hình, dị dạng mạch máu não...

3011
02-05-2010, 12:04 AM
Thực phẩm rau đậu có thể ngăn ngừa hữu hiệu bệnh tật, đặc biệt là các bệnh thuộc về tim mạch, ung thư, và tiểu đường, đồng thời làm giảm tiến trình lão hóa con người. Ngoài ra, thực phẩm rau đậu còn có thể chữa trị được bệnh tiểu đường loại II. Trong chương này chúng tôi trình bày chi tiết về nguyên nhân và phương pháp chữa trị căn bệnh này bằng chế độ dinh dưỡng với thực phẩm rau đậu.
Được biết, bệnh tiểu đường xảy ra khi cơ thể con người không sản xuất hay sản xuất không đủ chất insulin, hoặc sản xuất đủ nhưng không hoạt động bình thường. Chất insulin là một loại kích thích tố (hormone) có nhiệm vụ hộ tống chất đường đi vào bên trong các tế bào. Khi vắng mặt chất này, chất đường không thể vào bên trong các tế bào, và vì thế đường phải được thải hồi ra ngoài qua đường tiểu, khi ấy con người cảm thấy mệt mỏi, khát nước và giảm cân.
Có hai loại bệnh tiểu đường. Tiểu đường loại I là loại phụ thuộc insulin và tiểu đường loại II không phụ thuộc insulin. Tiểu đường loại I thuờng khởi phát ở trẻ em và người lớn trẻ tuổi, nhưng cũng có thể khởi phát ở bất kỳ tuổi nào, loại này do cơ thể không thể tự sản xuất, hay sản xuất rất ít insulin; còn loại II thường chiếm đa số các bệnh nhân tiểu đường, do cơ thể có đủ khả năng sản xuất chất insulin, nhưng insulin lại không hoạt động bình thường. Bệnh này thường xảy đến với những người mập trên 30 tuổi, và phần lớn gây nên bởi ăn uống và cách sống, nhưng cũng có thể do di truyền.
Bệnh tiểu đường loại I cần phải chích insulin vào cơ thể để điều hòa lượng đường (glucose) trong máu, ngăn ngừa tình trạng nhiễm ketoacid do tiểu đường và duy trì sự sống.
Bệnh tiểu đường loại II có thể chữa trị một cách hữu hiệu bằng cách ăn thực phẩm rau đậu, đặc biệt ăn những loại thực phẩm rau đậu ít chất béo, có chỉ số đường thấp, đồng thời luyện tập thể dục đều đặn.
Theo bác sĩ Monroe Rosenthal, M.D., Giám đốc Y Khoa chương trình Pritikin Program ở Santa Monica bang California Hoa Kỳ, "chất béo là nguyên nhân chánh của bệnh tiểu đường, càng nhiều chất béo trong chế độ dinh dưỡng càng làm khó khăn cho insulin đưa đường vào trong tế bào. Insulin hoạt động dễ dàng trong điều kiện ít chất béo."
Các cuộc thử nghiệm điều trị bệnh tiểu đường bằng chế độ thực phẩm rau đậu ít chất béo của bác sĩ Monroe Rosenthal M.D., bác sĩ James W. Anderson, M.D., và bác sĩ RJ. Barnard, M.D., đều cho kết quả tốt. Một nghiên cứu cho thấy rằng 21 bệnh nhân trong số 23 bệnh nhân loại II và 13 trong số 17 bệnh nhân loại I đã không cần dùng thuốc để điều hòa lượng đường trong máu sau 26 ngày thực hiện chương trình ăn uống đặc biệt. Đặc điểm của phương pháp trị liệu này là tiêu thụ một số lượng thực phẩm ít chất béo, chỉ khoảng 10 phần trăm chất béo loại không bão hòa, 10 phần trăm chất đạm, nhiều chất xơ (35 phần trăm), nhiều complex carbohydrate và tập thể dục thường xuyên.
Để thưc hành, có 6 điểm quan trọng cần phải thực hiện nếu muốn đạt kết quả tốt: (1) không ăn các thực phẩm có chất cholesterol, (2) không ăn các thực phẩm có chứa chất béo bão hòa (saturated fats), (3) không ăn các thực phẩm chế biến, các loại tinh bột, các thực phẩm đóng hộp, và các trái cây quá chín, (4) Không nấu carbohydrates quá chín (overcooked), (5) không uống rượu, hút thuốc, và (6) chọn các thực phẩm có chỉ số đường glycemic index thấp.
Năm điều đầu trong sáu điều kể trên, quý bạn đã biết qua các chương trước. Trong chương này chúng tôi nói rõ hơn về điều thứ sáu, tức việc chọn lựa các loại thực phẩm có chỉ số đường thấp.
Chỉ số đường trong thực phẩm cao có nghĩa thực phẩm đó tạo ra nhiều đường trong máu. Thực phẩm có chỉ số đường 96, như chuối chín chẳng hạn sẽ tạo ra chất đường trong máu nhiều gấp hai lần loại thực phẩm có chỉ số 50 như spaghetti. Các nhà khoa học đã liệt kê hơn 200 loại thực phẩm có chỉ số từ thấp đến cao. Họ cũng cho biết chất béo không bão hòa thực vật có tác dụng làm giảm chỉ số đường khi được cho thêm vào một thực phẩm carbohydrate nào đó như bánh mì, có chỉ số 100, nếu thêm bơ (chất béo bão hòa), chỉ số tăng lên 120, trong khi đó nếu thêm dầu olive (chất béo không bão hòa) thì chỉ số giảm xuống còn 28. Ngoài ra, thực phẩm carbohydrate như gạo chẳng hạn, nấu quá chín làm tăng chỉ số đường. Các thực phẩm biến chế cũng làm gia tăng chỉ số đường, thí dụ như khoai tây, chỉ số 100 trong khi đo,ù khoai tây biến chế dạng instant potatoes là 156, gạo có chỉ số 100, instant rice là 178. Dưới đây là bảng liệt kê chỉ số đường được sắp loại theo nhóm thực phẩm. Nên chọn những loại có chỉ số thấp, càng thấp càng tốt.

3011
02-05-2010, 12:06 AM
- Người mập phì
- Có cha, mẹ, anh chị em trong nhà bị tiểu đường
- Thuộc dân tộc có nguy cơ: da đen, da đỏ, châu Á
- Nữ sinh con nặng hơn 4kg hoặc đã được chẩn đoán là tiểu đường trong thai kỳ
- Cao huyết áp
- Rối loạn mỡ trong máu (HDL ≤ 35mg/dl và hoặc Triglyceride ≥ 250mg/dl)
- Đã được chẩn đoán là rối loạn dung nạp đường hay rối loạn đường huyết lúc đói (mức đường trong máu chưa đến mức gọi là tiểu đường nhưng đã là cao so với người bình thường).

3011
02-05-2010, 12:07 AM
- Tim mạch: cao huyết áp, xơ vữa động mạch, tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim

- Thận: đạm trong nước tiểu, suy thận

- Mắt: đục thủy tinh thể, mù mắt

- Thần kinh: dị cảm, tê tay chân

- Nhiễm trùng: da, đường tiểu, lao phổi, nhiễm trùng bàn chân…

- Tử vong.

3011
02-05-2010, 12:08 AM
+ Để điều trị tiểu đường hiệu quả cần có sự đóng góp của nhiều chuyên khoa:
- Bác sĩ nội khoa, nội tiết
- Chuyên gia về dinh dưỡng
- Điều dưỡng: chăm sóc trong bệnh viện và hướng dẫn việc chăm sóc tại nhà
- Nhân viên y tế khác: bác sĩ vật lý trị liệu, chuyên khoa bàn chân, dược sĩ, bảo hiểm xã hội…
- Sự hợp tác chặt chẽ của bệnh nhân và sự ủng hộ của người thân, gia đình, bạn bè.
+ Điều trị tiểu đường cần phải có:- Chế độ dinh dưỡng hợp lý
- Rèn luyện cơ thể
- Chương trình huấn luyện bệnh nhân
- Thuốc giảm đường huyết khi cần thiết (thuốc uống, insulin).

3011
02-05-2010, 12:10 AM
1) Phòng tránh thừa cân, béo phì:- Dựa vào chỉ số BMI (chỉ số khối của cơ thể)
BMI = CN:CC2 (trong đó cân nặng tính bằng kg, chiều cao tính bằng mét)
Chỉ số này nên giữ trong khoảng 18,5-23
- Vòng eo: nam < 90cm, nữ < 80cm
- Tỉ lệ mỡ cơ thể: nam < 25%
nữ < 30%.
2) Gia tăng hoạt động thể lực:
- Chơi thể thao hơn 30 phút trong hầu hết các ngày
- Tập thể dục khoảng 1giờ/ngày trong hầu hết các ngày
- Năng động trong mọi hoạt động, bước khoảng từ 5.000-10.000 bước chân/ngày.
3) Dinh dưỡng hợp lý:- Ăn đa dạng: nên ăn trên 20 loại thực phẩm mỗi ngày bằng cách ăn các món ăn hỗn hợp, có nhiều món trong một bữa ăn, và món ăn nên thay đổi trong ngày, giữa các ngày, theo mùa… Nên hạn chế ăn những thức ăn cung cấp năng lượng rỗng như đường, nước ngọt, kẹo…
- Ăn chừng mực: không ăn bữa nào quá no hay quá đói, không ăn thứ gì quá nhiều.
- Ăn thức ăn nguyên vẹn, gần với thiên nhiên để ít bị mất đi các thành phần dinh dưỡng có trong thức ăn.

3011
02-05-2010, 12:17 AM
Ăn kiêng: Ăn kiêng là phương pháp được nhiều chị em nghĩ đến đầu tiên bởi bạn có thể tự mình thực hiện nó bất kỳ khi nào mình muốn. Nhưng bạn đã thực sự hiểu về ăn kiêng?
Ăn kiêng không đồng nghĩa với nhịn ăn. Bữa ăn của người ăn kiêng cần giảm bớt lượng thực phẩm chứ không cần giảm số món.
Ăn kiêng thành công giúp bạn giảm 1 đến 2kg một tuần, ít bị tăng cân trở lại. Tuy vậy, ăn kiêng không đúng cách sẽ mang đến những hậu quả đáng tiếc: Da sạm nhăn, tóc gãy rụng, khả năng miễn dịch kém, dễ dính cảm cúm, stress, thậm chí loãng xương, hạ đường huyết.
Nếu bạn bị béo cục bộ, ăn kiêng khó có thể giải quyết được vấn đề. Bạn sụt cân nhưng phần bụng hay đùi vẫn rất to trong khi khuôn mặt lại hốc hác và xanh xao.
Tập thể dục giảm béo: Theo lời khuyên của các chuyên gia, tập thể dục giảm béo luôn là phương pháp được khuyến khích nhất. Bạn có thể chọn một trong số các môn tập như: Aerobic, chạy bộ, nhảy dây, các loại hình vận động khác như: khiêu vũ, múa….
Những loại hình vận động này tiêu hao nhiều năng lượng và rất dễ dẫn đến cảm giác thèm ăn. Nếu không kiểm soát được điều này thì sẽ không đáng ngạc nhiên khi không ít người càng tập càng béo. Không tập luyện thường xuyên hay bỏ dở giữa chừng cũng có thể gây phản tác dụng giảm cân.
Uống thuốc giảm béo: Thuốc giảm béo có thể giúp bạn xuống cân nhanh, rõ rệt. Tuy nhiên, bạn sẽ giảm cân toàn thân mà không riêng bộ phận nào cả. Điều này có thể khiến cho thân hình bạn trở nên không cân đối theo ý muốn.
Thuốc giảm cân cũng thường kéo theo các tác dụng phụ như: Mất ngủ, cảm giác hoàng mang, hụt hơi, buồn nôn, rối loạn tiêu hóa. Bạn không giảm cân thật sự mà sụt cân do cơ thể mất nước. Vậy nên, bạn cần phải tìm hiểu rất kỹ nguyên lý giảm cân của thuốc. Thuốc giảm cân có nguồn gốc thảo dược được tin cậy hơn.
Phẫu thuật thẩm mỹ: Đây là phương pháp giảm béo triệt để nhất vì nó có thể giúp bạn giảm số đo ở những vùng hay tập trung mỡ như bụng, đùi… Lượng mỡ mỗi lần phẫu thuật đi là khá nhiều khiến bạn thon gọn lập tức. Tuy vậy, phẫu thuật nào cũng để lại sẹo, đôi khi sẹo “đẹp”, tức là sẹo được giấu đi một cách khéo léo. Đôi khi sẹo “xấu”, có thể do cơ địa của bạn sẹo lồi hoặc sẹo lõm, hay do tay nghề bác sĩ. Độ rủi ro có thể gặp trong bất kỳ loại phẫu thuật nào cũng khiến nhiều chị em lo ngại. Thêm vào đó, phẫu thuật hút mỡ dường như chỉ dành cho khách hàng thượng lưu vì chi phí cho một ca phẫu thuật khá cao khoảng từ 20 đến 30 triệu.
Giảm béo bằng thông khí huyết
Dù mới xuất hiện nhưng phương pháp giảm béo này đã chứng tỏ nhiều ưu điểm. Hiệu quả có thể đạt tới giảm 10 đến 15cm và 3 đến 5kg một liệu trình 10 ngày.
Xuất phát từ Đông y, phương pháp này đặt tính an toàn và hiệu quả giảm cân lên hàng đầu. Bạn không phải uống thuốc nên hoàn toàn tránh được các loại bệnh về tiêu hóa. Bạn không hề “động dao kéo” nên không lây nhiễm bệnh hay bị sốc. Sản phẩm giảm béo chiết suất từ đông trùng hạ thảo và các loại thảo dược thiên nhiên khác và dùng ngoài da nên không dị ứng.
Hiệu quả giảm béo có được nhờ các thao tác massage, bấm huyệt và giác hơi chuyên sâu kết hợp với tinh dầu và thảo dược giảm béo. Tinh dầu đốt trong quá trình trị liệu làm cho mỡ hóa thành dạng lỏng và bài tiết qua nước tiểu, mồ hôi và nước bọt. Bạn có thể giảm số đo trên từng vùng tích mỡ như: đùi, bụng, bắp tay, bắp chân... kết hợp với giảm số cân nặng dư thừa.
Phương pháp này cũng hạn chế tối đa nguy cơ béo trở lại nhờ các thao tác bấm huyệt co nhỏ thành dạ dày, giúp giảm cảm giác thèm ăn, hình thành thói quen ăn uống khoa học, vừa đủ.
Trên đây chỉ là một vài trong số hàng chục các phương pháp giảm cân. Quan trọng là bạn cần tìm được một phương pháp giảm béo tận gốc, an toàn, phù hợp với thể trạng của mình. Ngoài ra, yếu tố kiên trì và quyết tâm cũng góp phần làm nên thành công trong kế hoạch giảm béo của bạn.

3011
02-05-2010, 12:31 AM
1. Uống cà phê trước bữa sáng
Nghiên cứu gần đây nhất của trường đại học Vanderbilt Mỹ cho thấy, uống 1 ly cà phê trước bữa sáng 30 phút có tác dụng kiềm chế sự thèm ăn, sức ăn chỉ 75% bạn đã có cảm giác no, đồng thời có thể đẩy nhanh tốc độ “đốt cháy” mỡ trong cơ thể. Do trong cà phê có chứa xathine có thể cung cấp đủ lượng nhiệt năng cần thiết cho cơ thể bạn mà không cần phải ăn quá nhiều.
2. Trước khi đi vệ sinh nên uống một cốc nước mơ chua
Trong nước mơ chua có chứa một loại hoá học thực vật có tác dụng ngăn chặn sự tích mỡ nhanh và các độc tố. Uống một cốc nước mơ chua cơ thể bạn sẽ được “thanh lọc”, loại bỏ những chất thừa( gây béo) ra khỏi cơ thể.
3. Uống nhiều nước
Theo ý kiến của các chuyên gia dinh dưỡng, 1 kg cân nặng có chứa 31,3 ml nước( Do đó,ví dụ nữ giới, cân nặng 50kg, mỗi ngày cần uống 1,565 lít nước). Nước có tác dụng tốt cho điều hoà nhiệt độ cơ thể, một khi cơ thể thiếu nước, nhiệt độ cơ thể theo đó cũng giảm xuống, lúc đó cơ thể sẽ bắt đầu quá trình tích tụ mỡ để giữ đủ lượng nhiệt cần thiết cho cơ thể. Trải qua thời gian dài cân nặng của bạn do đó cũng tăng lên đáng kể.
4. Ăn đậu phộng thời gian giữa bữa sáng và bữa trưa
Các nhà khoa học cho biết, ăn đậu phộng trong quá trình giảm béo giúp giảm cân nặng nhanh hơn gấp 3 lần. Nghiên cứu cho thấy, nếu mỗi ngày ăn một hạt đậu phộng bạn sẽ không phải “ăn bù” cho cơ thể 333 kalo.
5. Ăn các loại thực phẩm được lên men cho bữa trưa
Nghiên cứu cho thấy, ăn các loại thực phẩm được lên men như bánh bao, màn thầu, bánh mỳ…sẽ tạo cảm giác no hơn khi ăn các thức ăn thường ít nhất 1 giờ. Vì trong quá trình lên men( làm vỏ bánh), tinh bột và đường sẽ bị phân hoá thành những thành phần khó tiêu hoá hơn, hệ thống tiêu hoá sẽ phải dùng nhiều thời gian hơn để tiêu hoá các thức ăn này, và tất nhiên bạn sẽ không cảm thấy nhanh đói.
6. Một muỗng nhỏ mật ong cho buổi chiều
Mật ong sẽ có tác dụng điều hoà lượng đường trong máu sau 20 phút, đồng thời sẽ duy trì trạng thái ổn định này trong 2h, giảm cảm giác đói, và giúp bạn ổn định tâm lý và luôn vui vẻ.
7.Thư giãn với trà ô long
Thói quen uống trà ô long sẽ giúp đẩy nhanh hệ thống chuyển đổi chất của cơ thể, tiêu hao nhiệt lượng tăng 3%, đốt cháy mỡ tăng 10%. Do đó loại trà này có tác dụng thanh nhiệt, an thần giúp bạn luôn thoải mái trong quá trình giảm béo.

3011
02-05-2010, 07:11 PM
Cách phát hiện bệnh thận sớm: Có ba cách để phát hiện bệnh: thử nước tiểu, thử máu, đo huyết áp thường xuyên. Các cách này cũng được áp dụng với những người có nguy cơ mắc bệnh thận cao hơn những người bình thường khác: người bị bệnh đái tháo đường, người bị bệnh cao huyết áp, người trên 60 tuổi, người trải qua giai đoạn điều trị bằng thuốc có hại cho thận trong một thời gian dài như các loại thuốc chống viêm sưng (trong đó có aspirine)...
Làm thế nào để tránh mắc bệnh thận?
Sau đây là một số nguyên tắc giúp duy trì thận ở trạng thái khỏe mạnh:
- Uống ít nhất 1,5 lít nước mỗi ngày.
- Theo một chế độ ăn hợp lý và cân bằng để tránh bị tăng trọng lượng và bị thừa cholesterol.
- Hạn chế dùng muối, một yếu tố thúc đẩy tăng huyết áp. - Dừng hút thuốc lá. Hút thuốc làm bệnh thận tiến triển nhanh hơn.
- Tập thể dục thể thao mỗi ngày.
- Tránh dùng thuốc không có hướng dẫn của thầy thuốc vì một số thuốc có hại cho thận.
- Không lạm dụng thuốc nhuận tràng và thuốc lợi tiểu.
- Chú ý, những sản phẩm i-ốt dùng để làm chất cản quang trong một số xét nghiệm chụp hình X-quang cũng có thể gây tổn thương cho thận với những người có thể trạng yếu. Bạn cần hỏi ý kiến của bác sĩ chụp X-quang.

3011
02-05-2010, 07:13 PM
Vì có những rối loạn chuyển hóa trong cơ thể, sỏi thận hình thành do lượng nước tiểu quá ít (mất nước do uống ít nước hoặc lao động quá sức), hay nồng độ các chất khoáng tăng cao trong nước tiểu. Các chất khoáng như canxi, oxalat, muối urat, natri, cystine hay phốt-pho lắng đọng trong đài, bể thận kết thành sỏi. Nếu sỏi nhỏ (nhỏ hơn hay như hạt cát) có thể tự ra ngoài trong quá trình bài tiết nước tiểu mà không gây triệu chứng gì. Nhưng với sỏi lớn, tùy theo kích thước nhỏ, to mà xảy ra các trường hợp: Di chuyển theo dòng nước tiểu ra ngoài được nhưng có thể gây đau đớn và chảy máu đường tiết niệu; mắc lại ở những chỗ hẹp của niệu quản gây viêm tắc niệu quản; sỏi nằm lại trong đài bể thận, hoặc trong bể thận rồi phát triển to dần choán hết đài bể thận, gây ra những tai biến nghiêm trọng làm huỷ hoại thận và các chức năng của thận. Do sỏi thận có bề mặt xù xì, lởm chởm, sắc nhọn nên rất dễ làm tổn thương thận tạo nên những vết sẹo trong thận, dẫn đến suy thận. Có 4 loại sỏi thận chính:
- Sỏi canxi là loại phổ biến nhất, khoảng 80-90% sỏi thận là canxi oxalat và canxi phosphat. Lượng canxi dư thừa trong cơ thể được đào thải qua thận, do nồng độ quá nhiều khó có thể hòa tan trong nước tiểu, nó sẽ kết hợp với các khoáng chất khác tạo thành sỏi. Những người có lượng vitamin D cao, bị cường tuyến giáp, hay những người bị suy thận dễ bị sỏi canxi.
- Sỏi phosphat ammonium magnesium do vi khuẩn lên men ure gây nên. Sỏi thường được hình thành sau khi bị viêm đường tiết niệu mạn tính do tạo ra enzym làm tăng lượng amoniac trong nước tiểu. Lượng amoniac nồng độ cao làm vi khuẩn có thể phát triển nhanh hơn tạo điều kiện cho sỏi khuẩn hình thành. Sỏi khuẩn thường có nhiều cạnh nhọn, với kích thước lớn làm tổn thương đến thận.
- Sỏi acid uric hình thành do quá nhiều axit uric trong nước tiểu. Khi lượng axit tăng cao, khoáng chất hình thành kết hợp với canxi và oxalat tạo nên sỏi. Chế độ ăn giàu chất đạm động vật, người bị bệnh gút có nguy cơ bị sỏi urat cao.
- Sỏi cystine hiếm gặp hơn. Cystine là một loại amino acid. Ở người bị bệnh cystine niệu làm cho thận không hấp thu lại cystine. Cystine không được hòa tan tốt trong nước tiểu, khi nồng độ cao sẽ tạo thành sỏi.

3011
02-05-2010, 07:14 PM
Để điều trị sỏi thận hiệu quả thì việc xác định loại sỏi là rất quan trọng. Có nhiều cách để loại trừ sỏi thận mà không phải phẫu thuật. Uống nhiều nước, trên 2 lít một ngày có thể làm cho sỏi tự ra khi đi tiểu. Hạn chế các thức ăn chứa nhiều canxi, oxalat như sữa, pho mát, nước chè đặc; ăn ít đạm động vật nếu bị sỏi acid uric. Một số phương pháp điều trị sỏi thận có thể áp dụng:
- Tán sỏi ngoài cơ thể: Các sỏi đài bể thận nhỏ, đường kính dưới 20 mm có thể dùng năng lượng tạo nên từ sóng siêu âm chiếu qua da vào viên sỏi và phá vỡ sỏi. Sóng siêu âm cao hay thấp sẽ tán viên sỏi ra thành nhiều mảnh nhỏ đường kính dưới 4 mm để nó tự ra ngoài qua đường tiểu.
- Tán sỏi thận qua da là phương pháp đưa một máy tán sỏi vào cơ thể qua da vùng thắt lưng vào thận, viên sỏi sẽ bị tán vỡ ra nhờ sóng siêu âm và sau đó được hút ra ngoài qua ống. Phương pháp này có thể tán được những sỏi lớn, rắn ngay trong bể thận đã giãn rộng, có thể rửa sạch, lấy hết cặn sỏi và dẫn lưu bể thận qua da.
- Phẫu thuật được chỉ định trong các trường hợp: Sỏi lớn đường kính trên 40 mm, sỏi san hô nhiều gai cạnh găm vào đài bể thận, đài bể thận giãn hay ứ nước...

3011
02-05-2010, 07:16 PM
Đây là cụm từ người dân thường dùng để chỉ rối loạn lipid máu. Trong máu lúc nào chả có mỡ, nhưng khi chúng vượt quá giới hạn bình thường thì các nhà chuyên môn gọi là tăng lipid huyết. Còn gọi là rối loạn lipid máu bởi cơ thể không điều chỉnh được, cân bằng bị phá vỡ.
Mỡ trong máu gồm cholesterol, triglycerid, phospholipid và acid béo tự do. 60-70% lipid máu là cholesterol nên được chú ý hơn cả, có người còn cho rằng cholesterol là đại diện, giống như "tổ trưởng dân phố" trong tổ lipid máu. Thường xét nghiệm người ta quan tâm đến cholesterol, triglycerid và hai chất giống như xe tải vận chuyển cholesterol từ nơi này đến nơi khác là HDL (high density lipoprotein) và LDL (low density lipoprotein).
Cholesterol tham gia cấu tạo màng của tế bào thần kinh, kích thích sản sinh những tế bào mới khi chúng ta bị tổn thương ở nơi nào đó. Cholesterol là yếu tố đầu tiên và quan trọng trong quá trình sinh tổng hợp hormon steroid (hormon sinh dục, thượng thận). Nó có hai nguồn: nội sinh do cơ thể tự sản xuất chiếm 75%, ngoại sinh do chúng ta ăn thực phẩm chứa cholesterol (trứng, hải sản, mỡ động vật, sữa...). Nếu kết quả xét nghiệm báo cholesterol toàn phần của bạn ≤ 180mg/dl là bình thường, nếu > 200mg/dl gọi là cao.
HDL được gọi là cholesterol tốt vì nó vận chuyển cholesterol từ các mô, lòng mạch đào thải ra ngoài. Còn LDL gọi là cholesterol xấu vì vận chuyển theo chiều ngược lại, gây ứ đọng mỡ trong lòng mạch máu tạo hiện tượng xơ mỡ động mạch, rất nguy hiểm vì nó cứ chọn mạch máu ở tim, mạch não mà nằm đó, dòng chảy bị ngăn lại và cục máu đông xuất hiện gây nhồi máu, đột quỵ.

3011
05-05-2010, 10:05 AM
Sốt ở bé sơ sinh: Nếu bé dưới 2 tháng tuổi có dấu hiệu bị sốt cao thì nhiều khả năng bé bị ốm nặng hơn cha mẹ nghĩ. Cho dù bé bị sốt mà không kèm theo những triệu chứng nào khác thì bạn vẫn nên lưu ý. Giai đoạn này, do hệ miễn dịch của bé còn yếu nên bé có thể dễ dàng mắc một chứng bệnh truyền nhiễm trầm trọng. Nhiều bậc phụ huynh nhầm tưởng bé bị sốt là do cảm lạnh. Tuy nhiên, nếu mắc cảm lạnh, bé thường không có dấu hiệu bị sốt quá cao.
Bé bị phát ban kèm theo sốt: Nếu bé xuất hiện những đám phát ban nhỏ li ti, màu đỏ (kèm sốt) thì có thể bé mắc chứng bệnh viêm màng não. Những nốt ban trông giống như đốm xuất huyết sẽ giữ nguyên màu sắc nếu bạn dùng tay ấn vào chúng; hoặc nốt ban có xu hướng chuyển sang màu tái trong giây lát khi bạn ấn ngón tay vào chúng; sau đó, chúng sẽ trở lại màu sắc như bình thường. Bé có thể xuất hiện những đốm xuất huyết trên da (không kèm sốt) sau khi bé bị ho hoặc nôn (trớ). Cũng có thể bé bị xuất huyết da sau khi tắm. Trường hợp này, đốm xuất huyết có thể được gây ra bởi sự phá vỡ các mao mạch, bạn nên đưa bé đi khám sớm.
Mí mắt của bé bị sưng đau kèm theo sốt: Sưng mí mắt có thể do bé bị côn trùng cắn; tuy nhiên, nếu kèm theo sốt, có thể bé bị nhiễm trùng xoang.
Dấu hiệu khác là mí mắt bé bị đỏ và sưng phù. Vài giờ đồng hồ sau, mí mắt của bé tiếp tục phồng lên khiến bé khó khăn khi cử động. Bạn nên đưa bé đi khám ngay lập tức.
Bé bị ho liên tục: Nếu bé bị ho nặng kèm dấu hiệu thở khò khè thì nhiều khả năng bé bị chứng hen suyễn tấn công. Trường hợp này, bé cần được khám và dùng thuốc trị hen theo chỉ định của bác sĩ. Nếu bé tỉnh giấc giữa đêm cùng những tràng ho không ngớt thì có thể bé mắc chứng bệnh về thanh quản. Lúc này, bạn có thể bế bé đến khu vực không khí thoáng hơn như đứng cạnh một khung cửa sổ mở. Bạn nên đưa bé đi khám khẩn cấp nếu bé có dấu hiệu khó thở: xương sườn của bé cử động lên - xuống theo từng nhịp thở, cánh mũi của bé phập phồng…
Bé nôn (trớ) liên tục: Nếu tình trạng nôn (trớ) ở bé lặp đi lặp lại nhiều lần hoặc bé có dấu hiệu bị ngộ độc thức ăn, bạn nên đưa bé đi khám. Trường hợp khẩn cấp khác là khi bé bị nôn (trớ) ra máu hoặc đờm xanh, đờm vàng. Dấu hiệu này có thể là triệu chứng hẹp môn vị ở bé. Bé cần được chỉ định dùng thuốc và phẫu thuật bởi bác sĩ.
Bé đi khập khiễng hoặc mất khả năng leo trèo:
Nếu bé khó khăn trong đi lại (không thể đứng bằng một chân); bé đột nhiên bị sốt thì có thể bé bị nhiễm trùng xương đầu gối hoặc xương hông. Trường hợp này, bé cần được bác sĩ khám nhanh chóng, bởi vì sự nhiễm khuẩn có khả năng phá hủy các khớp xương ở bé. Đôi khi, dấu hiệu bệnh ở bé sẽ trở nên đặc biệt nghiêm trọng nếu bé không được điều trị bằng kháng sinh (theo chỉ định của bác sĩ) trong vòng 48 giờ sau đó. Dấu hiệu điển hình là bé bị ốm trong ngày đầu tiên. Ngày tiếp theo, bé có khả năng bị sốt cao và đau nghiêm trọng ở một phần xương trên cơ thể. Nếu bé không thể cử động khuỷu tay, chân, vai thì bạn càng nên đưa bé đi khám sớm (đặc biệt là những bé dưới 2 tuổi).
Bé bị đau khuỷu tay: Nếu bạn chạm vào tay bé, bé phản ứng bằng cách khóc thét, kéo tay ra xa thì có thể bé đang bị đau khuỷu tay. Chứng bệnh này có thể gặp ở bé dưới 6 tuổi. Nguyên nhân có khả năng do bé bị trật khớp khuỷu tay. Trường hợp này, bác sĩ sẽ tiến hành các thao tác nắn, chỉnh để khớp khuỷu của bé trở về đúng vị trí. Bạn nên đưa bé đi khám trước khi khuỷu tay bé có dấu hiệu bị sưng phù.

3011
05-05-2010, 10:07 AM
Theo BS. Vũ Minh Phúc thì tim bẩm sinh (TBS) là các dị tật của tim có từ lúc trẻ còn trong bào thai. Các dị tật này có thể ở các vị trí sau: van tim (hẹp van, hở van, không có lỗ van), buồng tim (tim chỉ có một tâm nhĩ, hay một tâm thất, hay 3 buồng tâm nhĩ), vách ngăn tim hay các động mạch lớn gần tim. Rất khó xác định nguyên nhân gây ra TBS. Một số ít bệnh TBS là do di truyền, phần lớn còn lại do sự tác động của nhiều yếu tố từ môi trường bên ngoài lên bà mẹ lúc mang thai, đặc biệt là trong ba tháng đầu tiên. Hàng năm trung bình Việt Nam có thêm 16.440 trẻ sơ sinh chào đời mắc bệnh tim bẩm sinh. Khoảng 1% trẻ em chào đời trên thế giới gặp phải các chứng bất thường về tim.
Bất thường bẩm sinh ở tim là một trong những bất thường vô cùng quan trọng gây ra nhiều biến chứng và tử vong. Một đứa trẻ bị bất thường tim bẩm sinh da hay bị tím tái, rối loạn nhịp đập hay tiếng tim bất thường, đứa trẻ bú kém, hạn chế về thể lực, có những dấu hiệu suy tim và những bất thường thể chất khác như thường chậm lớn, không tăng cân, thở khó, đau ngực. Trẻ cũng có thể bị đột tử khi hoạt động mạnh.
Bên cạnh đó, bệnh tim bẩm sinh được phát hiện một cách tình cờ khi thực hiện điện tâm đồ, chụp X-quang ngực, hay khi khám thai phụ. Có hai loại bệnh tim bẩm sinh: Bệnh tim bẩm sinh "tím" và loại bệnh tim bẩm sinh "không tím ". Nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt đó là do những lỗ giữa các buồng tim bị tắc nghẽn hay rò rỉ trong các van, bất thường ở các phần nối khác nhau ở tim, tim có những mạch máu bất thường hay tư thế bất thường của tim (bình thường tim xoay qua bên trái)...
Tuy nhiên, không phải bệnh tim bẩm sinh nào cũng cần phẫu thuật. Các bệnh thông liên thất nhỏ phần cơ hoặc hẹp van động mạch phổi nhẹ không cần phải phẫu thuật, chỉ cần dùng kháng sinh dự phòng khi nhổ răng hoặc làm các thủ thuật đường hô hấp hay đường niệu.
Ngoài ra, nhiều bệnh tim bẩm sinh có thể được điều trị bằng thông tim can thiệp, như đục thủng vách liên nhĩ trong để chuyển vị đại động mạch, nong van động mạch phổi trong do hẹp động mạch phổi, đóng ống động mạch - lỗ thông liên nhĩ và lỗ thông liên thất bằng dụng cụ chuyên dụng hoặc ghép tim với tim, hay tim với phổi. Chương trình Trái tim cho em do Đài truyền hình VN phối hợp với nhiều đơn vị đã quyên góp được tiền bạc của đông đảo những tấm lòng từ thiện trong ngoài nước, nhờ đó đã cứu sống được hàng năm rất nhiều trẻ em bị tim bẩm sinh nghèo không có đủ tiền để đến điều trị tại các bệnh viện chuyên khoa.

3011
05-05-2010, 10:08 AM
Co giật do sốt cao là những cơn co giật xảy ra trong khi sốt bởi một bệnh cấp tính. Tính chất của cơn co giật: có thể co giật toàn thân hay chỉ cục bộ; nếu sốt giật đơn thuần thời gian thường dưới 5 phút, 1 cơn/ngày; trường hợp sốt giật phức tạp, cơn kéo dài trên 15 phút, nhiều hơn 2 cơn/ngày. Khi trẻ bị sốt cao, co giật chúng ta cần bình tĩnh thực hiện các công việc sau đây: đặt trẻ nằm yên tĩnh tại một nơi thoáng khí, tránh mọi kích thích như gọi, hỏi, tiếng đài hay tivi, tiếng động do đóng mở cửa... dùng vật mềm đặt giữa hai hàm răng để trẻ không cắn vào lưỡi; nên nghiêng đầu trẻ sang phải, nới rộng quần áo để trẻ dễ thở; nếu thời tiết lạnh cần lưu ý đắp khăn giữ ấm vùng cổ ngực cho trẻ. Đếm mạch, nhịp thở xem bao nhiêu lần/một phút và ghi vào sổ theo dõi. Cặp nhiệt độ, nếu sốt trên 38 độ, có thể cho trẻ uống thuốc hạ sốt paracetamol 15mg/kg cân nặng/1lần, hoặc dùng thuốc đặt hậu môn bằng liều lượng uống; có thể dùng nhắc lại sau 5-6 giờ nếu để cháu ở nhà. Sau đó chuyển trẻ đến cơ sở y tế để khám và điều trị tiếp. Để phòng co giật phải dùng thuốc hạ sốt ngay khi trẻ bắt đầu sốt và trong những ngày sốt. Ngoài ra hạ sốt bằng phương pháp vật lý. Cụ thể dùng khăn nhúng nước ở nhiệt độ bằng thân nhiệt cơ thể để lau người cho trẻ.

3011
05-05-2010, 10:11 AM
Nguyên nhân: Phần lớn NKHHCT ở trẻ em là do căn nguyên virut, do đặc điểm phần lớn các loại virut có ái lực với đường hô hấp. Khả năng lây lan của virut dễ dàng, tỷ lệ người lành mang virut cao và khả năng miễn dịch đối với virut ngắn và yếu cho nên bệnh dễ có nguy cơ phát triển trong một cộng đồng thành dịch và dễ bị nhiễm lại.
Những virut thường gặp gây NKHHCT ở trẻ em gồm: virut hợp bào hô hấp (RSV), virut cúm, virut á cúm, virut sởi, Adenovirus (còn gọi là virut hạch), Rhinovirus, Enterovirus, Cornavirus... Ở các nước đang phát triển như nước ta, căn nguyên nhiễm khuẩn vẫn đóng vai trò quan trọng trong NKHHCT ở trẻ em, đứng đầu là: Hemophilus influenzae, liên cầu, tụ cầu, Bordetella, Klebsiella pneumoniae, Chlamydia trachomatis...
Các yếu tố nguy cơ: Khi có các yếu tố nguy cơ dưới đây trẻ thường dễ mắc NKHHCT, khi đã mắc thì bệnh thường nặng, có tỷ lệ tử vong cao, thời gian điều trị kéo dài.
- Trẻ sinh ra nhẹ cân (dưới 2.500g), trẻ suy dinh dưỡng;
- Trẻ không được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ;
- Ô nhiễm với khói bụi trong nhà, thuốc lá cũng là nguồn ô nhiễm không khí rất nguy hiểm cho trẻ nhỏ;
- Thời tiết lạnh, thay đổi là điều kiện thuận lợi gây NKHHCT ở trẻ em, đặc biệt là khi thời tiết chuyển mùa;
- Nhà chật chội, thiếu vệ sinh, đời sống kinh tế thấp, thiếu vitamin A cũng là các yếu tố nguy cơ gây NKHHCT ở trẻ em.
Phân loại theo vị trí tổn thương: Để thuận tiện cho việc nhận biết và điều trị bệnh, các nhà chuyên môn chia NKHHCT thành 2 loại tùy theo vị trí tổn thương. Nhiễm khuẩn hô hấp trên bao gồm các trường hợp viêm mũi - họng, VA, viêm amidan, viêm tai giữa, ho và cảm lạnh. NKHH trên thường gặp và diễn biến nhẹ. NKHH dưới ít gặp hơn nhưng thường là nặng bao gồm các trường hợp viêm thanh quản, khí quản, phế quản, tiểu phế quản và phổi.
Biểu hiện bệnh: Các biểu hiện lâm sàng của NKHHCT ở trẻ em rất đa dạng và ở nhiều mức độ khác nhau. Thông thường trẻ bắt đầu với các triệu chứng ho, sốt, chảy mũi, rồi sau đó là thở nhanh, cánh mũi phập phồng, nặng hơn nữa là nhìn thấy ***g ngực bị rút lõm trong khi thở vào, thở rít, tím tái. Nếu không được xử trí kịp thời trẻ có thể hôn mê, co giật... Một đặc điểm cần lưu ý là diễn biến của trẻ từ mức độ nhẹ sang nặng rất nhanh do đó việc đánh giá, phân loại, xác định điều trị kịp thời là rất quan trọng.
Thái độ xử trí: Điều quan trọng trong thái độ xử trí NKHHCT là lựa chọn được cách điều trị thích hợp cho trẻ. Không phải bất cứ trường hợp NKHHCT nào cũng được chỉ định dùng thuốc kháng sinh hay cho nhập viện điều trị nội trú. Nhưng cũng không phải vì coi nhẹ NKHHCT mà mọi trường hợp NKHHCT đều được tự điều trị tại nhà và theo dõi qua loa. Sau nhiều nghiên cứu, các nhà chuyên môn của Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra cách điều trị NKHHCT với các mức độ khác nhau như là một phương pháp tư duy và tiếp cận. Một điều rất thú vị rằng "phương pháp tư duy" này lại rất phù hợp với chính sách phân tuyến trong điều trị của ngành y tế nước ta.
- Các trường hợp trẻ chỉ có ho, chảy mũi, không thở nhanh, không có rút lõm ***g ngực, không có các dấu hiệu nặng khác như co giật, li bì, bỏ bú... thì được nhận định là không viêm phổi. Các biện pháp điều trị bao gồm khuyến khích sử dụng các loại thuốc ho an toàn sẵn có như hoa hồng bạch hấp đường phèn, húng chanh hấp mật ong... dùng thuốc hạ sốt nếu có sốt cao. Hướng dẫn cho người chăm trẻ biết cách chăm trẻ tại nhà.
- Đối với các trường hợp nhiễm khuẩn mức độ vừa. Trẻ có dấu hiệu thở nhanh nhưng chưa có các dấu hiệu nặng và biến chứng. Lúc này thuốc kháng sinh bắt đầu được sử dụng. Chỉ cần cho trẻ uống liều thuốc đầu tiên tại các cơ sở y tế (trạm y tế, phòng khám ngoại trú...) rồi hướng dẫn cho người chăm trẻ biết cách cho trẻ uống thuốc tại nhà và chăm sóc trẻ. Hẹn đưa trẻ đến khám lại sau 2 ngày.
- Trường hợp nặng. Trẻ có các dấu hiệu như rút lõm ***g ngực, thở rít hay có các dấu hiệu nặng kèm theo: li bì, co giật, bỏ bú... Đây là các trường hợp cần được cấp cứu. Cần phải tìm mọi cách đưa trẻ đến ngay bệnh viện, các trung tâm y tế có đủ phương tiện tốt để cấp cứu và điều trị hỗ trợ cho trẻ.

3011
05-05-2010, 10:13 AM
Bệnh này có thể gây biến chứng sẹo thận, là tiền thân của bệnh tăng huyết áp và suy thận mãn, dễ xảy ra với trẻ em, đặc biệt là những trẻ gái.
Nhiễm trùng tiểu là bệnh lý gây ra do sự hiện diện của vi khuẩn trong nước tiểu, chủ yếu là vi khuẩn E. coli. Ngoài ra, nhiễm trùng tiểu còn có thể do nhiễm trùng huyết gây ra. Vi khuẩn từ máu người nhiễm bệnh đi khắp cơ thể, đến đường niệu và gây nhiễm trùng. Dạng này rất nặng và nguy cơ cao. Bên cạnh đó, những bệnh nhi có sức đề kháng kém hoặc có dị dạng đường tiểu thì dễ mắc nhiễm trùng tiểu hơn. Bệnh này thường gặp ở trẻ em gái nhiều hơn ở trẻ em trai do niệu đạo ở trẻ em gái ngắn hơn, vi khuẩn dễ dàng vào cơ thể và gây nhiễm trùng.
Triệu chứng: Để có thể nhận biết bệnh, các bậc cha mẹ cần lưu ý những dấu hiệu sau: Ở trẻ sơ sinh và trẻ nhũ nhi, triệu chứng thường không rõ ràng. Do vậy, khi phát hiện trẻ sốt mà không rõ nguyên nhân, sốt kéo dài, bỏ bú, rối loạn tiêu hóa, không tăng cân hoặc vàng da kéo dài trong thời kỳ sơ sinh thì phải đưa tới bệnh viện vì có khả năng trẻ đã bị bệnh nhiễm trùng tiểu.
Ở trẻ lớn hơn, triệu chứng của bệnh thể hiện rất rõ. Trẻ muốn đi tiểu mà không đi được hoặc trẻ thường xuyên tiểu són, tiểu lắt nhắt, tiểu gắt. Kiểm tra nước tiểu của trẻ, phát hiện có màu đục, thậm chí có trẻ tiểu ra máu. Một số trường hợp có thể kèm theo sốt, đau bụng, đau hông lưng.
Nhiễm trùng tiểu là bệnh rất nguy hiểm do biến chứng thường gặp là sẹo thận. Sau một đợt nhiễm trùng tiểu nặng hoặc nhiễm trùng tiểu tái phát nhiều lần, nhiều trẻ sẽ bị tổn thương ở thận dưới dạng sẹo thận. Sẹo thận có thể gây tăng huyết áp và dẫn đến suy thận mạn sau này.
Phòng ngừa :
Để phòng ngừa nhiễm trùng tiểu, ở trẻ nhỏ, đặc biệt là trẻ em gái, sau mỗi lần đi tiêu đi tiểu nên vệ sinh và lau chùi đúng cách, không lau từ sau ra trước, do lỗ tiểu ở phía trước và hậu môn nằm phía sau. Nên động tác làm vệ sinh phải lau từ trước ra sau để không đưa vi khuẩn từ đường tiêu hóa vào đường niệu. Ngoài ra, các bà mẹ nên thường xuyên kiểm tra tã lót và nên thay tã ngay sau khi bé đi tiêu tiểu.
Vì bất kỳ lí do gì việc nhịn đi tiểu là rất nguy hiểm. Bởi nước tiểu gồm các chất cơ thể cần thải ra ngoài, khi bị ứ trong bàng quang các chất này sẽ là môi trường cho vi khuẩn dễ xâm nhập vào cơ thể và gây nhiễm trùng tiểu.
Khi trẻ ngại đi vệ sinh sẽ dẫn đến tình trạng trẻ không dám uống nước nhiều, điều này rất hại cho cơ thể. Mỗi ngày cơ thể cần từ 1,5 - 2 lít nước cung cấp từ thức ăn và thức uống. Uống nhiều nước sẽ giúp thận thải tốt các chất bã...

3011
05-05-2010, 10:14 AM
Trẻ chậm phát triển tâm thần không phải là một đơn thể bệnh mà là một nhóm trạng thái bệnh lý khác nhau về nguyên nhân nhưng biểu hiện chung là sự trì trệ về phát triển tâm thần có tính bẩm sinh, hoặc mắc phải chủ yếu trong 3 năm đầu khi hệ thần khinh chưa hoàn chỉnh về cấu trúc. Có thể phát hiện sớm ở những tuần lễ đầu tiên như không có nhu cầu ăn bú (có thể kéo dài vài tháng), trẻ ít cựa quậy, ít hoặc không khóc, chậm cười, chập phản ứng theo tiếng động, chậm phát triển về tâm vận động như lẫy, ngồi, bò, đứng, đi, nói... chậm biết nhai. Trẻ chậm phát triển tâm thần thường có biểu hiện lâm sàng rõ rệt hay kín đáo ngay từ những tuần đầu. Tuy nhiên, có một số trẻ phát triển bình thường tới một tuổi nào đó (thường trước 3 tuổi) rồi mới biểu hiện chậm phát triển tâm thần. Ngược lại có trẻ có biểu hiện chậm phát triển về tâm vận động nhưng đến tuổi nào đó (thường trước 3 tuổi) lại phát triển nhanh đuổi kịp trẻ cùng tuổi. Do vậy, cần phải khám theo dõi cẩn thận sự phát triển của trẻ thì mới có kết luận chính xác và đưa ra cách xử trí kịp thời.
Về điều trị: Trừ vài loại bệnh gây chậm phát triển tâm thần, có thể điều trị tốt nếu phát hiện sớm, còn đa số các loại khác, nhất là các trường hợp nặng khó có thể chữa khỏi. Do vậy việc phòng bệnh có vai trò đặc biệt như: tránh để ngạt khi đẻ, đẻ non, trẻ thiếu cân, các bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm độc, viêm não, màng não.

3011
05-05-2010, 10:16 AM
Trẻ ăn được mà vẫn không lên cân thì cần xem lại chất lượng của bữa ăn đã đủ chưa, ví dụ mỗi bát cháo em cho lượng chất đạm (thịt, cá, tôm) và dầu mỡ bao nhiêu?
Khi ăn thiếu dầu mỡ thì cũng không lên cân được ở tuổi của cháu, mỗi bát cháo phải 30g thịt (cá, tôm) + 2 thìa cà phê dầu ăn (mỡ), mặt khác em không nói rõ tình trạng đi ngoài của cháu thế nào, có bị táo bón hoặc phân sống không? Vì nếu ăn được mà không hấp thu được thì cũng không lên cân.
Ngoài còn xem cháu ngủ thế nào? nếu ngủ ít, ngủ quá muộn cũng là nguyên nhân không lên cân của trẻ.
Và điều nữa là bố mẹ cháu có quá nhỏ bé không? Bố mẹ mà quá nhỏ bé thì con làm sao to cao được.
Rất nhiều cháu tuy bị suy dinh dưỡng nhưng vẫn phát triển vận động và trí tuệ bình thường.

3011
05-05-2010, 10:18 AM
Hiện nay, tình trạng trẻ em mắc đái tháo đường type 2 có xu hướng gia tăng ở các nước thuộc khu vực châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên, khác với người lớn, đái tháo đường ở trẻ em rất khó khống chế do trẻ vẫn cần dinh dưỡng để phát triển. Chưa kể đến sự "thiếu hiểu biết" của một bộ phận không nhỏ phụ huynh.
Những nghiên cứu gần đây cho thấy, tình trạng trẻ mắc đái tháo đường type 2 ngày càng tăng là do thói quen ăn uống và lối sống thiếu lành mạnh. Thống kê ở Nhật Bản và Trung Quốc cho thấy, tỉ lệ trẻ đái tháo đường type 2/type 1 ở lứa tuổi học sinh trung học là 4/1. Còn ở nước ta, không ít lần báo giới đã lên tiếng về những trường hợp trẻ nhỏ (cấp tiểu học) mắc đái tháo đường type 2. Trường hợp nhỏ nhất là một bé 6 tuổi hiện đang điều trị tại Bệnh viện Nội tiết.
Nguyên nhân do lối sống: Đái tháo đường type 1 ở trẻ là bệnh có tính chất di truyền, do rối loạn tổng hợp insulin, rối loạn nơi sản xuất insulin, có tính chất bẩm sinh nhiều hơn, bắt buộc phải điều trị bằng insulin thay thế. Đái tháo đường type 2 vốn thường gặp ở người lớn do liên quan đến yếu tố ăn uống, béo phì, cao huyết áp, lười vận động không tiêu hao năng lượng..., phải điều trị bằng thuốc và kết hợp điều chỉnh chế độ ăn, giảm cân.
Vì vậy, theo bác sĩ Lê Thị Hải, đa phần trẻ mắc đái tháo đường type 2 ở nước ta thường gắn liền với chứng thừa cân, béo phì, do lối sống thiếu cân bằng và chứng ăn uống thiếu điều độ gây nên. Một phần nguyên nhân nữa là do nhận thức của những người làm ông bà, cha mẹ. Bác sĩ Hải cho biết, không ít trường hợp bệnh nhi đến khám ở tình trạng thừa cân, béo phì và có nguy cơ mắc đái tháo đường type 2 cực cao. Nhưng khi bác sĩ tư vấn về chế độ ăn uống thì các bậc phụ huynh lại "giãy nảy" lên mà rằng con họ chỉ hơi mũm mĩm thôi và cháu lười ăn lắm (?!)...
Trong khi đó, việc điều trị bệnh cho trẻ đái tháo đường type 2 không hề đơn giản. Thông thường, người mắc đái tháo đường type 2 ngoài dùng thuốc còn phải tuân theo một chế độ ăn kiêng cực kỳ nghiêm ngặt. Nhưng với trẻ, nhất là những trẻ đang độ tuổi phát triển, không thể bắt trẻ kiêng khem quá mức. Hơn thế nữa, với trẻ, việc tạo lập một ý thức về bệnh không dễ.

3011
05-05-2010, 10:20 AM
Bệnh từ viêm họng : Thấp tim được coi là bệnh nguy hiểm bởi gây suy tim, hoặc để lại di chứng ở van tim. Thấp tim thường khởi phát từ nguyên nhân rất đơn giản. Đó là: Viêm họng, viêm đường hô hấp trên do vi khuẩn liên cầu khuẩn beta tan huyết nhóm A bình thường có thể tổn hại ngay trong họng những người khỏe mạnh, trong một điều kiện nào đó thì gây viêm họng. Thực tế, trẻ nhỏ dưới 3 tuổi thường viêm họng do liên cầu khuẩn . Khi viêm họng, dù không chữa trị thì sau 1 -2 tuần cũng sẽ tự khỏi. Nhiều người thấy con khỏi viêm họng đã mừng. Nhưng sau đó một vài tuần, một vài tháng, trẻ có thể xuất hiện thấp tim.
Trẻ thấp tim thường mệt, sốt, đau sưng khớp, khó thở, đau ngực, có ban trên da hoặc dưới da… Các triệu chứng đó có thể dần dần sẽ hết, trừ trường hợp nặng, gây viêm tím nặng, suy tim. Dù triệu chứng thấp tim hết, nhưng sau đó sẽ để lại di chứng ở van tim. Di chứng có thể có ngay từ đợt trị bệnh đầu tiên nhưng có thể một vài tháng, một vài năm, có những người hàng chục năm sau mới để lại di chứng ở van tim, người bệnh trở thành người tàn phế. Điều nguy hiểm là viêm họng do liên cầu khuẩn có thể lây lan từ trẻ này sang trẻ khác. Vì thế, trẻ khỏe mạnh cần được cách ly, giữ gìn, tránh tiếp xúc với các trẻ viêm họng khác để tránh nhiễm liên cầu khuẩn.
Dùng kháng sinh dự phòng: Khi bị thấp tim, trẻ cần được theo dõi và điều trị tại bệnh viện. Thấp tim tuy nguy hiểm nhưng có thể phòng được. Phòng không bị thấp tim còn gọi là phòng thấp cấp 1, tức là phát hiện và điều trị kịp thời tất cả những trường hợp viêm họng do liên cầu khuẩn beta tan huyết nhóm A ở trẻ 5 - 15 tuổi.
Khi trẻ bị viêm họng, cần dùng kháng sinh thông thường như penxilin. Nếu trẻ dưới 30kg, dùng 1 triệu đơn vị penxilin/ ngày và uống trong 10 ngày. Đối với trẻ trên 30kg, dùng 2 triệu đơn vị/ ngày, uống trong 10 ngày. Hoặc có thể dùng amoxilin, ampixilin, những kháng sinh dòng betalactamin. Nói chung, những kháng sinh này đem lại hiệu quả điều trị tới 80-90%. Nếu điều trị kịp thời mỗi lần viêm họng, sẽ phòng được thấp tim.
Hoặc có thể tiêm một mũi duy nhất benzatin penixilin 1 triệu 200 ngàn đơn vị cho trẻ trên 30kg, 600 ngàn đơn vị cho trẻ dưới 30kg. Khi trẻ đã bị thấp tim, sau khi điều trị thấp tim ổn định, cần phòng thấp cấp 2. Nguyên lý của phòng thấp cấp 2 là trong cơ thể những đứa trẻ đã bị thấp tim lúc nào cũng có một lượng penixilin đủ để tiêu diệt vi khuẩn (liều 0,2 nanogam/ 1ml huyết tương). Thường tiêm penxatin pelixi, tiêm mông và tiêm 28 ngày/lần, liều 1 triệu 200 ngàn đơn vị với trẻ trên 30kg, liều 600 ngàn đơn vị với trẻ dưới 30kg. Thời gian tiêm ít nhất là 5 năm và ít nhất cho đến khi trẻ 18-25 tuổi. Nếu đã bị bệnh van tim thì tiêm suốt đời.
Do điều kiện thời tiết, khí hậu và sức đề kháng, trẻ con hay vị viem đường hô hấp trên. Những trẻ từ 5-15 tuổi, có biểu hiện viêm đường hô hấp trên, mặc dù không được bác sĩ khám, hoặc không được làm xét nghiệm xem có liên cầu không, nhưng cha mẹ cũng nên cho trẻ dùng, một đợt penixilin trong 10 ngày, coi như bị viêm họng do liên cầu đề phòng thấp tim. Khi đã bị thấp tim thì không nên tự chữa ở nhà mà nên đến các cơ sở y tế để các bác sĩ có chuyên môn điều trị.

3011
05-05-2010, 10:21 AM
Ruột thừa là một bộ phận nhỏ như ngón tay cái nằm phía dưới bên phải bụng, có một đầu bịt kín, đầu kia thông với manh tràng (đoạn đầu tiên của ruột già). Nếu vì nguyên nhân nào đó làm lòng ruột thừa bị tắc nghẽn sẽ khiến ruột thừa bị viêm, sưng và nhiễm trùng. Nếu không điều trị, ruột thừa có thể bị hoại tử, vỡ ra, dẫn đến viêm phúc mạc, nhiễm khuẩn huyết và cuối cùng là tử vong. Viêm ruột thừa có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, thậm chí cả trẻ 3-4 tuổi.
Lưu ý các dấu hiệu sau ở một trẻ có khả năng bị viêm ruột thừa: đau bụng vùng quanh rốn, hố chậu phải; sốt nhẹ; buồn nôn và nôn; tiêu lỏng; bụng trướng.
Những trường hợp này rất khó chẩn đoán vì trẻ chưa biết diễn đạt rõ ràng và không dễ phân biệt với các bệnh lý có triệu chứng đau bụng khác. Viêm ruột thừa ở trẻ tiến triển rất nhanh, chỉ cần 6-8 giờ có thể vỡ; do vậy việc phát hiện và chẩn đoán sớm viêm ruột thừa để phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa bị viêm là rất cần thiết nhằm tránh những điều đáng tiếc có thể xảy ra.
Triệu chứng điển hình của viêm ruột thừa là đau vùng bụng dưới bên phải. Kiểu đau của viêm ruột thừa thường bắt đầu vùng quanh rốn trước khi khu trú ở hố chậu phải.
Trẻ bị viêm ruột thừa thường có môi khô lưỡi dơ, biểu hiện tình trạng nhiễm trùng. Phần lớn trẻ sốt nhẹ, dao động 38-38,5OC nhưng có khi trẻ không có triệu chứng này, chỉ khi đoạn ruột thừa viêm bị vỡ mới sốt. Ngoài ra, bé sẽ có tình trạng mệt mỏi, chán ăn, bụng trướng do ruột bị kích thích kèm theo buồn nôn, nôn ói. Tiêu chảy có thể có hoặc không, nhưng nếu có sẽ làm tăng khả năng chẩn đoán. Biểu hiện nôn và tiêu chảy ở trẻ viêm ruột thừa cũng dễ bị nhầm với rối loạn tiêu hóa. Các biện pháp chẩn đoán hình ảnh như siêu âm không phải lúc nào cũng phát hiện tổn thương viêm ruột thừa. Do vậy, chẩn đoán viêm ruột thừa phải dựa vào các triệu chứng của bệnh do người nhà phát hiện và kết quả nhiều lần thăm khám bệnh của bác sĩ.
Các triệu chứng này có thể xuất hiện không đầy đủ. Do đó các bậc phụ huynh cần đưa con đi khám nếu trẻ đau bụng nhiều, không giảm sau 1-2 giờ kèm theo nôn, đi lỏng hoặc sốt để được theo dõi tại bệnh viện. Ngoài ra, phụ huynh không nên tự ý dùng thuốc giảm đau cho trẻ nếu trẻ đau bụng mà chưa xác định được nguyên nhân, vì thuốc có thể làm mất các triệu chứng bệnh và gây khó khăn cho việc chẩn đoán của bác sĩ.

3011
05-05-2010, 10:24 AM
Táo bón là hiện tượng trẻ đi ngoài khó khăn, phân rắn và khô, hoặc khoảng cách 2 lần đại tiện quá xa nhau.
1. Biểu hiện của bệnh táo bón- Trẻ biếng ăn, ăn không tiêu.
- Bụng chướng, đầy hơi, đau bụng.
- Sờ nắn bụng thấy những cục phân rắn.
Trẻ sơ sinh được coi là táo bón khi đi tiêu dưới 2 lần/ngày. Với trẻ bú mẹ, số lần này là trên 2 ngày/lần và trẻ lớn trên 3 ngày/lần. Có nhiều nguyên nhân gây chứng bệnh này, nhưng phần lớn là do chế độ ăn uống và đa số bệnh dễ khắc phục.
2. Những nguyên nhân dẫn đến táo bón- Táo bón do nguyên nhân ăn uống là loại hay gặp nhất.
- Bệnh toàn thân: trẻ còi xương (do trương lực cơ giảm làm cho nhu động ruột kém, phân phải lưu chuyển lâu trong lòng ruột), trẻ suy dinh dưỡng do biếng ăn nên trẻ thường ăn ít dẫn đến tình trạng "đói" phân, mấy ngày trẻ mới đi ngoài một lần, trẻ bị thiếu máu thường phải uống vi sắt cũng là nguyên nhân gây táo bón.
- Nguyên nhân do tổn thương thực thể ở đường tiêu hóa: Ðó là các dị tật bẩm sinh: phình to đại tràng, bệnh suy giáp trạng. Khi mắc các bệnh này trẻ thường bị táo bón rất sớm từ ngay sau khi đẻ. Ngoài ra còn do các nguyên nhân mắc phải như: trẻ bị nứt hậu môn, bị trĩ, nên trẻ đi ngoài bị đau gây co thắt hậu môn.
Tổn thương thực thể ở đường tiêu hoá gây táo bón hiếm gặp, thường chỉ chiếm 5% trong các nguyên nhân gây táo bón.
- Nguyên nhân cơ năng: Là táo bón loại bỏ các nguyên nhân thực thể về giải phẫu như:
+ Sai lầm trong chế độ ăn uống: Cho trẻ uống ít nước dẫn đến thiếu nước. Chế độ ăn không hợp lý: quá nhiều chất đạm, ít chất xơ do ăn ít rau xanh, quả chín, pha sữa quá đặc, ăn chưa đủ số lượng hàng ngày, trẻ ăn sữa bò dễ bị táo bón hơn sữa mẹ, mẹ bị táo bón con bú sữa cũng dễ bị táo bón.
+ Táo bón do yếu tố tâm lý: thường hay gặp ở lứa tuổi trẻ mẫu giáo. Do trẻ ngại xin phép cô giáo, hoặc sợ bẩn không muốn đi đại tiện, sau vài lần làm cho đại tràng dãn to vì vậy phân phải tích nhiều ngày mới đủ kích thích đại tràng gây phản xạ đi ngoài. Trẻ thường đi ngoài phân khuôn to như người lớn, phân cứng và khô.
+ Táo bón do dùng thuốc: hay gặp khi trẻ bị ốm phải dùng thuốc kháng sinh hoặc thuốc ho, thuốc ho có codein, viên sắt...
3. Cha mẹ làm gì khi con bị táo bón?
Sau khi đã áp dụng những cách trên mà tình trạng đi ngoài của trẻ vẫn không được cải thiện, cha mẹ nên đưa trẻ đi khám để được chẩn đoán chính xác nhất. Vì trẻ bị còi xương, thiếu máu, suy dinh dưỡng cũng dễ bị táo bón.
- Cho trẻ ăn đủ số lượng hằng ngày.
- Cho trẻ uống nhiều nước trong ngày.
- Cho trẻ ăn nhiều rau xanh và hoa quả: chọn các loại rau có tính chất nhuận tràng như rau khoai lang, mồng tơi, rau dền, củ khoai lang. Khi nấu bột và cháo, phải băm nhỏ cho trẻ ăn cả cái. Cho trẻ ăn các loại quả: chuối tiêu, đu đủ, bưởi, cam, quýt, thanh long... Khi trẻ đã bị táo bón không nên ăn cà rốt, hồng xiêm, táo...
- Có thể dùng nước cốt khoai lang sống: khoai lang gọt vỏ, rửa sạch, đem giã nhỏ vắt lấy nước cho trẻ uống.
- Trẻ ăn sữa bò bị táo bón: pha sữa loãng hơn bình thường một chút, có thể pha thêm 1 thìa cà phê nước quả (cam, quýt) vào cốc sữa cho trẻ, hoặc dùng nước cháo pha sữa cho trẻ từ 5 tháng trở lên.
- Mẹ bị táo bón cho con bú thì phải điều trị táo bón cho mẹ: ăn nhiều rau quả, uống nhiều nước.
- Xoa bụng cho trẻ theo chiều kim đồng hồ từ phải sang trái ngày 3-4 lần, mỗi lần 15 phút vào khoảng cách giữa 2 bữa để kích thích làm tăng nhu động ruột.
- Tập thói quen ăn nhiều rau trong bữa ăn: thái nhỏ nấu canh, luộc rau cho trẻ ăn trước. Trẻ lứa tuổi mẫu giáo cần 100-150g rau/ngày. Cho trẻ ăn cả múi các loại quả: cam, quýt, bưởi, ăn đu đủ, chuối tiêu, thanh long...
- Tập cho trẻ đi đại tiện đúng giờ quy định, chọn thời gian lúc nào trẻ không vội vã, nên chọn sau bữa ăn vì lúc này nhu động ruột hoạt động tăng, nên tránh bắt trẻ ngồi bô hoặc ngồi hố xí quá lâu.
- Các trường hợp táo bón do nứt hậu môn: rửa sạch hậu môn, bôi dung dịch bạc nitơrat 2%.
- Ðiều trị các bệnh còi xương, suy dinh dưỡng, thiếu máu... nếu có.
- Khi đã dùng các biện pháp trên không có hiệu quả thì mới dùng thuốc và thụt tháo.
- Cho trẻ uống dầu parafin: 5-10ml (trẻ nhỏ), 10-20ml (trẻ lớn) vào buổi sáng.
- Thụt tháo: là biện pháp cuối cùng nếu trên 3 ngày sau khi đã dùng mọi biện pháp trên mà trẻ vẫn không đi ngoài được. Dùng nước muối sinh lý hoặc nước ấm pha mật ong tỷ lệ 5%. Đối với trẻ nhỏ hơn 1 tuổi mỗi lần thụt 100ml, trẻ lớn hơn 1 tuổi thụt 200ml hoặc thuốc micolax thụt hậu môn mỗi lần thụt 1 ống.
Khi có các biểu hiện sau cha mẹ cần đưa trẻ đi bệnh viện ngay:
- Táo bón kéo dài trên một tuần, thay đổi chế độ ăn không có tác dụng.
- Táo bón sau khi trẻ mới sinh, bụng chướng.
- Táo bón ảnh hưởng đến sức khỏe: kém ăn, gầy sút, suy dinh dưỡng, kèm theo nôn.
4. Những bài tập cho trẻ bị táo bón- Tăng cường vận động cơ thành bụng và cơ tròn hậu môn: chạy nhảy nô đùa, tập thể dục, thể thao (trẻ lớn).
- Xoa bụng cho trẻ: theo khung đại tràng từ phải qua trái ngày 3 - 4 lần vào khoảng cách giữa 2 bữa ăn (trẻ dưới 1 tuổi).
- Vệ sinh đại tiện: tập cho trẻ đại tiện đúng giờ quy định, trẻ nhỏ thì xi ị hoặc cho trẻ ngồi bô vào một giờ nhất định trong ngày.
- Điều trị các bệnh: còi xương, suy dinh dưỡng, thiếu máu (nếu có).
- Dùng thuốc: thuốc nhuận tràng, men tiêu hóa vi sinh, vitamin C theo đơn của thầy thuốc.

3011
05-05-2010, 10:27 AM
Bệnh suyễn ở trẻ em còn gọi là bệnh hen phế quản (HPQ) là một bệnh mạn tính của đường hô hấp. Bệnh biểu hiện bằng sự co thắt phế quản và làm tăng tiết chất nhầy niêm mạc phế quản. Hai hiện tượng này làm cản trở sự lưu thông của không khí, vì vậy trẻ khó thở. Mức độ khó thở nhiều hay ít còn tùy thuộc vào sự co thắt phế quản và sự bài tiết dịch nhầy nhiều hay ít. Ngoài ra, còn tùy thuộc vào tính chất của bệnh có bị viêm nhiễm do vi sinh vật (vi khuẩn, virus, vi nấm) hay không? Nếu có thì bệnh còn phức tạp hơn nhiều.
Căn nguyên của HPQ là gì?
Người ta chưa xác định hết các căn nguyên, bởi vì theo các chuyên gia về bệnh hen thì có rất nhiều loại có khả năng gây bệnh hen hoặc là gây nguy cơ cao của bệnh HPQ.
Một điều dễ nhận thấy là mỗi khi thời thiết thay đổi từ nắng ấm sang lạnh, gió mùa đông bắc, áp thấp nhiệt đới, ẩm ướt, trẻ cảm lạnh do mặc không đủ ấm, tắm khi có gió lùa, mặc quần áo bị ướt (do trẻ nghịch nước hoặc khi trẻ “tè ra quần” mà người lớn không biết...) thì ở các trẻ có tiền sử HPQ rất dễ tái phát.
Viêm đường hô hấp do vi sinh vật (như viêm mũi họng, VA, viêm phế quản, tiểu phế quản), một số thức ăn (như tôm cua, ốc...), lông của một số động vật nuôi trong nhà (như chó, mèo...), một số côn trùng, tiết túc, đặc biệt là mạt gà, một số dược phẩm hoặc đôi khi gắng sức (khóc, chạy nhảy nhiều, đùa nghịch quá mức...) cũng là một trong các nguy cơ cao làm cho trẻ có tiền sử bị HPQ tái phát.
Vấn đề khói, bụi bẩn cũng là một trong những vấn đề cần quan tâm. Khói thuốc lá, thuốc lào do người lớn phả ra một cách thường xuyên, khói bếp do đun rơm rạ, củi, rác, nhất là khói và khí của bếp than đá (than tổ ong); bụi nhiều nhất là các vùng đô thị vệ sinh môi trường, vệ sinh hoàn cảnh, vệ sinh công nghiệp chưa tốt, là những yếu tố có nguy cơ cao làm cho trẻ xuất hiện cơn HPQ.
Làm thế nào để biết trẻ bị HPQ?Đối với cơn HPQ nhẹ, thường xuất hiện khi gắng sức (khóc, chạy nhảy quá mức...), biểu hiện là cơn ho như: ho gà, nói được câu dài không bị ngắt quãng. Nghe phổi thấy có tiếng ran rít vào cuối thì thở ra.
Đối với HPQ vừa thì cơn ho xuất hiện khi trẻ gắng sức, tiếng nói ngắt quảng, bắt đầu thấy dấu hiệu co kéo ***g ngực, hõm ức, hố thượng đòn. Nghe thấy ran rít thì thở ra.
Đối với HPQ nặng thì khó thở, ho khi nghỉ ngơi, cánh mũi phập phồng; trẻ nhỏ không thể bú được; hiện tượng co kéo ***g ngực, mũi ức, hố thượng đòn rất rõ; nhìn môi của trẻ thấy tím tái. Nói hoặc khóc rất khó khăn (chỉ từng từ một). Nghe phổi có ran rít to cả 2 thì thở ra và hít vào.
Đối với cơn HPQ rất nặng (ác tính) thì trẻ khó thở dữ dội, không thể khóc hoặc nói và lúc này nghe phổi không còn thấy ran. Cơn hen xảy ra liên tiếp trong nhiều ngày nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời.
Trong HPQ, nếu có kèm theo sốt thì rất có khả năng trẻ bị viêm đường hô hấp (có thể là hô hấp trên hoặc hô hấp dưới) do vi sinh vật (vi khuẩn, vi nấm hoặc virus).
Khi trẻ nghi bị HPQ nên làm gì?
Cần thiết cho trẻ đi khám bệnh, đặc biệt là khám bác sĩ chuyên khoa nhi, tuyệt đối không nên nghe theo mách bảo của bạn bè, người thân không có chuyên môn về y, nhất là không có kinh nghiệm về HPQ ở trẻ em. Không nên tự mua thuốc để điều trị cho trẻ vì không những không khỏi, mà nhiều khi còn gây nguy hiểm cho tính mạng của trẻ.
Những lúc trẻ đang bị lên cơn HPQ không được tắm cho trẻ, tránh cho trẻ chơi, ngồi hoặc bế trẻ ra nơi có gió lùa sẽ làm cho trẻ bị lạnh đột ngột, cơn hen sẽ tăng nặng hơn. Đối với trẻ lớn nên động viên, an ủi, tình cảm với cháu, không nên làm cho trẻ buồn, lo lắng, chán nản.
Khi trẻ lên cơn hen nặng, hen cấp tính (khó thở gấp, dữ dội, môi tím, không bú được, không khóc được, nói ngắt quãng hoặc không nói được...) cần khẩn trương đưa cháu đến cơ sở y tế gần nhất để cấp cứu, tránh để xảy ra điều đáng tiếc.
Nên làm gì để phòng bệnh HPQ?
Cần mặc ấm cho trẻ về mùa lạnh, nhất là khi đi ra khỏi nhà. Chỉ nên tắm cho trẻ khi không có cơn hen (trẻ vẫn ăn, chơi bình thường). Tắm ở buồng không có gió lùa, tắm nước ấm, cần tắm nhanh, tắm xong phải lau khô người cho trẻ ngay, lau bằng khăn khô và mặc ngay quần áo cho trẻ. Mùa lạnh mỗi lần chuẩn bị tắm, rửa cho trẻ nên chuẩn bị một số phương tiện như: quần áo sạch, lò sưởi, điều hòa nóng (nếu có điều kiện) để sau khi tắm, rửa xong là cháu được tiếp xúc ngay với khí ấm, hạn chế lạnh đột ngột làm cho trẻ dễ bị cảm lạnh và nguy cơ xuất hiện cơn HPQ trên trẻ có sẵn tiền sử bị hen.
Đối với trẻ có tiền sử HPQ thì không cho trẻ ăn, uống các loại thức ăn có nguy cơ cao xuất hiện cơn hen như: tôm, cua, ốc. Bố, mẹ và người lớn không nên hút thuốc trong nhà. Nếu chưa có điều kiện dùng bếp điện, bếp ga thì nên cải tiến bếp đun củi, rơm, rạ bằng loại bếp ít khói. Không nên nuôi chó, mèo trong nhà. Cần đề phòng có mạt gà chui trong chăn, gối, đệm bằng cách phơi nắng chăn, gối, đệm mỗi khi có điều kiện. Trong phòng ngủ của trẻ không nên quét nhà bằng chổi mà nên lau bụi bằng khăn ướt, hút bụi bằng máy (nếu có thể). Trẻ đã từng bị HPQ, đã được bác sĩ tư vấn và điều trị cần nghe theo chỉ dẫn của thầy thuốc, đặc biệt cần điều trị phòng hen theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa. Bởi vì khi trẻ bị HPQ, ngoài việc điều trị cắt cơn hen còn có điều trị dự phòng. Mặt khác, điều trị bệnh HPQ trẻ em không giống như người lớn về thuốc, liều lượng, cách dùng... bởi lẽ “trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại”.

3011
05-05-2010, 10:29 AM
Viêm xoang ở trẻ em khác gì với người lớn?
Viêm xoang trẻ em khác với người lớn, đây không phải là người lớn thu nhỏ mà ở lứa tuổi này hệ thống xoang đang trong giai đoạn hình thành và phát triển. Hệ thống xoang mặt bắt đầu được hình thành từ tuần thứ tư của thời kỳ bào thai, xuất phát từ một tế bào sàng. Tế bào sàng phát triển xâm lấn vào các xương để tạo thành các xoang khác nhau như xâm lấn vào xương trán tạo xoang trán, xâm lấn xương hàm trên tạo xoang hàm và xâm lấn vào xương bướm để hình thành xoang bướm.
Chính vì vậy các xoang có liên hệ mật thiết với nhau nên thường bị viêm nhiều xoang cùng một lúc. Xoang sàng có ngay từ khi trẻ ra đời nhưng những các xoang khác được tạo thành dần: xoang hàm có khi trẻ 3-4 tuổi, xoang trán và xoang bướm chỉ xuất hiện khi trẻ được 7- 8 tuổi. Hệ thống xoang chỉ hoàn thiện ở người 20 tuổi.
Điều trị viêm xoang phải do chỉ định của thầy thuốc chuyên khoa tai mũi họng
Kích thước các xoang của trẻ rất nhỏ, đôi khi mới chỉ là một rãnh hằn vào xương làm cho việc chẩn đoán bệnh gặp nhiều khó khăn vì các triệu chứng thường không điển hình và khó khai thác được chính xác.
Trẻ nào thường bị viêm xoang?
Trong các thập niên gần đây, bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp trên ở trẻ em có xu hướng gia tăng, hay gặp nhất là các trẻ có cơ địa dị ứng hoặc sống trong môi trường ô nhiễm, hít phải khói thuốc lá thụ động, hơi khói của các khu công nghiệp, bếp than..., sự giảm dần của diện tích cây xanh trong môi trường sống. Tỷ lệ viêm xoang ở trẻ em lên tới 1,7% số bệnh nhân bị mắc bệnh tai mũi họng học đường (điều tra của Bệnh viện Tai mũi họng Trung ương năm 2005).
Tỷ lệ trẻ em trai mắc bệnh viêm mũi xoang tương đương với trẻ em gái (trai là 54%, gái là 46%).
Phân biệt viêm xoang với viêm đường hô hấp trên
Làm thế nào để phân biệt trẻ bị viêm xoang với một đợt viêm đường hô hấp trên cấp tính vì trong một năm trẻ có thể mắc từ 6-8 lần? Chẩn đoán viêm mũi xoang ở trẻ nhỏ chủ yếu dựa vào triệu chứng lâm sàng khi thăm khám. Diễn biến và biểu hiện bệnh như sau:
Sau một đợt viêm mũi họng cấp kéo dài trên 1 tuần (viêm nhiễm đường hô hấp trên chỉ kéo dài trung bình 5-7 ngày là hết), trẻ vẫn còn sốt nhẹ, người mệt mỏi, xì mũi màu vàng, xanh đặc, có mùi hôi. Trẻ thường xuyên có cảm giác chảy đờm từ mũi xuống họng nên hay bị ho, nhất là ban đêm khi ngủ. Hơi thở hôi và dễ nôn oẹ.
Trẻ bú không được dài hơi như khi đang khỏe do tắc mũi. Trẻ hay quấy khóc, thở ngáy, ngủ không ngon giấc, mệt mỏi kèm theo hốc mắt có quầng thâm. Trẻ lớn hơn hay phàn nàn bị đau đầu nặng mặt, dễ buồn ngủ. Đôi khi trong đợt viêm cấp mặt trước của má bị sưng nề đỏ, ấn đau hoặc có biểu hiện sưng nề, đóng bánh ở góc trong ổ mắt do hiện tượng viêm xoang sàng rò mủ ra ngoài da.
Khám bệnh thấy tình trạng niêm mạc mũi bị phù nề, xuất tiết nhiều dịch, khe giữa đọng nhiều mủ vàng xanh. Một số trường hợp viêm mũi xoang lâu ngày dẫn tới hình thành polip mũi. Tổ chức V.A ở trần vòm trong tình trạng quá phát và đọng mủ.
Quan sát họng miệng thấy mủ vàng xanh bám đầy thành sau họng xuống tận dưới hạ họng.
Màng tai thường dày đục và lõm, một số trẻ có hiện tượng ứ đọng dịch trong hòm tai-viêm tai giữa thanh dịch - do sự thông khí kém giữa tai và mũi họng.
Chụp Xquang xoang thường như phim Blondeau, Hirtz chỉ cân nhắc thực hiện khi nghi ngờ có biến chứng của viêm xoang do ảnh hưởng nặng nề của tia chụp với trẻ nhưng thật sự cũng khó đánh giá tình trạng viêm xoang của trẻ trên hai phim này vì mặt trước của xoang bị các mầm răng cản trở. Nếu thấy thật cần thiết chỉ nên chụp phim cắt lớp vùng xoang để đánh giá chính xác tình trạng của bệnh.
Khi trẻ bị viêm xoang cần điều trị như thế nào?Điều trị nội khoa là chính từ 4-6 tuần với kháng sinh toàn thân nhóm b lactam hoặc macrolid kết hợp với thuốc chống viêm, giảm phù nề, chống dị ứng.
Tại chỗ dùng các thuốc nhỏ mũi nhóm co mạch, chống viêm, giảm xuất tiết để làm thông thoáng lỗ dẫn lưu xoang.
Chỉ định phẫu thuật chỉ đặt ra khi điều trị nội khoa sau 6 tháng thất bại hoặc có những biến chứng của viêm xoang theo chỉ định chặt chẽ của các thầy thuốc chuyên khoa tai mũi họng.

3011
05-05-2010, 10:31 AM
Tại sao trẻ hay bị viêm mũi họng?
Mũi và hầu là đường không khí đi từ ngoài vào đến phổi, cung cấp ôxy cho cơ thể. Không khí hít vào đồng thời những tác nhân gây bệnh cũng vào theo. Trẻ dưới 3 tuổi có thể viêm mũi 4 - 6 lần trong một năm, tần số có thể tăng lên trong thời kỳ bé đi nhà trẻ, mẫu giáo sau đó giảm dần. Chính vì vậy chúng ta không nên quá lo lắng khi thấy con đi trẻ vài ngày lại phải nghỉ vài ngày vì ho, sổ mũi. Đây cũng chính là quá trình thích nghi cần thiềt để cơ thể trẻ có đủ khả năng miễn dịch. Tuy nhiên viêm mũi sẽ trở thành bệnh lý khi tái phát quá nhiều lần hoặc đưa đến những biến chứng như viêm phổi, viêm tai...
Viêm mũi ở trẻ em chủ yếu là do virut. Khởi đầu virut xâm nhập làm rối loạn hoạt động bình thường của mũi và làm suy yếu sự đề kháng tại chỗ, tạo thuận lợi cho sự phát triển của vi khuẩn, đưa đến sự bội nhiễm vi khuẩn.
Trẻ bị viêm mũi họng có những biểu hiện gì?
- Sốt: Thường sốt xuất hiện đột ngột và khá cao 39-40oC, trong 2-3 ngày.
- Trẻ bứt rứt, quấy khóc, kém ăn, đôi khi có nôn ói, tiêu chảy.
- Ngạt mũi kèm theo chảy nước mũi trong hoặc mũi nhầy mủ và ho.
Các biểu hiện kéo dài 5-7 ngày rồi thuyên giảm, nếu kéo dài trên 7 ngày phải đề phòng có những biến chứng của viêm mũi.
Các biến chứng có thể gây nguy hiểm:
Trẻ sốt cao có thể dẫn đến co giật, đặc biệt thường gặp nhất là viêm tai giữa, trẻ sốt cao, trẻ lớn sẽ kêu đau trong tai, nghe kém, trẻ nhỏ hay dụi vào tai, nặng hơn là chảy mủ tai, viêm xoang hàm cấp ở trẻ lớn và viêm thanh quản cấp (tiếng khóc bị khàn, trẻ khó thở), viêm phế quản, viêm phổi (trẻ thở mệt, khò khè).
Xử trí khi trẻ bị viêm mũi họng: Nếu trẻ sốt cao trên 38o C, cần hạ sốt bằng phương pháp lau mát và thuốc hạ sốt.
Dùng khăn bông cho vào nước ấm (bằng thân nhiệt của trẻ 37 - 40oC) vắt ráo, lau khắp người trẻ và xếp các khăn này để vào hai bên nách và bẹn, đổi khăn lần lượt đến khi nhiệt độ của trẻ dưới 38oC thì không cần lau mát mà cho trẻ mặc quần áo mỏng, thoáng, nơi trẻ nằm phải thoáng, tránh gió mạnh, tránh quạt và vẫn phải theo dõi nhiệt độ cho trẻ thường xuyên. Dùng thuốc hạ sốt nhóm paracetamol. Ngoài ra cho trẻ uống nhiều nước vì sốt làm mất nước.
Nhỏ mũi cho trẻ bằng dung dịch nước muối 0,9%, ngày 4 - 5 lần cho đến khi trẻ hết chảy nước mũi, dạy trẻ biết cách hỉ mũi đúng (bịt một bên, hỉ mũi bên kia). Đặc biệt theo dõi sát để phát hiện sớm các biến chứng và điều trị kịp thời. Đặc biệt chú ý khi trẻ đang bị viêm mũi bỗng nhiên thấy sốt cao phải đề phòng viêm tai để dùng kháng sinh toàn thân ngay. Nếu có chảy mủ tai phải được xử trí kịp thời bằng đặt dẫn lưu để tránh biến chứng thủng màng nhĩ.
Chú ý : Không tự ý dùng thuốc kháng sinh khi chưa có chỉ định của thầy thuốc, vì có thể làm bệnh nặng hơn; tuyệt đối không dùng thuốc nhỏ mũi của người lớn cho trẻ em. Khi thấy viêm mũi kéo dài trên 7 ngày hoặc có triệu chứng nặng hơn như đau tai, khàn tiếng, khó thở phải kịp thời đưa trẻ đến cơ sở y tế để được thăm khám và điều trị.
Chế độ ăn của trẻ phải đủ chất dinh dưỡng thịt, cá, trứng, đậu, rau củ quả chín... có như vậy mơi giúp trẻ nhanh hồi phục.

3011
05-05-2010, 10:33 AM
Sốt virus chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, vì vậy cách xử lý tốt nhất là hạ sốt, chườm mát, bù nước và điện giải. Nếu không có bội nhiễm vi khuẩn thì đừng dùng kháng sinh.
Cơ thể trẻ em chưa có sức đề kháng cao nên rất dễ bị nhiễm bệnh. Trong những ngày hè này, việc tăng số trẻ nhập viện do sốt virus là hiện tượng rất hay gặp tại các khoa nhi.
Trong điều kiện bình thường cũng có những virus ký sinh trên đường hô hấp, tiêu hóa... Khi gặp điều kiện thuận lợi, chúng phát triển, xâm nhập cơ thể và gây bệnh. Các loại virus thường gây sốt gồm myxo, coxackie, entero, sởi, thủy đậu, viêm não Nhật Bản... Virus có thể lây từ người này sang người khác, đặc biệt là nhiễm qua đường hô hấp, tiêu hóa, có thể gây thành dịch. Một trong các triệu chứng nổi bật của tình trạng nhiễm virus là sốt cao, thuật ngữ y học gọi là sốt virus.
Đặc điểm của sốt do nhiễm virus: Sốt cao: Đây là biểu hiện thường gặp ở những trường hợp sốt do virus, thường từ 38 đến 39 độ C, thậm chí 40-41 độ C. Trong cơn sốt, trẻ thường mệt mỏi và ít đáp ứng với các loại thuốc hạ sốt thông thường như paracetamol... Khi hạ sốt, trẻ lại tỉnh táo, chơi bình thường.
Đau mình mẩy: Ở trẻ lớn thì đau cơ bắp nên trẻ thường kêu đau khắp mình, trẻ nhỏ có thể quấy khóc.
Đau đầu: Một số trẻ có thể đau đầu nhưng vẫn tỉnh táo, không kích thích, vật vã.
Viêm long đường hô hấp: Các biểu hiện của viêm long đường hô hấp như ho, chảy nước mũi, hắt hơi, họng đỏ...
Rối loạn tiêu hóa: Thường xuất hiện sớm nếu nguyên nhân gây sốt do virus đường tiêu hóa, cũng có thể xuất hiện muộn hơn vài ngày sau khi sốt với đặc điểm là phân lỏng, không có máu, chất nhầy.
Viêm hạch: Các hạch vùng đầu, mặt, cổ thường sưng to, đau có thể nhìn hoặc sờ thấy.
Phát ban: Thường xuất hiện 2-3 ngày sau khi sốt, khi xuất hiện ban thì sẽ đỡ sốt.
Viêm kết mạc: Kết mạc có thể đỏ, có dử mắt, chảy nước mắt.
Nôn: Có thể trẻ nôn nhiều lần nhưng thường xuất hiện sau khi ăn.
Không có các biểu hiện nhiễm khuẩn.
Các triệu chứng trên thường xuất hiện rất rầm rộ và sau 3-5 ngày sẽ giảm dần rồi mất đi, trẻ trở lại khỏe mạnh.
Xử trí sốt do virus ở trẻ: Các bệnh do virus gây ra hầu hết chưa có thuốc đặc hiệu, chủ yếu là điều trị triệu chứng, đối với sốt virus ở trẻ em cũng vậy. Do đó, các biện pháp thường áp dụng là:
Hạ sốt: Thường dùng paracetamol liều 10 mg/kg, 6 giờ/lần.
Chườm mát: Lau mình trẻ bằng khăn mát, lau khô mồ hôi, để trẻ nằm nơi thoáng mát, mặc quần áo mỏng.
Chống co giật: Nếu trẻ sốt cao trên 38,5 độ C thì nên dùng thuốc hạ sốt kèm theo thuốc chống co giật theo chỉ định của bác sĩ, đặc biệt là những trẻ có tiền sử co giật khi sốt cao.
Bù nước và điện giải: Khi sốt cao có thể gây ra tình trạng mất nước, rốt loạn cân bằng điện giải trong cơ thể, nên dùng các thuốc có tác dụng bù lượng nước mất qua da và điện giải do sốt như oresol, cháo muối nấu loãng.
Chống bội nhiễm: Vệ sinh sạch sẽ cho trẻ, nhỏ mắt, mũi bằng natriclorid 0,9%, tránh bội nhiễm vi khuẩn đường hô hấp.
Dinh dưỡng: Cho trẻ ăn lỏng, dễ tiêu, giàu chất dinh dưỡng.
Vệ sinh: Vệ sinh cơ thể cho trẻ sạch sẽ, tắm bằng nước ấm trong phòng kín.
Phải đưa trẻ đến khám ngay tại trung tâm y tế khi có các dấu hiệu sau: Trẻ sốt cao trên 38,5 độ C, đặc biệt là trên 39 độ C mà dùng thuốc hạ sốt không đáp ứng; lơ mơ, li bì, ngủ nhiều, xuất hiện co giật, đau đầu liên tục, tăng dần; buồn nôn, nôn khan nhiều lần, sốt kéo dài trên 5 ngày.
Sốt virus dễ gây thành dịch nên khi trẻ bị nhiễm bệnh, cần cách ly và giữ ấm. Khi trẻ bị ốm, không nên cho đến trường. Một số bệnh do virus đã có văcxin như viêm não Nhật Bản, sởi, quai bị, rubella...

3011
05-05-2010, 10:35 AM
Cha mẹ nên nghĩ đến bệnh điếc khi thấy đứa con dưới 6 tháng tuổi của mình phản ứng khác thường với thế giới âm thanh. Chẳng hạn như bé dửng dưng khi được gọi hoặc không có phản xạ gì trước những tiếng động lớn và gần.
Tại Cộng hòa Séc, cứ 1.000 trẻ thì có 20-30 em chậm nói hay nói ngọng do bị điếc và 1 em không nói được cũng do nguyên nhân này. Tại Việt Nam, điều tra của viện Tai mũi họng tiến hành ở 4 xã đồng bằng sông Hồng cho thấy, tỷ lệ điếc nặng chiếm 0,16% tổng số dân.
Bệnh điếc ở trẻ nhỏ có thể là bẩm sinh (do bệnh di truyền, bệnh trong thời kỳ bào thai, do đẻ non, đẻ khó, bị ngạt...) hoặc xuất hiện ở tuổi chưa phát triển đầy đủ ngôn ngữ (trước 5 tuổi) do viêm tai, viêm não - màng não. Các bệnh nhiễm virus (như sởi, quai bị) hay nhiễm độc (đặc biệt là nhiễm độc thuốc) đều có thể gây điếc.
Những dấu hiệu của bệnh điếc ở trẻ rất khác nhau, tùy theo lứa tuổi. Ở lứa tuổi vườn trẻ và mẫu giáo, đó là:
- Thiếu phản ứng đối với các âm thanh. Trẻ dường như không chú ý, không vâng lời do không hiểu hoặc hiểu không rõ những gì người khác nói.
- Phát triển mạnh thứ ngôn ngữ bằng nét mặt và điệu bộ (nếu như trẻ hiếu động, thông minh và có nhu cầu giao tiếp).
- Một số trẻ trở nên hung dữ, hay cáu gắt hoặc tính khí khác thường do trẻ thấy cô độc, thấy khó khăn trong việc hiểu người khác và làm cho người xung quanh hiểu mình.
Ở tuổi đi học, các dấu hiệu đáng lo ngại là:
- Trẻ chậm nói, ít nói, diễn đạt khó khăn, phát âm sai...
- Học kém, học chậm, thiếu vâng lời... do chỉ tiếp nhận một phần nhỏ lời giảng của giáo viên.
- Một số trẻ có sự rối loạn về tính tình do bị quở trách, trêu chọc.
Ngoài ra, cha mẹ cần lưu ý khi trẻ có dị hình vành tai hay ống tai ngoài, viêm mũi - họng, đau hoặc viêm tai...
Theo các nhà nghiên cứu, để tiên lượng khả năng và kết quả phục hồi chức năng, có thể phân loại trẻ điếc trên một số góc độ chính:
1. Tuổi xuất hiện điếc.- Trẻ bị điếc trước khi biết nói (trước 2 tuổi) thường được gọi là điếc bẩm sinh. Ở những trẻ này, trở ngại do điếc gây ra đối với sự phát triển toàn diện là tối đa.
- Ở trẻ bị điếc khi đang tập nói (2-5 tuổi), mức độ điếc càng nặng, hậu quả càng xấu.
- Nếu trẻ điếc sau tuổi biết nói (sau 6 tuổi) thì hậu quả ít nặng nề hơn.
2. Mức độ điếc.- Điếc dưới mức 40 dB: Ngôn ngữ của trẻ bình thường nhưng một số trường hợp phát âm bị ngọng.
- Từ 40 đến 60 dB: Ngôn ngữ bị giới hạn, âm sắc của giọng nói bị rối loạn.
- Từ 60 đến 80 dB: Phân biệt rất khó các phụ âm. Đây là những trẻ điếc nặng, có thể trở thành điếc - câm.
- Trên 80 dB: Không thể đạt tới một ngôn ngữ nào nếu không được giúp đỡ bằng những phương pháp đặc biệt. Đây là những trẻ điếc đặc.
Có thể luyện nghe cho trẻ điếc bằng cách tận dụng và luyện các phần thính giác còn sót lại ở trẻ. Từ thế kỷ 17, các chuyên gia về thính học đã luyện nghe cho người điếc bằng cách đưa họ đến những thung lũng, nơi tiếng nói to có độ vang vọng lớn; hay đặt người điếc trong những thùng lớn để họ luyện nghe bằng chính tiếng nói của họ được cộng hưởng vang to trong thùng.
Quá trình luyện nghe chia làm 4 giai đoạn: Tập nghe, tập phân biệt các âm thanh đã nghe, tập nghe tiếng nói một cách tổng thể, phân tích và hiểu được lời nói. Ngày nay, máy trợ thính đã trở thành một công cụ hiệu quả để nâng sức nghe cho người điếc và một phương tiện phổ biến để luyện nghe.

3011
05-05-2010, 10:36 AM
Biểu hiện bệnh như thế nào?
Bệnh khởi phát là viêm họng cấp tính do liên cầu bê ta nhóm A, với các triệu chứng: niêm mạc thành sau họng và amidan sung huyết, đỏ rực, có thể có những chấm mủ trắng; Toàn thân sốt cao, dao động, da xanh, suy kiệt, nổi hạch góc hàm; Biểu hiện ở khớp: có khoảng 80% số trẻ em mắc bệnh thấp có tổn thương ở khớp, trong đó có khoảng 30% thấp khớp đơn thuần, còn lại tổn thương cả ở khớp và tim. Đau khớp đơn thuần chỉ chiếm khoảng 35%; đau và sưng khớp 48%; đau sưng và nóng 18%; các dấu hiệu sưng, nóng, đỏ, đau rất hiếm gặp. Tổn thương xuất hiện ở hầu hết các khớp, kể cả khớp háng. Tổn thương các khớp chi dưới gặp nhiều hơn các khớp chi trên; số khớp lớn tổn thương nhiều hơn các khớp nhỏ; đặc biệt chiếm tỷ lệ cao nhất (40%) là bệnh ở khớp gối. Có khoảng 60-70% số trường hợp đau từ hai khớp trở lên, trong đó 20% đau 3 khớp, 8% đau 4 khớp, di chuyển từ khớp nọ sang khớp kia trong cùng một đợt. Sau 5 - 7 ngày sẽ hết triệu chứng dù điều trị hay không. Tuy ít gặp nhưng vẫn có tổn thương khớp cột sống, trong khi các khớp nhỏ ở ngón tay, ngón chân rất hiếm và đây là một đặc điểm phân biệt với bệnh viêm khớp mạn tính; Bệnh nhân thường sốt 38 - 38,5oC, trong khoảng một tuần. Nếu đã được điều trị nhưng bệnh nhân vẫn sốt cao hơn hoặc kéo dài hơn thì khả năng biến chứng vào tim là khá cao. Tổn thương khớp hay tái phát, có khoảng 60% số ca tái phát nhiều đợt. Từ đợt thấp khớp tái phát lần thứ hai trở đi có gần 70% số trường hợp kèm thấp tim. Người ta thấy rằng chủ yếu trong 2 năm đầu có khoảng 75% số trường hợp tái phát. Vì vậy, nếu quản lý tốt bệnh nhân thấp khớp trong vòng 2-3 năm đầu sẽ hạn chế được đa số các biến chứng vào tim. Các biểu hiện thấp tim xuất hiện sau 2 - 4 tuần nhiễm liên cầu. Trong đợt đầu của bệnh thấp khớp, khoảng 30-40% số ca đồng thời bị thấp tim. Nguy hiểm hơn là 10% số ca thấp tim trước khi có triệu chứng ở khớp. Tổn thương cơ tim và màng trong tim là chủ yếu. Viêm cơ tim thường đồng thời với tổn thương màng trong tim và màng ngoài tim. Tổn thương phổ biến nhất của viêm nội tâm mạc là hở và hẹp van hai lá, hở van động mạch chủ. Bệnh cảnh nhiều khi rất nguy kịch gồm sốt cao, xanh tái, khó thở, tim đập rất nhanh, loạn nhịp, nguy cơ tử vong cao... Biểu hiện thần kinh là triệu chứng muộn của thấp tim, xuất hiện nhiều tuần hoặc nhiều tháng sau nhiễm liên cầu; đó là các vận động nhanh, không tự chủ, không định hướng, không mục đích, tăng lên khi xúc động, mất đi khi ngủ. Biểu hiện ở da hiếm gặp, có thể có các hạt Meynet là những hạt cứng, đường kính từ 0,5 - 2cm dưới da, không dính vào da mà dính vào nền xương, vị trí thường gặp ở đầu gối, ấn không đau; Hoặc có các ban màu hồng hay vàng nhạt, đường kính 1 - 3cm, hình tròn, có bờ viền cao hơn mặt da, vị trí thường ở thân mình, gốc chi, không bao giờ ở mặt. Các hạt Meynet và ban vòng đỏ tồn tại một vài ngày đến một vài tuần rồi biến mất, không để lại di chứng.
Làm gì để phòng tránh bệnh thấp tim?
Các biện pháp chắc chắn phòng ngừa bệnh thấp tim là: dùng liệu pháp kháng sinh để dự phòng cho những bệnh nhân đã từng bị mắc bệnh thấp khớp hay thấp tim. Thuốc có thể dùng là penicillin. Cần phải uống thuốc để dự phòng liên tục trong suốt thời kỳ thiếu niên. Phải điều trị khỏi triệt để các bệnh viêm hầu họng do nhiễm liên cầu khuẩn là điểm quyết định để phòng ngừa bệnh thấp tim.
Tiêm hoặc cho uống thuốc dự phòng đối với trẻ em bị nhiễm khuẩn hô hấp do liên cầu, nhưng chưa bị thấp khớp, với liều duy nhất benzathin penicillin hay erythromycin. Đối với bệnh nhân có nguy cơ cao tái phát thấp tim thì nên sử dụng thuốc tiêm để phòng chống bệnh thấp tim. Thời gian cần thiết tiêm penicillin để dự phòng tái phát thấp tim là trong 2-3 năm tính từ đợt thấp khớp gần nhất hoặc dùng thuốc phòng cho đến năm 21 tuổi. Tuy nhiên cũng có quan điểm cho rằng cần tiêm dự phòng tới tuổi 40, hoặc thậm chí suốt cả đời cho những bệnh nhân thấp khớp có nguy cơ cao bị thấp tim. Cho đến nay chưa có sẵn vaccin chống liên cầu. Vì vậy việc chẩn đoán và điều trị kịp thời các bệnh nhiễm liên cầu khuẩn vẫn là phương pháp hữu hiệu nhất để phòng tránh bệnh thấp tim.

3011
05-05-2010, 10:39 AM
* Trẻ mấy tuổi có thể cắt amiđan được?

- Đây là câu hỏi thường gặp nhất, và cũng là vấn đề thường bị hiểu sai nhiều nhất do sự truyền miệng với nhau giữa các bậc phụ huynh hoặc cũng có thể do sự tư vấn không chính xác của các nhân viên y tế. Thật sự việc cắt amiđan hoàn toàn không phụ thuộc vào tuổi mà phụ thuộc mức độ nghiêm trọng của bệnh do amiđan gây ra.

* Cắt amiđan có làm giảm sức đề kháng hoặc ảnh hưởng đến miễn dịch của trẻ không?- Amiđan là một trong những cơ quan miễn dịch ở đường tiêu hóa và hô hấp trên, có chức năng tiết ra một số globuline để phòng chống một số bệnh đi vào cơ thể qua đường miệng. Tuy nhiên, cho tới nay các nghiên cứu trên thế giới cho thấy khi theo dõi ở các trẻ đã được cắt amiđan thì lượng globuline miễn dịch này có sự thay đổi không đáng kể và không hề ảnh hưởng đến chức năng miễn dịch của trẻ.
* Cắt amiđan khi nào?- Các chỉ định cắt amiđan ở trẻ em bao gồm. Thứ nhất, cắt amiđan khi amiđan phì đại gây tắc nghẽn, có hội chứng ngưng thở trong khi ngủ, bé thường có các triệu chứng như ngủ ngáy, trong giấc ngủ có cơn ngưng thở tím tái, giật mình, quấy khóc, đái dầm... Hoặc khi bé chậm lớn, kém ăn, hay bị ói, khó nuốt, khó nói do amiđan quá to.
Thứ hai, cắt amiđan khi bé bị viêm amiđan mãn tính, tái phát nhiều lần trong năm làm ảnh hưởng nhiều đến việc học tập, sức khỏe và tài chính.
Thứ ba, cắt amiđan khi viêm amiđan gây ra các biến chứng như viêm phế quản phổi, viêm cơ tim do vi trùng ở amiđan, viêm cầu thận, viêm khớp do vi trùng ở amiđan, ápxe quanh amiđan, viêm hạch cổ. Ngoài ra còn có những chỉ định cắt amiđan khác như trong trường hợp nghi ngờ bị ung thư, hoặc hôi miệng do amiđan có nhiều ngách hay đọng lại thức ăn, sỏi amiđan, nấm amiđan.
* Cắt amiđan có nằm viện không? - Hiện nay tại các bệnh viện lớn, các trẻ từ bốn tuổi trở lên có thể cắt amiđan và xuất viện trong cùng một ngày, nếu ở xa có thể nằm lại bệnh viện một đêm, các trẻ dưới bốn tuổi cắt amiđan vì những lý do đặc biệt bắt buộc thì nhập viện 2-3 ngày cho đến khi thật sự ổn định mới xuất viện.
* Cắt amiđan có tai biến nguy hiểm không?- Tuy là một phẫu thuật đơn giản, thời gian phẫu thuật ngắn, thường tối đa không quá 30 phút, nhưng cũng như các phẫu thuật khác, phẫu thuật cắt amiđan cũng tiềm ẩn những tai biến như tai biến do gây mê, tai biến do chảy máu sau mổ. Để phòng ngừa những tai biến này, quí phụ huynh báo cho bác sĩ biết rõ những tiền căn dị ứng hoặc những bệnh lý nội ngoại khoa mà bé đã hoặc đang có. Đồng thời sau mổ kiêng các thức ăn cứng, nóng, chua, cay. Ăn các thức ăn lỏng, nguội, mềm trong vòng 15 ngày đầu để tránh chảy máu sau mổ.
* Sau khi cắt amiđan trẻ có cần cữ nói?- Khác với quan niệm trước kia là sau khi cắt amiđan phải cữ nói, ngày nay với các phương pháp mổ hiện đại như cắt amiđan bằng dao điện, bằng laser hoặc bằng coblation, sau khi cắt trẻ có thể nói chuyện được ngay. Tuy nhiên vẫn tránh những hoạt động thể lực như chạy chơi, bơi lội, đá bóng...

3011
05-05-2010, 10:41 AM
1. Sốt : Trẻ có thể sốt do mọc răng, thiếu nước, nhiễm virus, viêm não, viêm màng não, nhiễm trùng huyết... Sốt cao đột ngột có thể gây co giật ở trẻ nhỏ.
Cách xử lý:
- Giữ cho trẻ thoáng mát, lau mát, cho uống nhiều nước.
- Dùng các thuốc hạ sốt:
* Paracetamol: 15 mg/kg thể trọng/lần, có thể dùng 3-4 lần/ngày, bằng đường uống hay nhét hậu môn.
* Ibuprofen: 7-10 mg/kg thể trọng /lần, mỗi ngày 3 liều.
- Cần đưa trẻ đến một cơ sở y tế hay bệnh viện gần nhất nếu:
* Thân nhiệt ở mức 37,8 độ C trong hơn một ngày.
* Thân nhiệt tăng trên 38,6 độ C.
* Sốt kèm theo các triệu chứng sau:
+ Co giật, đi khập khiễng hay lả người, không đi đứng được.
+ Trẻ lơ mơ, lừ đừ hay mê man.
+ Nôn mửa, tiêu chảy nhiều, gây mất nước.
+ Khó thở, tím tái.
+ Có các dấu hiệu viêm màng não (nôn mửa, thóp phồng, nhức đầu...).
+ Phát ban ngoài da.
+ Bỏ bú.
+ Vàng da.
+ Đi tiêu ra máu.
2. Ho: Ho làm cho trẻ mất ngủ, ói mửa, bỏ ăn, sụt cân. Trẻ bị ho do nhiễm trùng (virus hoặc vi trùng). Các bệnh gây ho:
- Viêm đường hô hấp trên (viêm mũi, họng, thanh quản, amiđan...).
- Viêm đường hô hấp dưới (phế quản, tiểu phế quản, phổi, lao phổi...).
- Hen, có dị vật đường thở...
Ho do các nhiễm trùng thông thường, dị ứng, hen nhẹ có thể điều trị dễ dàng tại các cơ sở y tế, không cần nhập viện. Đề phòng các biến chứng nặng như suy hô hấp hoặc khả năng lây lan cao, cần đưa trẻ vào bệnh viện trong các trường hợp sau:
- Ho do các nhiễm trùng đặc biệt như ho gà, lao.
- Có dị vật đường hô hấp.
- Viêm tiểu phế quản kèm tím tái, khó thở.
- Hen vừa và nặng.
Không nên tự ý điều trị bằng các loại thuốc ho hay kháng sinh khi chưa có ý kiến của bác sĩ. Chẳng hạn, việc cho trẻ bị hen uống các thuốc ho thông thường sẽ không giúp giảm ho mà còn làm cho bệnh nặng hơn. Trường hợp ho do dị vật đường hô hấp, thuốc cũng không có tác dụng, cách điều trị duy nhất là lấy dị vật ra.

3011
14-05-2010, 05:30 PM
Bệnh đái tháo đường, còn gọi là Bệnh tiểu đường, là một bệnh do rối loạn chuyển hóa cacbohydrat khi hoóc môn insulin của tụy bị thiếu hay giảm tác động trong cơ thể, biểu hiện bằng mức đường trong máu luôn cao; trong giai đoạn mới phát thường làm bệnh nhân đi tiểu nhiều, tiểu ban đêm và do đó làm khát nước. Bệnh tiểu đường là một trong những nguyên nhân chính của nhiều bệnh hiểm nghèo, điển hình là bệnh tim mạch vành, tai biến mạch máu não, mù mắt, suy thận, liệt dương, hoại thư, v.v.
Loại 1 (Typ 1)
Khoảng 5-10% tổng số bệnh nhân Bệnh tiểu đường thuộc loại 1, phần lớn xảy ra ở trẻ em và người trẻ tuổi (<30T). Các triệu chứng thường khởi phát đột ngột và tiến triển nhanh nếu không điều trị. Giai đoạn toàn phát có tình trạng thiếu insulin tuyệt đối gây tăng đường huyết và nhiễm Ceton.
Những triệu chứng điển hình của Bệnh tiểu đường loại 1 là tiểu nhiều, uống nhiều, đôi khi ăn nhiều, mờ mắt, dị cảm và sụt cân, trẻ em chậm phát triển và dễ bị nhiễm trùng.
Loại 2 (Typ 2)
Bệnh tiểu đường loại 2 chiếm khoảng 90-95% trong tổng số bệnh nhân bệnh tiểu đường, thường gặp ở lứa tuổi trên 40, nhưng gần đây xuất hiện ngày càng nhiều ở lứa tuổi 30, thậm chí cả lứa tuổi thanh thiếu niên. Bệnh nhân thường ít có triệu chứng và thường chỉ được phát hiện bởi các triệu chứng của biến chứng, hoặc chỉ được phát hiện tình cờ khi đi xét nghiệm máu trước khi mổ hoặc khi có biến chứng như nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não; khi bị nhiễm trùng da kéo dài; bệnh nhân nữ hay bị ngứa vùng do nhiễm nấm âm hộ; bệnh nhân nam bị liệt dương.
Xét nghiệm
Chẩn đoán ĐTĐ bằng định lượng đường máu huyết tương:
ĐTĐ: đường máu lúc đói ≥126mg/dl (≥7 mmol/l) thử ít nhất 2 lần liên tiếp.
Đường máu sau ăn hoặc bất kỳ ≥200mg/dl (≥11,1mmo;/l).
Người có mức đường máu lúc đói từ 5,6-6,9 mmol/l được gọi là những người có ‘rối loạn dung nạp đường khi đói’. Những người này tuy chưa được xếp vào nhóm bệnh nhân ĐTĐ, nhưng cũng không được coi là ‘bình thường’ vì theo thời gian, rất nhiều người người ‘rối loạn dung nạp đường khi đói’ sẽ tiến triển thành ĐTĐ thực sự nếu không có lối sống tốt. Mặt khác, người ta cũng ghi nhận rằng những người có ‘rối loạn dung nạp đường khi đói’ bị gia tăng khả năng mắc các bệnh về tim mạch, đột quị hơn những người có mức đường máu <5,5mmol/l.
Đôi khi các bác sỹ muốn chẩn đoán sớm bệnh ĐTĐ hơn nữa bằng cách cho uống đường glucose làm bộc lộ những trường hợp ĐTĐ nhẹ mà thử máu theo cách thông thường không đủ tin cậy để chẩn đoán. Cách đó gọi là ‘test dung nạp glucose bằng đường uống’.
Test này được thực hiện như sau:
Điều kiện: ăn 3 ngày liền đủ lượng carbonhydrat (>200g/ngày), không dùng thuốc làm tăng đường máu, đường máu lúc đói bình thường, không bị stress.
Thực hiện: nhịn đói 12 giờ, uống 75 gam đường glucose trong 250ml nước (không nóng - không lạnh). Định lượng đường máu sau 2 giờ.
Đọc kết quả: ‘Test dung nạp glucose đường uống’:
Nếu đường máu 2 giờ sau uống đường glucose ≥11,1mmol/l: chẩn đoán ĐTĐ; nếu đường máu 2 giờ sau uống đường glucose ≥7,8 mmol/l nhưng < 11,1 mmol/l: những người này được xếp loại giảm dung nạp đường glucose. Người mắc giảm dung nạp đường glucose không những có nguy cơ cao tiến triển thành ĐTĐ sau này, mà còn tăng nguy cơ mắc các bệnh tim-mạch như tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não.
Định lượng đường niệu: chỉ có giá trị rất hãn hữu trong việc theo dõi đối với bản thân bệnh nhân ngoại trú. Không dùng để chẩn đoán bệnh.
Các xét nghiệm bổ sung: sau khi được chẩn đoán xác định và làm những xét nghiệm theo dõi thường kỳ (1-2lần/năm) để thăm dò các biến chứng mạn tính và để theo dõi điều trị:
Khám lâm sàng: lưu ý kiểm tra cân nặng, huyết áp, bắt mạch ngoại biên và so sánh nhiệt độ da, khám bàn chân, khám thần kinh bao gồm thăm dò cảm giác sâu bằng âm thoa. Khám mắt: phát hiện và đánh giá tiến triển bệnh lý võng mạc.
Xét nghiệm: đặc biệt lưu ý creatinin, mỡ máu, microalbumin niệu (bình thường < 30 mg/ngày) hoặc định lượng protein niệu. Đo điện tim nhằm phát hiện sớm các biểu hiện thiếu máu cơ tim. Soi đáy mắt..
Định lượng HbA1 hoặc HbA1c: đánh giá hồi cứu tình trạng đường máu 2-3 tháng gần đây. Đường máu cân bằng tốt nếu HbA1c < 6,5%.

3011
14-05-2010, 05:32 PM
Tiểu đường là bệnh nội tiết, nguyên nhân chính là rối loạn chuyển hóa các chất trong cơ thể do thiếu hoàn toàn hay không hoàn toàn chất insulin. Insulin do tụy sản xuất ra, có tác dụng điều hòa mức đường trong máu (gọi là đường huyết) của cơ thể.
Bệnh hiện rất phổ biến và có xu hướng ngày càng tăng, có thể gặp ở mọi lứa tuổi. Rất nhiều thanh niên nhầm tưởng bệnh chỉ có ở người cao tuổi hoặc người béo phì, nhưng hoàn toàn không phải vậy. Đã không ít thanh niên trên dưới 20 đã bị chết vì bệnh này.
Thông thường bệnh tiểu đường được chia thành hai týp chính. Tuýp 1 (phụ thuộc insulin): Cơ thể thiếu hoàn toàn chất này nên phải đưa thuốc từ ngoài vào cơ thể.Những người trẻ tuổi rất hay mắc týp này, bệnh tiến triển nặng, yêu cầu phải được theo dõi chặt chẽ. Tiểu đường týp 2 (không phụ thuộc insulin): Cơ thể thiếu hụt một cách tương đối chất này, có những loại thuốc uống vào sẽ kích thích tuyến tụy tiết ra insulin tùy theo nhu cầu của cơ thể.
Cháu gái bà Y được xác định là mắc bệnh tiểu đường týp 1 đã lâu. Với những trường hợp như vậy, việc dùng thuốc insulin là bắt buộc và không bao giờ được ngừng thuốc. Rất tiếc cô gái đã tự nghỉ thuốc điều trị và được đưa đến bệnh viện trong tình trạng quá nặng, cơ thể suy kiệt nên đã tử vong.
Thông thường, các ca tử vong nhanh và đột ngột có thể do đường huyết quá cao (do không dùng thuốc hoặc không kiểm soát chế độ ăn) hoặc do đường huyết quá thấp (do nhịn đói hay dùng thuốc quá liều), hoặc ở giai đoạn biến chứng nặng do tổn thương nhiều cơ quan nội tạng.
Bệnh tiểu đường không phải là vô phương cứu chữa. Có rất nhiều người bị bệnh vài chục năm vẫn làm việc và khỏe mạnh. Do vậy, người tiểu đường muốn sống chung với bệnh một cách hòa bình, cần tuân thủ nghiêm ngặt chế độ dùng thuốc và chế độ ăn uống mà bác sĩ chuyên khoa đã quy định.

3011
14-05-2010, 05:35 PM
Bệnh tiểu đường và tăng huyết áp có thể gây những bệnh gì về mắt?
Đục thủy tinh thể (còn gọi là cườm khô) do tiểu đường thường xuất hiện sớm, diễn tiến nhanh, đều ở cả hai mắt. Đục thủy tinh thể sẽ gây nhìn mờ và cần phải được phẫu thuật để thay thủy tinh thể nhân tạo.
Bệnh glaucoma (hay cườm nước) làm tăng nhãn áp khiến cho người bệnh có cảm giác đau nhức mắt dữ dội và có thể gây giảm thị lực thậm chí mù lòa. Bệnh glaucome có thể điều trị bằng phẫu thuật hay nội khoa.
Tổn thương võng mạc: Đường huyết và huyết áp của người bệnh không được kiểm soát tốt trong một thời gian dài khiến các mạch máu nhỏ ở võng mạc rất dễ bị hư tổn. Một số mạch máu sẽ bị dầy lên và do đó giảm chức năng cung cấp máu cho võng mạc.
Để cung cấp đầy đủ máu nuôi võng mạc, nhiều mạch máu mới sẽ xuất hiện nhưng các mạch máu mới này rất yếu và dễ vỡ. Khi các mạch máu này bị vỡ, máu thoát vào thủy dịch ngăn cản ánh sáng đến võng mạc.
Triệu chứng đầu tiên là nhìn mờ, có các đốm trước mắt hay triệu chứng “ruồi bay”. Tổn thương võng mạc thường kéo dài nhiều năm. Khi các mạch máu vỡ ra và thành sẹo, võng mạc sẽ bị co kéo và bong tróc khỏi đáy mắt. Bong võng mạc nhiều sẽ gây mù lòa nếu không được phát hiện sớm và điều trị bằng laser quang đông.
Phòng ngừa biến chứng mắt của bệnh tiểu đường như thế nào?
1. Để phòng ngừa, phát hiện sớm và kiểm soát biến chứng mắt do tiểu đường, người bệnh tiểu đường nên:
- Cố gắng giữ đường huyết và huyết áp ổn định thật tốt (chỉ số HbA 1c < 6,5% và HA < 130/80 mm Hg)
- Nên khám mắt tối thiểu mỗi năm một lần. Bác sĩ nhãn khoa sẽ khám thị lực, đo thị trường, soi đáy mắt để có quyết định điều trị thích hợp. Chụp võng mạc huỳnh quang cũng giúp xác định tình trạng võng mạc của người bệnh.
- Nếu có thai, nên khám nhãn khoa mỗi 3 tháng một lần. Nếu bạn dự định có thai, nên đề nghị bác sĩ nhãn khoa khám đáy mắt cho bạn trước.
2. Người bị tiểu đường nên đi khám ngay nếu thấy có những dấu hiệu sau:
- Nhìn mờ hay nhìn thấy hai hình (nhìn đôi hay song thị)
- Có triệu chứng ruồi bay trước mắt, nhìn hay bị chói
- Có các đốm đen hay quầng tối khi nhìn vào mặt phẳng trắng (ví dụ bức tường)
- Ấn nhẹ vào mắt gây cảm giác đau
- Giảm hay mất thị lực đột ngột

3011
14-05-2010, 05:38 PM
Viêm tắc động mạch chi dưới: Gặp ở 50% số người bị tiểu đường sau 20 năm tiến triển bệnh. Triệu chứng là đau cách hồi, giảm hoặc mất mạch mu chân, bàn chân lạnh, đau chân ban đêm... Viêm tắc động mạch chi dưới làm tăng 7 lần nguy cơ hoại tử chi so với người không mắc tiểu đường. Căn bệnh này là nguyên nhân của 50% số ca cắt đoạn chi không do chấn thương.
Tiên lượng nặng thêm nếu bệnh nhân hút thuốc lá. Viêm tắc động mạch chi dưới thường phối hợp với tổn thương thần kinh, tạo nên nguy cơ cao cho bàn chân người tiểu đường.
Bệnh tim: Thường gặp và có tiên lượng nặng là bệnh mạch vành.
Người bệnh cảm thấy các cơn đau thắt ngực không điển hình hoặc không có triệu chứng đau ngực, nhồi máu cơ tim im lặng, bệnh tim thiếu máu cục bộ, đột tử. Có thể phát hiện bệnh bằng điện tâm đồ, nghiệm pháp gắng sức nếu nghi ngờ trên lâm sàng hoặc điện tim. Tiên lượng bệnh được cải thiện bằng cách kiểm soát tốt và sớm đường huyết.
Tăng huyết áp: Có ở 50% bệnh nhân tiểu đường type 2 sau tuổi 45, cũng có thể xuất hiện trước khi mắc bệnh. Ở tiểu đường type 1, tăng huyết áp thường là hậu quả của biến chứng thận. Nó làm nặng thêm biến chứng vi mạch và là nguy cơ lớn dẫn đến các biến cố tim mạch.
Tăng huyết áp cần được phát hiện sớm, điều trị thường xuyên, ổn định ở mức dưới 140/90 mmHg và thấp hơn nữa nếu có thêm yếu tố nguy cơ khác. Huyết áp cần được kiểm tra thường xuyên và mỗi khi đi khám bệnh.
Để điều trị tăng huyết áp, có thể phải dùng một hay nhiều loại thuốc khác nhau theo chỉ định của bác sĩ. Cần phối hợp thực hiện chế độ ăn và tập luyện.
Tai biến mạch máu não:
Biến cố do thiếu máu não hay gặp hơn là do xuất huyết não. Do vậy, cần phát hiện sớm các tai biến mạch não thoáng qua. Để phòng bệnh, cần điều trị tốt tiểu đường và các yếu tố nguy cơ khác, đặc biệt là tăng huyết áp và rối loạn mỡ máu.
Các rối loạn mỡ máu: Như tăng triglicerid máu; giảm HDL-cholesterol; tăng LDL-cholesterol. Các rối loạn này có thể được cải thiện phần nào nhờ kiểm soát tốt đường máu. Nếu chưa đạt mức tối ưu, cần được điều trị sớm bằng chế độ ăn và thuốc. Cần làm xét nghiệm kiểm tra các bất thường về mỡ máu tối thiểu một lần mỗi năm. Trong trường hợp điều trị, cần kiểm tra 3 tháng một lần.
Ngoài ra, cần giảm trọng lượng cơ thể thừa, tăng cường vận động thể lực, bỏ thuốc lá, giảm uống rượu... để giảm thiểu các yếu tố nguy cơ tim mạch, từ đó giảm nguy cơ mắc và tử vong do biến chứng tim mạch.

3011
14-05-2010, 05:40 PM
Lợi ích của tập thể dục với bệnh nhân đái tháo đường:- Giảm nồng độ đường máu cả trong và sau khi tập do việc vận động làm tăng tiêu thụ đường. Nếu tập đều đặn có thể cải thiện mức cân bằng lượng đường trong máu một thời gian dài và kiểm soát mức đường máu hằng ngày.
- Giúp cơ thể tăng độ nhạy cảm với insulin máu, do đó nhu cầu insulin sẽ giảm đi. Đây là tác dụng cực kỳ quan trọng đối với bệnh nhân đái tháo đường type 2, vì tình trạng giảm độ nhạy cảm với insulin là nguyên nhân chính gây tăng đường máu ở người bệnh.
- Giảm các biến chứng tim mạch, do tập thể dục gây ảnh hưởng tốt đến lượng mỡ máu (cholesterol) và huyết áp của người bệnh. Theo một số nghiên cứu, luyện tập có thể giảm đáng kể các loại mỡ máu có hại gây xơ vữa động mạch như Triglyceride hoặc LDL, đồng thời tăng loại mỡ máu có lợi như HDL. Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả này, người bệnh phải luyện tập rất tích cực như chạy ít nhất 14-19 km/tuần rồi tăng dần lên 64km/tuần. Tập luyện với cường độ nhẹ sẽ có ít hoặc không có tác dụng làm thay đổi hàm lượng các loại mỡ máu. Ngoài ra, tập thể dục đều đặn có thể còn giảm trung bình 5-10mmHg huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương.
- Giảm trọng lượng cơ thể, loại bớt lượng mỡ thừa ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 thừa cân hoặc béo phì. Tập thể dục sẽ có hiệu quả cao hơn nếu phối hợp với chế độ ăn có lượng calo vừa phải, nhưng nó sẽ không có tác dụng nếu bệnh nhân áp dụng chế độ ăn kiêng với lượng calo thấp, khoảng 600-800kcal/ngày.
- Cải thiện chức năng tim mạch của người bệnh như làm giảm nhịp tim lúc nghỉ, làm tăng khả năng co bóp tống máu của tim...
Các nguy cơ có thể xảy ra trong và sau khi tập thể dục:- Thường gặp và nguy hiểm nhất là hiện tượng hạ đường máu quá thấp, xảy ra ở những bệnh nhân điều trị insulin hoặc dùng thuốc hạ đường máu loại sulfamide. Khi đó, người bệnh sẽ có các biểu hiện đói, run tay chân, vã mồ hôi hoặc hôn mê... giống như hạ đường máu do điều trị insuin hoặc thuốc sulfamide quá liều. Cơn hạ đường máu có thể xuất hiện ngay khi người bệnh đang tập, hoặc sau khi kết thúc bài tập. Thậm chí ở một số bệnh nhân đái tháo đường type 1, nguy cơ này có thể xảy ra rất muộn, sau thời điểm tập 6-15 giờ, thậm chí tới 24 giờ nếu bệnh nhân tập nặng và lâu.
- Ngược lại, một số bệnh nhân khi tập nặng lại có thể bị tăng đường máu trong vòng vài giờ sau khi tập. Bệnh nhân đái tháo đường type 1 có cơn tăng đường máu kiểu này sẽ bị rơi vào tình trạng nhiễm toan ceton.
- Tăng các biến chứng tim mạch như gây cơn đau thắt ngực (do thiếu máu nuôi dưỡng cơ tim), thậm chí nhồi máu cơ tim. Một số bệnh nhân bị loạn nhịp tim, trong đó có những loại loạn nhịp nguy hiểm, nhồi máu cơ tim nặng có thể bị đột tử.
- Làm trầm trọng thêm các biến chứng mạn tính của bệnh đái tháo đường như:
+ Gây xuất huyết đáy mắt hoặc làm bong võng mạc ở những người đã có biến chứng đáy mắt giai đoạn 3 (có tăng sinh mạch máu). Hậu quả là gây mù hoàn toàn.
+ Làm mất thêm chất đạm qua nước tiểu và làm trầm trọng bệnh lý thận do đái tháo đường gây nên.
+ Đối với những người béo phì hoặc lớn tuổi bị thoái hóa khớp, việc tăng cường vận động thể lực có thể làm tổn thương khớp trầm trọng. Ngoài ra có thể gây tổn thương mô mềm.
+ Những bệnh nhân đã có biến chứng thần kinh tự động có thể không được phép tăng mức vận động, do tim và hệ tuần hoàn không tăng hoạt động tương ứng. Người bệnh sẽ bị tụt huyết áp, ra nhiều mồ hôi và bị mất nước trong quá trình luyện tập.

3011
21-05-2010, 01:47 PM
Trong tâm của việc điều trị là giữ cho nồng độ đường glucose/máu ở mức độ bình thường.
Dinh dưỡng đóng vai trò rất quan trọng bên cạnh dược phẩm và các phương pháp trị liệu khác.

* kế hoạch ăn cho người tiểu đường tuýp 1
Năng lượng tối thiểu là: 1800 – 2000kcalo
+glucid: 300g (lượng thực phẩm, trái cây)
+lipid: 50g (mỡ động thực vật)
+protid: 50g (động_thực vật)
Điều quan trọng là bạn phải ăn đủ carbohydrat, chẳng hạn như bánh mì, mì sợi, cơm, khoai tây và trái cây.
- Ăn làm nhiều bữa 4-5 bữa, có thể chia nhỏ-> để đường huyết không tăng cao sau mỗi bữa ăn.
- Trước các buổi ăn tim 1 mũi Insulin
- Không kiên cử ăn uống
- Năng lượng không kiên,
- Các chất có cồn làm giảm đường trong máu nếu bạn uống mà không ăn. Luôn nhớ phải hấp thu carbohydrat mỗi khi bạn uống các chất có cồn.
- Ăn thêm các chất carbohydrat (2 bánh qui, 1 sandwich,….) khi bạn tập thể dục vừa và nặng.
- Bạn sẽ hiểu được tác dụng của việc tập thể dục và thức ăn. Nên có máy đo đường huyết.
- Luôn luôn nhớ mang theo đường khi đường trong máu quá thấp và bạn thấy khác lạ hoặc mệt mỏi, uống 3-4 cục đường hoặc uống coca.(khi đi đâu)
* kế hoạch ăn cho người tiểu đường tuýp 2
Thiếu tương đối Insulin
- Khi bạn bị tiểu đường, bạn cần phải ăn vừa đủ, nhưng không quá nhiều các chất carbohydrat, chẳng hạn như bánh mì, mì sợi, cơm, khoai tây và trái cây. Bạn có thể ăn rau thoải mái. Hạn chế hấp thu mỡ và muối, đặc biệt là nếu bạn bị huyết áp cao. Tránh hấp thụ đường và các thức ăn có đường. Dùng các loại đường hóa học như saccharin, aspartame, cyclamtc, acesuljame-k) thay vào.
(đường hóa học lớn hơn đường thường gấp 300 lần, không cho năng lượng, chỉ đánh lừa vị giác, uống ít không độc).
- Các sản phẩm bánh qui, bánh ngọt, socola được quảng cáo là dành cho bệnh nhân tiểu đường hoặc người ăn kiêng, không được khuyến bởi vì chúng chứa nhiều chất mỡ.
- Tuy nhiên các nước giải khát chứa đường hóa học (saccharin, aspartame, cyclamtc, acesuljame-k) có thể thay thế các thức uống đường.
- Việc hấp thụ thức ăn mỗi ngày nên được chia làm 3 bữa ăn chính và hai bữa ăn phụ.
- Nếu tự thấy là mình ăn quá nhiều một số thức ăn nào đó (nhu mì sợi, đậu Hà Lan, bánh mì, gạo, bánh ngọt, thịt, xúc xích, phomat,…) bạn nên giảm một nữa.
- Nếu như bạn uống rượu bia và các thức uống có cồn khác, nên tránh sử dụng chúng trong khoảng thời gian bạn giảm cân.
- Một khi giảm cân thành công nên cố gắng duy trì
- Ăn càng ít chất mỡ càng tốt: như bơ, dầu mỡ, phomat, đậu phộng, thức ăn chiên xào.
- Năng tập thể dục: 1h đi bộ hay nữa giờ đi xe đạp, nhưng tránh vận động quá sức.
- Thức ăn cơ bản:
+ Cá (khuyến khích vì có nhiều omega3, để tranh chấp mỡ không có lợi).
+ Thịt bò (đạm cao, 100gm=21g đạm)->cơ thể tạo hồng cầu, 120 ngày hông cầu bị hủy hoại chết đi tạo hồng cầu mới trong tủy xương.
+ Các loại rau : cà rốt (batacaroten).
+ Gạo, mì ống khuyến khích một nữa đĩa.
 Mỗi bữa ăn giảm khẩu phần phần (số lượng) xuống, thành nhiều bữa nhỏ.
+ Trái cây: chuối (giữa giờ 1 quả), nho, táo, cam,..đừng ăn nhiều.
+ Sữa không béo (tuýp 2) # tuýp 1.
- Kiểm tra kĩ bàn chân khi tháo tất, coi có tổn thương không->báo bác sĩ. Không ngâm chân bằng nước nóng, chỉ rửa chân bằng nước ấm bằng vòi nhỏ hơn 37 độ.
- Giữ bàn chân sạch và khô sau khi tắm, ở kẻ ngón chân-> giảm bệnh nấm.
- Da bạn quá khô nên dùng kem trung tính để thoa (gelly), da bạn ẩm nên dùng phấn cho em bé hút ẩm.
- Khi cắt móng tay, chân thì dùng “dũa” tránh sắt nhọn (vì chảy máu viêm).
- Che phủ bàn chân bằng giấy dép kín, luôn kiểm tra giầy trước khi đi, không bao giờ đi chân trần, đi giầy vừa, thoải mái và vừa chân và thay vớ hàng ngày.
- Điện, nước sôi, chất hóa học, kiềm kéo->không bao giờ sử dụng.
- Khi có tổn thương nên báo cho bác sĩ.
Bài Thuốc Dân Gian (tham khảo)
1, Mướp đắng (khổ qua_cẩm lệ chi_lương qua_hồng cô nương_lại bồ đào)
- Thành phần hóa học: mormordicin. Hổn hợp charantin, protein, ademin, betanin, vitamin b, c….
- Tác dụng:
+ tương tự Insulin
+ kích thích tế bào langherhan tiết Insulin.
2, ép quả lê: lấy nước, thêm một lượng, mật ong tương đương, sắc thành dạng nước mật đường để uống thường xuyên, hiệu quả chữa bệnh cao.
- Cách dùng: 1 thìa 5 hoặc 10ml +lê, uống lúc đói hoặc chưa ăn gì.
3, quả sung phơi khô (phơi ở chỗ râm) lấy 2-3 quả đổ 500ml nước vào sắc, uống thay trà, có thể giảm bớt dần dần lượng đường trong nước tiểu.

3011
21-05-2010, 01:50 PM
Bệnh đái tháo đường, còn gọi là Bệnh tiểu đường, là một bệnh do rối loạn chuyển hóa cacbohydrat khi hoóc môn insulin của tụy bị thiếu hay giảm tác động trong cơ thể, biểu hiện bằng mức đường trong máu luôn cao; trong giai đoạn mới phát thường làm bệnh nhân đi tiểu nhiều, tiểu ban đêm và do đó làm khát nước. Bệnh tiểu đường là một trong những nguyên nhân chính của nhiều bệnh hiểm nghèo, điển hình là bệnh tim mạch vành, tai biến mạch máu não, mù mắt, suy thận, liệt dương, hoại thư,..Theo thống kê của tổ chức y tê thế giới WHO thì khoảng 33% các ca chạy thận nhân tạo và29% các ca phải căt cụt chân là do biến chứng của bệnh tiểu đường
• Điều đặc biệt nguy hiêm là người bệnh có thể bị đái tháo đường từ rất lâu và có nhiều biến chứng mới đươc chuẩn đoán .Vì thế việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời là đặc biệt quan trọng
• Như chúng ta biết : Đường glucose rất cần cho cơ thể , đặc biệt là não .Khi đường máu hạ ,ta sẽ thấy mệt ,chóng mặt ,toát mồ hôi ,giảm hay mất ý thức , làm té ngã gãy xương ,chấn thương .hôn mê và tử vong .Vì vậy bệnh nhân đái tháo đường cần biết là : Điều trị ĐTĐ là làm ổn định lượng đường máu đưa đến sự cân bằng đường trong cơ thể(lượng đường huyết lúc đói phải dưới mức110mg/dl- Từ4.4-6.1mmol/l chỉ số HbA1c<6.5và đường huyết sau 2 giờ khi ăn dưới 180mg/dl-10mmol/l
• Insulin -Giống như ta cần chìa khóa để mở cửa vào nhà, chất đường cần insulin để mở cửa tế bào, để được đưa vào sử dụng, sinh năng lượng giúp cơ thể hoạt động. Người ĐTĐ là người thiếu insulin (ĐTĐ tipe 2 - ĐTĐ không phụ thuộc insulin) hoặc hoàn toàn không có insulin (ĐTĐ tipe 1 - phụ thuộc hoàn toàn vào insulin).Tuyến tụy là cơ quan tạo ra insulin. Khi bạn được chẩn đoán ĐTĐ tipe 1, nghĩa là khả năng tạo insulin của tuyến tụy đã mất hẳn. Khi đó tế bào “cấm cửa” hoàn toàn mặc cho chất đường “bu đen bu đỏ” kêu cửa rầm rầm ở bên ngoài... Hậu quả là tế bào không có năng lượng sử dụng, “nhấc chân không nổi” làm ta mệt mỏi khôn cùng; trong khi chất đường trong máu lại tích tụ và gia tăng nhanh chóng. Rồi “nhàn cư” thì “bất thiện”, đám đông gào thét đó quay ra tàn phá lung tung... Sự tàn phá do gia tăng nồng độ đường cấp tính thường biểu hiện và diễn tiến chỉ trong 1-2 tuần, gồm sụt cân cả chục ký, ăn nhiều, khát và uống nhiều, tiểu nhiều, mệt mỏi khủng khiếp và hôn mê nhanh chóng. Ở người ĐTĐ tipe 2, ngược lại, tuyến tụy vẫn còn khả năng tiết insulin nhưng “cung không đủ cầu”, vì thế bị thiếu hụt. Điều trị bằng thuốc chính là để kích thích tuyến tụy tiết thêm insulin đủ nhu cầu cơ thể, tức là tạo ra nhiều “chìa khóa” hơn; hoặc để các “ổ khóa” dễ mở hơn, tức là giảm đề kháng insulin, giúp insulin hoạt động hiệu quả.Tuy nhiên, khi nhu cầu cơ thể tăng lên đột ngột thì cần dùng insulin chích. Đó là khi bạn bị bệnh nặng như nhiễm trùng, stress như nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, phẫu thuật..

3011
24-05-2010, 03:28 PM
Ung thư phổi có thể có những triệu chứng sau:
• Một đợt ho kéo dài hoặc chuyển sang kéo dài
• Viêm nhiễm trong ***g ngực không tiến triển
• Khó thở tăng
• Ho ra máu
• Đau âm ỷ hay nhói khi ho hoặc hít thở sâu
• Ăn không ngon hoặc sút cân.
Nếu bạn thấy có bất kỳ một trong các triệu chứng trên, cần đi bác sỹ kiểm tra ngay, tuy nhiên tất cả các triệu chứng trên đều có thể do các bệnh khác gây ra chứ không chỉ do ung thư.
Phần này là về ung thư phổi nguyên phát – tế bào ung thư khởi phát chính từ phổi.
Nếu bạn bị ung thư xuất phát từ nơi khác trong cơ thể và di căn sang phổi, gọi là ung thư phổi thứ phát (secondary lung cancer.) Việc điều trị ung thư phổi thứ phát sẽ phải dựa trên việc xác định được nơi khởi phát ung thư: ví dụ từ ruột, hay vú. Nếu bạn mắc ung thư phổi thứ phát, hay tìm thông tin trong mục ung thư nguyên phát primary cancer theo phần bộ phận phát bệnh của bạn.
NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH UNG THƯ PHỔI
Hút thuốc lá được biết tới như là nguyên nhân hàng đầu của hầu hết các ca ung thư phổi. Nguy cơ mắc bệnh tăng theo số thuốc lá bạn hút, và càng cao ở những người bắt đầu hút từ khi còn trẻ. Thuốc lá đầu lọc và thuốc có lượng nhựa thấp có thể giảm bớt phần nào nguy cơ mắc bệnh, nhưng nguy cơ ở người hút vẫn cao hơn rất nhiều so với người không hút thuốc. Ung thư phổi chủ yếu ở nam giới, đặc biệt ở độ tuổi hơn 40, do nam giới hút thuốc nhiều hơn nữ giới. Tuy nhiên, do tỷ lệ nữ giới hút thuốc đang ngày càng tăng, tỷ lệ mắc ung thư phổi ở nữ cũng gia tăng đáng kể.
Nếu một người bỏ thuốc, nguy cơ mắc ung thư phổi sẽ giảm nhanh chóng và sau 15 năm người này sẽ có nguy cơ mắc bệnh bằng với người chưa bao giờ hút thuốc.
Hiện nay việc hít phải khói thuốc hay còn gọi là hút thuốc thụ động, cũng phần nào làm tăng nguy cơ mắc các bệnh về phổi và ung thư phổi, mặc dù tỷ lệ mắc thấp hơn nhiều so với trường hợp tự bạn hút.
Hút cần sa cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư phổi.
Mặc dù những người hút tẩu và xỳ gà có nguy cơ mắc ung thư phổi thấp hơn người hút thuốc là, nhưng tỷ lệ mắc ở họ vẫn cao hơn nhiều so với người không hút thuốc.
Ở một số gia đình, người hút thuốc sẽ có nguy cơ mắc ung thư phổi nhiều hơn kết hợp với việc thừa hưởng gen lỗi.
Những người có thời gian dài tiếp xúc hoặc tiếp xúc trực tiếp với chất amiăng sẽ có nguy cơ mắc ung thư cao, đặc biệt là nếu người đó lại hút thuốc là. Chất amiăng và khói thuốc tương tác làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Có rất nhiều người phải tiếp xúc với amiăng trong thời gian lao động của họ. Việc giảm bớt nồng độ tiếp xúc sẽ giúp giảm nhẹ nguy cơ mắc bệnh , so với nguy cơ từ việc hút thuốc lá; tiếp xúc nhiều với chất này sẽ dẫn tới nguy cơ mắc bệnh ung thư phổi rất cao. Việc tiếp xúc với chất amiăng cũng làm tăng nguy cơ mắc loại ung thư U trung biểu mô, một loại ung thư tại màng bao bọc quanh phổi.
Một số loại khí phóng xạ tự nhiên thoát khỏi lòng đất cũng có khả năng gây bệnh. Hiện nay người ta cũng cho rằng, nếu loại khí này tập trung ở nồng độ cao sẽ gây bệnh ung thư phổi.
Việc tiếp xúc với một số hoá chất và các chất như Urani, Crom và Niken có thể gây ung thư phổi, nhưng rất hiếm.
Người ta cũng cho rằng ô nhiễm không khí có thể gây ra ung thư phổi nhưng điều này rất khó chứng minh.
Ung thư phổi là bệnh không lây và không thể lây truyền sang những người khác
Chẩn đoán ung thư phổi
Ðể tìm ra nguyên nhân gây ra những triệu chứng, bác sĩ phải xem xét tiền sử của người bệnh, tiền sử hút thuốc, tiếp xúc với các chất ở môi trường tự nhiên và môi trường lao động, tiền sử ung thư của gia đình. Bác sĩ khám bệnh và có thể cho chụp X quang ***g ngực và làm các xét nghiệm khác. Nếu nghi ngờ ung thư phổi thì xét nghiệm tế bào trong đờm (quan sát dưới kính hiển vi những tế bào lấy từ mẫu dịch nhầy ở phổi khi ho) là một xét nghiệm đơn giản mà có thể có ích cho việc phát hiện ra bệnh ung thư. Ðể chẩn đoán xác định ung thư phổi, bác sĩ phải nghiên cứu mô phổi. Sinh thiết -- việc lấy một mẫu mô nhỏ ở phổi để chuyên gia mô bệnh học quan sát dưới kính hiển vi-- có thể cho biết một người có bị ung thư hay không. Một số thủ thuật được thực hiện để có thể lấy được mẫu bệnh phẩm này:
• Nội soi phế quản. Bác sĩ đưa một ống soi phế quản (một ống nhỏ có nguồn sáng) vào miệng hoặc mũi và luồn xuống khí quản để quan sát các đường hô hấp. Qua ống này bác sĩ có thể lấy các mẫu tế bào hoặc mẫu mô nhỏ.
• Chọc hút bằng kim. Một mũi kim được đâm xuyên qua thành ngực vào khối u để lấy mẫu mô.
• Chọc dịch màng phổi. Dùng kim lấy mẫu dịch bao quanh phổi để tìm tế bào ung thư.
• Mở ***g ngực. Ðôi khi cần phải tiến hành phẫu thuật mở ***g ngực để chẩn đoán ung thư phổi. Ðây là một đại phẫu thuật được thực hiện ở bệnh viện.
Điều trị
Việc điều trị ung thư phổi thứ phát phụ thuộc vào loại ung thư nguyên phát. Hoá trị hoặc liệu trị bằng hóc môn có thể áp dụng để giảm bớt hoặc kiềm chế di căn tại phổi.
Phẫu thuật: Phẫu thuật để cắt bỏ khối di căn tại phổi có thể áp dụng với số ít bệnh nhân. Phương pháp này chỉ áp dụng được trong trường hợp ung thư nguyên phát đã được kiểm soát hoàn toàn và không có dấu hiệu di căn sang các bộ phanạ khác ngoài phổi trong cơ thể. Đồng thời với điều kiện tế bào ung thư mới tác động đến một phần nhỏ của phổi, phần này dễ tiếp cận và không gắn liền với các mạch máu hoặc dây thần kinh quan trọng.
Xạ trị: Một vòng xạ trị ngắn hạn có thể giúp giảm bớt một số triệu chứng ung thư phổi thứ phát, ví dụ như những cơn đau, khó thở hoặc ho ra máu.
Nếu ung thư gây nghẽn trong khí quản hoặc một trong những đường dẫn khí lớn có thể áp dụng tia laze để đốt bỏ khối u. Phương pháp này giúp giảm nhẹ một số triệu chứng bệnh, tuy nhiên không thể khống chế hoàn toàn các tế bào ung thư. Nếu khối u chèn lên các cấu trúc gần khí quản, có thể dùng phương pháp ống stent để đưa vào giúp khí quản mở ra. Ống chẹn này có thể nằm vĩnh viễn trong phổi mà không gây tác hại gì.
Nếu khối u làm nghẽn đường thở thì phương pháp xạ trị bên trong mang tên xạ trị bên trong nhánh phế quản sau hoặc xạ trị nhánh có thể được áp dụng. Một ống mảnh (ống thông) có chứa chất phóng xạ được luồn vào sát với khối u qua ống nội soi (một ống mảnh, mềm dẻo được sử dụng để quan sát bên trong đường khí). Thông thường chỉ cần áp dụng một lượt trị liệu.

3011
24-05-2010, 03:32 PM
1.Phẫu thuật
Với biện pháp phẫu thuật, khối u cùng với các mô xung quanh có thể chứa tế bào di căn đều được cắt bỏ. Đây là cách chữa trị rất hữu hiệu cho các bệnh ung thư được phát hiện ở giai đoạn sớm, khốI u chưa lan rộng và chỉ xuất hiện trên một vùng cơ thể và nằm ở những bộ phận dễ cắt bỏ.
2. Hóa trị liệu
Hóa trị liệu là biện pháp dùng thuốc để tiêu diệt các tế bào ung thư bằng cách can thiêp vào quá trình hình thành và phân chia tế bào.
Đối với các bệnh ung thư khác nhau, sẽ sử dụng các loại thuốc khác nhau. Có hình thức thuốc uống (uống bằng miệng) và hình thức truyền thuốc. Hình thức truyền thuốc sẽ phát huy tác dụng nhiều hơn khi thuốc được tiêm trực tiếp vào mạch máu.
Hóa trị liệu chủ yếu có tác dụng đến các tế bào ung thư, tuy nhiên cũng ảnh hưởng đến các tế bào bình thường có tần suất thay thế nhanh như là tế bào tóc hay tế bào niêm mạc ruột. Kết quả là những bệnh nhân điều trị bằng hóa trị liệu sẽ bị các tác dụng phụ chẳng hạn như rụng tóc, buồn nôn, ói mửa. Họ cũng dễ bị nhiễm trùng hơn.
3. Xạ trị liệu
Xạ trị liệu sử dụng năng lượng phóng xạ để diệt tế bào ung thư. Năng lượng phóng xạ có những dạng sau đây:
• Tia X năng lượng cao chiếu trực tiếp vào khối u
• Một số chất phóng xạ được phẫu thuật cấy vào khối u
Có thể thực hiện xạ trị liệu trước khi phẫu thuật để giảm kích cỡ khối u, hay sau khi phẫy thuật để diệt các tế bào ung thư còn lại. Một số tác dụng phụ của phương pháp xạ trị liệu đó là mệt mỏi, tổn thương vùng da điều trị.
Tìm hiểu về giai đoạn ung thưThuật ngữ phổ biến khi nói về ung thư đó là các giai đoạn ung thư. Nói một cách đơn giản, giai đoạn càng cao thì ung thư càng phát triển. Ung thư được phát hiện ở giai đoạn đầu có khả năng hồi phục cao hơn, còn ung thư giai đoạn sau nguy hiểm đến tính mạng hơn.
Theo bác sĩ Gilberto Lopes, “Ung thư ở giai đoạn ban đầu dễ chữa trị hơn”, “tuy nhiên, dù ung thư đã phát triển đến mức nào thì cũng nên điều trị càng sớm càng tốt để kìm hãm căn bệnh.”
Giai đoạn Mô tả0 Ung thư tại chỗ, nghĩa là ung thư chưa di căn và không có khả năng lan rộng. Những bệnh ung thư này có khả năng chữa lành cao.
I Thường chỉ ung thư còn nhỏ, chưa ăn sâu vào các mô xung quanh, và chưa di căn đến các hạch bạch huyết hay các bộ phận khác trong cơ thể.
II/III Giai đoạn II và III, ung thư tăng nhanh về kích cỡ, di căn và lan sang các hạch bạch huyết, nhưng chưa phát hiện thấy ở các bộ phận khác trong cơ thể.
IV Ở giai đoạn IV, ung thư đã lan đến các cơ quan khác, hay các bộ phận khác trong cơ thể, và được gọi là Ung thư thời kỳ sau cùng.
Các dấu hiệu cảnh báo ung thư
1. Vết loét lâu lành
2. U cục ở ngực hay các bộ phận khác của cơ thể
3. Chảy máu bất thường
4. Rối loạn đại tiểu tiện hoặc rối loạn chức năng bàng quang
5. Mụn cóc hoặc nút ruồi to ra
6. Rối loạn tiêu hóa hoặc nuốt khó
7. Ho dai dẳng hoặc khàn tiếng
8. Sụt cân hoặc sốt không có lý do

3011
24-05-2010, 03:34 PM
Ung thư đại trực tràng là một trong những loại ung thư phổ biến nhất trên thế giới. Tại Singapore, loại ung thư này chỉ đứng thứ 2 sau ung thư phổi và số lượng bệnh nhân ngày càng tăng và có xu hướng ngang bằng với số ca ung thư phổi.
Hiện nay, hơn 50% số ca mắc bệnh này sẽ bị tử vong. Tuy nhiên, nhiều ca ung thư đại trực tràng cũng được chữa khỏi nếu phát hiện bệnh sớm.
Hơn 90% số ca mắc ung thư đại trực tràng là những người trên 40 tuổi. Tuy nhiên, bác sĩ Ng Chin, bác sĩ tư vấn ngoại tổng hợp thuộc Trung tâm ngoại khoa Raffles cho biết có một xu hướng đáng lo ngại là căn bệnh này đang gặp phải ở nhiều người trẻ tuổi hơn.
Bác sĩ Ng cho biết “Hầu hết các ca bệnh ung thư đại trực tràng là đơn phát và phát triển thứ phát là do đột biến gien. Tuy nhiên, những DNA bị biến đổi do quá trình sửa chữa của những DNA bình thường đã được chứng minh là gây ra bệnh ung thư đại trực tràng. Nguy cơ mắc bệnh cũng cao hơn ở những người có tiền sử viêm loét ruột kết mãn tính, polyp hoặc ung thư ruột kết hay ung thư ở những bộ phận khác, đặc biệt là ung thư vù hay ung thư tử cung.
Ung thư đại trực tràng cũng là loại ung thư có tính di truyền. “Nếu bạn có 1 người họ hàng gần bị ung thư đại trực tràng thì nguy cơ phát triển căn bệnh này ở bạn tăng từ 6 đến 12 lần. Do vậy, việc kiểm tra để phát hiện bệnh ung thư này là vô cùng cần thiết” bác sĩ Ng cho biết.
Biểu hiện:
Ung thư đại trực tràng có thể biểu hiện ở nhiều cách khác nhau và các biểu hiện thường gặp
nhất bao gồm:
+ Chảy máu ở hậu môn
+ Thay đổi thói quen đại tiện
+ Đi ngoài không hết phân
+ Đường kính phân nhỏ hơn
+ Sụt cân không rõ nguyên nhân
+ Ăn không ngon miệng
+ Chỉ số chỉ điểm khối u CEA tăng
+ Xét nghiệm máu trong phân dương tính
Điều trị:
Phương pháp điều trị đầu tiên cho bệnh nhân ung thư đại trực tràng là phẫu thuật. Đôi khi, người ta cũng kết hợp thêm điều trị hoá chất hoặc xạ trị. Khoảng từ 80-90% bệnh nhân ung thư đại trực tràng sẽ phục hồi tốt nếu được phát hiện và điều trị sớm. Khả năng chữa khỏi bệnh sẽ chỉ còn dưới 50% nếu ở giai đoạn muộn.
Phòng ngừa:
Hầu hết ung thư ruột kểt phát triển là từ polyp. Những polyp này phát triển trên thành ruột và thậm chí sẽ phát triển hơn về kích thước và gây ra ung thư. Loại bỏ polyp sẽ là phương pháp điều trị ung thư hữu hiệu nhất thậm chí khi nó chưa phát triển thành ung thư.
Để giảm nguy cơ rủi ro mắc bệnh, bạn cần được cắt bỏ những polyp lành tính thông qua nội soi ruột kết. Thêm vào đó, việc nội soi ruột kết cũng sẽ đánh giá được toàn bộ đường ruột.
Có một minh chứng nữa là chế độ ăn nhiều chất xơ và ít chất béo sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn ung thư đại trực tràng.
Và cuối cùng, bạn cũng nên để ý đến thói quan đại tiện của mình và nên đi khám bác sĩ ngay khi bạn có một trong những dấu hiệu trên đây.

3011
24-05-2010, 03:41 PM
Bimuno - hãng sản xuất các sản phẩm bổ trợ sức khỏe tại Anh - tiến hành lấy ý kiến của 3.000 người lao động về thời điểm mà họ cảm thấy căng thẳng nhất trong tuần.
“Người ta thường cho rằng thứ hai là ngày làm việc tồi tệ nhất trong tuần, nhưng điều đó không đúng trong cuộc khảo sát của chúng tôi. Thứ ba mới là ngày tồi tệ nhất, xét trên cả phương diện khối lượng công việc và mức độ căng thẳng”, Graham Waters, một chuyên gia của Bimuno, nói.
Kết quả cho thấy, khoảng một nửa người tham gia cho biết 11h45' sáng thứ ba là thời điểm họ cảm thấy căng thẳng nhất. Ngoài ra, người lao động cũng có xu hướng bỏ bữa trưa để làm việc trong thứ ba. Hơn 53% thừa nhận họ không chú tâm vào công việc trong thứ hai và 20% nói họ thường rời khỏi nơi làm việc muộn hơn thường lệ vào thứ ba.
Nhưng điều đáng lo ngại nhất là 23% người tham gia khẳng định họ cảm thấy căng thẳng vào mọi ngày làm việc trong tuần và gần 15% cho rằng họ phải hứng chịu áp lực quá lớn. Khi được hỏi về nguyên nhân gây nên căng thẳng, 12% đổ lỗi cho “sếp”, trong khi 9% đổ lỗi cho đồng nghiệp.
Fiona Hunter, một chuyên gia dinh dưỡng hàng đầu tại Anh, nói: “Một thực tế là nhiều người đang hứng chịu sự căng thẳng trong công việc. Nó có thể khiến chúng ta cảm thấy chán ăn và gây hại cho hệ tiêu hóa. Bạn nên uống đủ nước, chọn thực phẩm phù hợp và dùng các sản phẩm bổ trợ sức khỏe để tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể. Một cơ thể khỏe mạnh có thể giúp chúng ta vượt qua trạng thái căng thẳng, mệt mỏi khi phải làm việc vất vả”.

3011
23-06-2010, 01:33 AM
Triệu chứng và mức độ nguy hiểm của bệnh đối với sức khỏe con người như thế nào? Đối với đái tháo đường tuýp 2 thường không rõ ràng, chỉ khi xét nghiệm máu mới phát hiện bị bệnh. Khi bệnh đã nặng hoặc đái tháo đường tuýp 1, sẽ là triệu chứng như ăn nhiều, uống nhiều, đi tiểu nhiều và gầy nhanh. Bệnh đái tháo đường không điều trị sớm sẽ gây biến chứng nguy hiểm như cao huyết áp, sơ vữa động mạch, tai biến mạch máu não, bệnh nhồi máu cơ tim, đuc thủy tinh thể, mù mắt, tê tay chân, nhiễm trùng da, đường tiểu, nhiễm trùng bàn chân.bệnh nặng có thể gây tử vong.
Vậy làm thể nào để phòng và chữa bệnh tốt nhất?
Trước tiên ta phải thường xuyên kiểm tra đường huyết, tập luyện thể dục, chế độ ăn hợp lý là nền tảng cho kế hoạch điều trị bệnh đái tháo đường , chế độ ăn hợp lý giúp cho bệnh nhân ổn định mức đường trong máu, giảm được liều thuốc cần sử dụng ngăn chặn hoặc làm chậm xuất hiện các biến chứng, kéo dài tuổi thọ bệnh nhân, chế độ ăn hợp lý còn giúp bệnh nhân thoải mái tự tin trong cuộc sống, ít có cảm giác bị tách biệt trong đời sống xã hội, nhưng nếu mà bạn ăn kiêng quá nhiều sẽ dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng. Đối với sự tiến bộ của y học trên thế giới đã có nhiều công trình nguyên cứu để sản xuất ra các loại thực phẩm chức năng hỗ trợ điều trị bệnh đái tháo đường rất hiệu quả mà vẫn đảm bảo đầy đủ chất dinh dưỡng cho cơ thể. xuất phát từ nhu cầu thực tế đó Công ty CP Dược VTYT Thành Vinh đã cho ra đời dòng sản phẩm DIKAMO hỗ trợ điều trị bệnh đái tháo đường.Tác dụng của thực phẩm chức năng DIKAMO đối với người mắc bệnh đái tháo đường. Thực phẩm chức năng DIKAMO có chứa 2 thành phần chính là Mướp đắng và Trái nhàu .
Quả Mướp đắng là thực phẩm được sử dụng lâu đời ở Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ... và được dùng trong y học cổ truyền nhiều nước để kích thích tiêu hóa, trị sốt rét, chống viêm... Đặc biệt quả mướp đắng được dùng để điều trị các bệnh nhân bị bệnh tiểu đường tuýp 2.
Quả mướp đắng có chứa Charantia - một hợp chất có tác dụng làm hạ đường huyết, ức chế men Alpha glucosidase làm giảm hàm lượng glucose trong máu. Quả mướp đắng còn chứa cả Momordicosid F1, F2, G, K và L, các chất này cũng có hoạt tính chống bệnh đái tháo đường, ngoài ra còn có đa peptid - p và lectin. Lectin là một protein có hoạt tính tương tự insulin. Lectin có tác dụng làm giảm đường huyết. Quả mướp đắng có chứa nhiều vitamin như các vitamin B1, B2, B3, B6, B9 và B12, vitamin C, vitamin E.
Các công trình nghiên cứu đã xác định cao quả Mướp đắng có tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường tuýp 2 và còn xác định một số hoạt chất của quả mướp đắng có tác dụng ức chế HIV.
Quả Nhàu được sử dụng rộng rãi lâu đời ở Việt Nam và nhiều nước khác để điều trị bệnh thấp khớp, tiểu đường, giải độc cho cơ thể và điều trị bệnh cao huyết áp.
Quả Nhàu có chứa nhiều vitamin C, vitamin B3, sắt và Kali.
Quả Nhàu có chứa các Oligo sacharid, các Polysaccharid, các Lignan, các Flavourid, các Iridoid, Scopoletin, Catechin và Damanacanthal. Các chất này có hoạt tính tăng cường miễn dịch, giải độc, chống oxy hóa, có tác dụng ức chế một số dạng ung thư.
Nước ép Noni là thực phẩm chức năng có doanh thu cao nhất trong các cây cỏ sản xuất thực phẩm chức năng. Nước ép Noni gồm có nước ép quả Nhàu, quả Nho đỏ, quả Việt quất và mật ong. Noni có hoạt tính tăng cường miễn dịch, chống oxy hóa hạ huyết áp, chống viêm khớp, thấp khớp và hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường tuýp 2.
DIKAMO kết hợp cao quả Mướp đắng và cao quả nhàu là các nguyên liệu sẵn có ở nước ta để cung cấp cho nhu cầu cung cấp sản phẩm hỗ trợ điều bệnh tiều đường tuýp 2 có hiệu quả cao mà lại an toàn, không gây các tác dụng phụ.
DIKAMO do Công ty cổ phần dược vật tư y tế Thành Vinh phân phối là sản phẩm hữu ích, hiêu quả hỗ trợ điều trị cao cho các bệnh nhân tiều đường tuýp 2.
Người lớn ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 -2 viên.

3011
29-06-2010, 01:44 AM
Tỷ lệ phát bệnh ung thư gan trên toàn thế giới là 626.000 trường hợp/năm, còn tỷ lệ tử vong vì căn bệnh này trên toàn thế giới là 589.000 trường hợp/năm. Vì vậy, ung thư gan là một loại bệnh cực kỳ nguy hại đối với sức khỏe con người.
Theo giáo sư Lý Cường, Phó viện trưởng Viện Ung thư thành phố Thiên Tân, Trung Quốc, gan là một cơ quan chiếm thể tích tương đối lớn trong cơ thể con người, có đường kính khoảng 25,6cm, trọng lượng gan của nam giới khoảng 1,3-1,4 kg, nữ giới khoảng 1,1-1,2 kg.
Gan là cơ quan có chức năng trao đổi chất, được cho là đơn vị tổng hợp và phân hủy lớn nhất của con người. Thức ăn mà chúng ta ăn hàng ngày chủ yếu do gan thực hiện chức năng phân hủy và tích trữ.
Ngoài ra, gan giúp duy trì sự ổn định toàn bộ môi trường bên trong cơ thể, kiểm soát lượng đường huyết và quá trình trao đổi chất. Máu trong toàn bộ cơ thể của chúng ta cứ 3 phút lại chạy vòng quanh gan 1 lần.

3011
29-06-2010, 01:48 AM
1. Hút thuốc lá.
Người hút thuốc lá có nguy cơ ung thư cao hơn người không hút thuốc lá từ 7-11 lần. Các bệnh về phổi, thanh quản, thực quản... có liên quan chặt chẽ đến hút thuốc lá.
2. Tập thể dục mỗi ngày dưới 30 phút
Các chuyên gia cho rằng, lối sống ít vận động (một ngày ngồi quá lâu) sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư. Kết quả nghiên cứu cho thấy, những người thường xuyên duy trì hoạt động thể chất có thể ngăn ngừa ung thư ở một số bộ phận, chẳng hạn như ung thư ruột.
3. Uống rượu
Cho dù là rượu, bia, hay rượu vang, cùng với việc tăng lượng hấp thu thì nó còn có thể khiến bạn tăng nguy cơ ung thư họng, ung thư thanh quản và ung thư khoang miệng. Nếu như bạn muốn uống rượu thì đối với nam giới mỗi ngày không nên uống quá 10-15g rượu, nữ giới không quá 10g rượu/ngày.
4. Thường xuyên uống đồ ngọt
Thức uống có đường cung cấp năng lượng và nó có thể khiến bạn trở nên béo phì. Béo phì đã trở thành một trong những nguyên nhân dẫn đến bệnh ung thư.
5. Ít ăn trái cây và rau xanh
Hoa quả và rau xanh có thể giảm xác suất bị mắc các bệnh ung thư như ung thư thực quản, ung thư họng, ung thư phổi…
Mỗi ngày nên ăn ít nhất 400g các loại rau sạch và hoa quả, tốt nhất là các loại bao gồm các màu sắc khác nhau như đỏ, xanh, vàng, tím…
6. Ăn quá nhiều thịt
Trong một bữa ăn nếu bạn ăn quá nhiều thịt thì có thể dễ dẫn đến nguy cơ mắc ung thư tuyến tụy, ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt. Hàng tuần lượng thịt hấp thu nên dưới 500g, trong bữa ăn nên ít ăn các sản phẩm chế biến từ thịt.
7. Ăn mặn
Muối và các thức ăn mặn sẽ làm tăng tỷ lệ mắc ung thư dạ dày. Lượng muối hấp thu mỗi ngày nên dưới 6g.
8. Thiếu sự nuôi dưỡng “sữa mẹ”Nuôi dưỡng “sữa mẹ” có thể làm giảm nguy cơ ung thư vú trong giai đoạn tiền mãn kinh và nguy cơ ung thư buồng trứng, đồng thời còn có thể giúp phòng thiếu cân ở trẻ em, giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư trong tương lai.

3011
02-07-2010, 11:44 AM
Kỹ thuật chụp mạch máu xóa nền (Digital Subtraction Angiography,DSA) là một hệ thống chụp hình mạch máu mới bằng tia X. Đây là sản phẩm của sự kết hợp giữa kỹ thuật chụp hình mạch máu thông thường với kỹ thuật xử lý hình ảnh bằng máy vi tính.
Nguyên lý cơ bản của hệ thống chụp DSA là dùng ánh sáng huỳnh quang và
tia X chụp hình mạch máu ở những vị trí cần kiểm tra lúc chưa bơm thuốc cản quang và sau khi đã bơm thuốc cản quang. Chính vì thế kỹ thuật chụp DSA là kỹ thuật chụp có xâm lấn và có nguy cơ khi chụp nên khi chụp phải có chỉ định của bác sĩ và sự đồng ý của bệnh nhân.Hiện tại huyết áp của người nhà bạn ổn định và đã chụp CT Scan não bình thường thì không cần chụp DSA.

3011
02-07-2010, 11:49 AM
Biểu hiện chính:
1. Viêm khớp ngón chân cái, đầu gối, cổ chân, bàn tay. Khớp sưng đau vào ban đêm sau khi ngủ, chỉ trong vài giờ khớp trở nên đau dữ dội, buộc phải thức giấc, không thể đi lại được.
2. Hạt Tophi xuất hiện khi bệnh đã vào giai đoạn muộn, là những u mọc ở vành tai, tay chân v.v… Các hạt này to dần, có thể loét và chảy chất dịch đặc màu trắng như kem; rất khó lành nếu không được điều trị đúng mức.
Điều trị và phòng ngừa:Như đã nói ở trên, đặc điểm của viêm khớp gout là xuất hiện nhanh và mạnh do đó việc điều trị gồm có 2 phần: cắt cơn nhanh và phòng ngừa tái phát.
1. Cắt cơn: bằng các thuốc: Colchicin, kháng viêm, giảm đau.
2. Phòng ngừa:
* Thuốc giảm acid uric: Allopurinol, Sulfinpyrazone, probenecid.
(Nhóm thuốc này dùng sau khi tình trạng viêm khớp đã ổn định)
* Ngoài thuốc, người bệnh cần phải:
- Uống nhiều nước (khoảng 2 lít/ngày)
- Nghỉ ngơi khi đang sưng đau khớp
- Nhận biết 3 nhóm thức ăn:
Các xét nghiệm cận lâm sàng cần làm thêm :
- Phân tích dịch khớp: thấy các tinh thể urate natri hình kim
- Acid uric máu bình thường không loại trừ được gout
- Acid uric niệu 24 giờ > 800mg với chế độ ăn bình thường và bn không đang sử dụng các thuớc gây tăng sản xuất acid uric
- Các xét nghiệm phát hiện các yếu tố nguy cơ như: creatinin máu, chức năng gan, tổng phân tích nước tiểu, đường huyết, bilan lipid máu và công thức máu
- Nếu nghi ngờ do tăng sản xuất thì cần đo HGPRT và PRPP
- X – quang khớp: có thể phát hiện sự thay đổi của các nang,hiện tượng bào mòn khớp

3011
05-07-2010, 09:54 AM
Phó Giáo sư, tiến sĩ Phạm Văn Bùi - Tổng thư ký Hội Niệu-Thận học Thành phố Hồ Chí Minh cho biết tại Việt Nam, ước tính số người mắc suy thận mạn khoảng 8 triệu người, chiếm 10% dân số.
Tại hội thảo khoa học chuyên đề về Thông tin cập nhật trong chẩn đoán và điều trị suy thận mạn do Hội Niệu-Thận học Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức ngày 3/7, ông Phạm Văn Bùi cho biết số bệnh nhân suy thận mạn đang gia tăng nhanh cùng với tốc độ gia tăng của một số bệnh như cao huyết áp, tiểu đường, viêm cầu thận, thiếu máu...
Người bị suy thận mạn sẽ tăng 34% nguy cơ bị nhồi máu cơ tim và đột quỵ, đồng thời có nguy cơ tử vong cao gấp 5 lần so với người bình thường.
Suy thận mạn là một tổn thương không phục hồi của các đơn vị thận làm mất dần chức năng thận. Bệnh không thể chữa khỏi và thường diễn tiến âm thầm. Triệu chứng bệnh có thể chỉ xuất hiện khi chức năng thận chỉ còn lại 1/10 so với mức bình thường. Do đó, việc phát hiện sớm để điều trị sẽ làm chậm diễn tiến của bệnh, bảo vệ, cải thiện chức năng thận, chậm tiến trình suy thận, giảm nhu cầu chạy thận trong xã hội.
Khi suy thận chuyển sang giai đoạn cuối thì người bệnh phải chạy thận, ghép thận để duy trì sự sống gây ảnh hưởng rất lớn về sức khoẻ và kinh tế.
Theo Phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Thị Bay - Trưởng khoa nội Y học cổ truyền Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, để làm chậm tiến triển của suy thận mạn cần có chế độ ăn hạn chế đạm, ít muối, kiểm soát tốt huyết áp, ngăn chặn các yếu tố thúc đẩy tiến triển bệnh như thuốc lá, dùng thuốc và dược chất không hợp lý.
Người dân có thể phát hiện bệnh sớm với các triệu chứng như ăn kém, mắc tiểu thường xuyên, tiểu máu, đau lưng, phù chân, phù mắt

3011
05-07-2010, 10:00 AM
Với người cao tuổi, trong mùa hè nên phòng ngừa xẩy ra đột qụy do lưu lượng máu não bị giảm thiểu:
1.Máy điều hòa nhiệt độ điều chỉnh nhiệt độ trong phòng quá thấp, chênh lệch nhiệt độ trong và ngoài phòng quá lớn. Khi NCT vào ra phòng, đột ngột gặp lạnh, đột ngột gặp nóng, mạch máu não rất dễ bị co thắt.
2.Thời gian sử dụng máy điều hóa nhiệt độ quá dài, luồng khí máy điều hòa hoặc máy quạt điện thổi phả trực tiếp vào đầu, phần hộp sọ bị lạnh, các mạch máu não co ngót, khiến lưu lượng máu não giảm thiểu.
3.Khi tắm trong mùa hè, nhiệt độ buồng tắm hoặc nhiệt độ nước tắm quá cao, dễ làm cho hệ thống mạch máu dưới da người già dãn nở nhiều, khiến lưu lượng máu lên não giảm đột ngột.
4.Quá đam mê đánh cờ, đánh tổ tôm, chơi bài... khiến tốc độ dòng máu có khuynh hướng chậm đi, máu phát sinh tái phân phối, dẫn tới lượng máu cung cấp cho não không đủ.
5.Sau bữa cơm lên giường đi ngủ luôn, lượng máu toàn thân đổ dồn về hướng đường tiêu hóa, đương nhiên là giảm lượng máu cung cấp lên não.
Trong mùa hè, nhiệt độ ngoài trời thường cao, người già nên hạn chế ra khỏi phòng vào ban ngày, nhất là những hôm nắng gắt, trường hợp buộc phải ra ngoài thì thời gian cũng không nên kéo dài. Với người già có bệnh tim mạch thì khi dùng máy điều hòa nhiệt độ nên nhớ chỉ khống chế nhiệt độ ở khoảng 27oC và mức chênh lệch nhiệt độ trong - ngoài phòng tốt nhất là không được vượt quá 7oC. Cần phải chú ý thường xuyên bổ sung thuỷ phần, đề phòng máu tăng đặc dẫn tới hình thành nên máu (throm bosis), tập thói quen “khi không khát cũng uống nước”. Sáng sớm sau khi ngủ dậy hãy uống một cốc nước nóng ấm, mỗi ngày ngoài hấp thu lượng thuỷ phần kèm theo các bữa cơm, còn nên uống chí ít là 1.000ml nước đun sôi để nguội hoặc nước chè loãng. Ngoài ra, còn luôn nhớ uống thuốc đúng giờ và đúng liều lượng theo chỉ dẫn của bác sĩ và định kì đi phúc tra sức khỏe.

3011
05-07-2010, 10:06 AM
Theo Tổ chức Y tế Thế giới hiện nay tăng huyết áp được xem là một trong 10 bệnh nguy hiểm ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ nhân loại có thể làm giảm thọ từ 10 đến 20 tuổi. Thực tế cũng đã cho thấy hậu quả của việc điều trị không đúng bệnh tăng huyết áp sẽ dẫn đến tình trạng huyết áp tăng cao đột ngột có thể làm đứt mạch máu não gây xuất huyết não, đột quỵ, suy tim cấp, phù phổi cấp hay tình trạng huyết áp tăng vừa phải thường xuyên sẽ gây ra suy tim mãn, suy thận mãn, tổn thương ở đáy mắt. Qua đó chúng ta thấy hầu hết các biến chứng này đều nguy hiểm tính mạng hoặc không hồi phục. Nhưng trong thực tế việc điều trị tốt bệnh tăng huyết áp để tránh các tai biến nguy hiểm này là đều không dễ dàng thực hiện được. Tại nhiều nước trên thế giới việc kiểm soát tốt bệnh tăng huyết áp vẫn ở một tỷ lệ khá thấp. Chẳng hạn như bệnh nhân tăng huyết áp được kiểm soát tốt huyết áp dưới mức 140/90mmHg tại Mỹ là 24%, tại Pháp là 24%, tại Canađa là 16%, tại Anh quốc là 6% và tại nhiều nước đang phát triển con số này cũng chỉ khoảng 1- 2%. Qua các con số này cho chúng ta thấy cứ 100 người bị tăng huyết áp thì chỉ khoảng 10 người là có huyết áp được điều trị tốt dưới 140/90mmHg còn là 90 người huyết áp luôn ở mức gây hại cho sức khoẻ. Như vậy làm sao để điều trị tốt bệnh tăng huyết áp và phòng ngừa được các biến chứng của nó, đó chính là mục tiêu của bài nói hôm nay. Để đạt được mục tiêu này chúng ta cần xem và hiểu 3 vấn đề cơ bản sau đây:
1. Các yếu tố nào làm bệnh tăng huyết áp trở nên nguy hiểm hơn.
2. Làm gì để điều trị tốt bệnh tăng huyết áp.
3. Cách theo dõi huyết áp tại nhà khi đang điều trị tăng huyết áp.
Theo quan niệm hiện nay của Tổ chức Y tế Thế giới thì huyết áp thấp hơn 120/80mmHg được xem là huyết áp tối ưu không gây hại cho sức khoẻ. Trong đó 120 gọi là số huyết áp trên 80 gọi là số huyết áp dưới. Gọi là tăng huyết áp khi số trên cao hơn 140mmHg hoặc số huyết áp dưới cao hơn 90mmHg.
Gọi là tăng huyết áp độ 1 hay độ nhẹ khi: số huyết áp trên từ 140 đến 159mmHg hoặc số huyết áp dưới từ 90 đến 99mmHg.
Gọi là tăng huyết áp độ 2 hay độ trung bình khi: số huyết áp trên từ 160 đến 179mmHg hoặc số huyết áp dưới từ 100 đến 109mmHg.
Gọi là tăng huyết áp độ 3 hay độ nặng khi: số huyết áp trên từ 180mmHgtrở lên hoặc số huyết áp dưới từ 110mmHg trở lên.
Khi số huyết áp trên và dưới thuộc 2 độ khác nhau thì chọn độ theo số huyết áp cao hơn.
Khi đã xác định có bị tăng huyết áp bạn cần xác định thêm 4 yếu tố sẽ làm tác động xấu hơn bệnh tăng huyết áp của bạn. Bốn yếu tố này là:
1. Các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch.
2. Tổn thương nội tạng trong cơ thể do tăng huyết áp
3. Bị bệnh đái tháo đường.
4. Có một số bệnh lý khác đi kèm.
Khi bạn càng có`nhiều yếu tố trong 4 yếu tố này thì khả năng bị tai biến do bệnh tăng huyết áp càng tăng cao. Các yếu tố này cụ thể như sau:
Tám yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch:
1. Mức độ tăng của số huyết áp trên và số huyết áp dưới từ độ 1 đến độ 3.
2. Phái nam trên 55 tuổi.
3. Phái nữ trên 65 tuổi.
4. Có hút thuốc lá.
5. Bị rối loạn mỡ trong máu. Cụ thể là Cholesterol toàn phần trong máu cao hơn 6,5mmol/l hoặc 250mg%. Hoặc cholesterol gây hại có tênLDL-c cao hơn 4mmol/l hay 155mg% hoặc cholesterol bảo vệ có tên là HDL-c thấp hơn 40mg% ở nam, hay 48mg% ở nữ.
6. Trong gia đình có người bị bệnh tim mạch sớm nam dưới 55 tuổi, nữ dưới 65 tuổi.
7. Bị béo phì vòng bụng, nam có vòng bụng trên 102cm hay nữ có vòng bụng trên 88cm.
8. Trong máu loại protein có tên protein phản ứng C cao hơn 1mg/dl.
Các dạng tổn thương cơ quan nội tạng do tăng huyết áp:
1. Lớn tim: biểu hiện trên điện tâm đồ, siêu âm tim, chụp x quang tim.
2. Suy thận mãn, tổn thương thận dưới dạng tiểu vi đạm niệu.
3. Tổn thương đáy mắt: xuất huyết, xuất tiết võng mạc, phù gai thị.
Bị bệnh đái tháo đường:
Tức là đường trong máu khi đói cao hơn 7mmol/l hoặc đường trong máu sau ăn tăng lên 11mmol/l hoặc 198mg%. Các bệnh lý khác đi kèm:
1. Đã bị tai biến mạch máu não dù nặng hay nhẹ.
2. Bệnh tim do thiếu máu cơ tim cục bộ dưới các mức độ: cơn đau ngực, nhồi máu cơ tim.
3. Đã bị suy tim, suy thận…
4. Các dạng bệnh lý mạch máu ngoại biên.
Khi đã xác định được tất cả các yếu tố tác động xấu thêm bệnh tăng huyết áp. Bạn phải có thái độ điều trị tích các yếu tố này có thể được
Những việc cần làm để điều trị tốt bệnh tăng huyết áp:
Để điều trị tốt bệnh tăng huyết áp bạn cần thực hiện 3 điều sau đây:
* Đưa được huyết áp vế thấp hơn 140/90mmHg.
* Thực hiện tốt các biện pháp điều trị không dùng thuốc và có dùng thuốc
* Điều trị các bệnh lý khác đi kèm theo.
Điều trị để mức huyết áp thấp hơn 140/90mmHg là bạn đã tự giúp cơ thể mình trách được các biến chứng nguy hiểm của bệnh tăng huyết áp như: giảm 40% khả năng bị đứt mạch máu não, 50% khả năng bị suy tim mãn, giảm 30% khả năng bị tai biến mạch máu não tái phát, và nhiều biến chứng khác… Như vậy để đạt được các lợi ích này bạn cần thực hiện các điều sau đây:
* Thực hiện tốt việc điều trị lhông dùng thuốc và việc điều trị có dùng thuốc.
* Điều trị các bệnh lý khác đi kèm theo nếu có.

3011
05-07-2010, 10:10 AM
Mục tiêu: Đưa huyết áp về dưới 140/90mmHg.
Trong điều trị có dùng thuốc bạn cần lưu ý 3 điểm:
1. Phải tuân thủ theo hướng dẫn của bác sĩ, tái khám đúng kỳ hẹn. Bạn không nên tự ý mua thuốchạ huyết áp để uống hay uống thuốc theo chỉ dẫn của người quen, lối xóm hay bạn bè lhông phải là bác sĩ.
2. Theo quan niệm hiện nay thuốc hạ huyết áp nên được sử dụng sớm khi có chỉ định và nên phối hợp nhiều loại thuốc hạ huyết áp với liều thấp hơn là sử dụng một loại thuốc với liều cao.
3. Sáu nhóm thuốc hạ huyết áp thường được sử dụng hiện nay có tên là khoa học.
1. Nhóm thuốc lợi tiểu.
2. Nhóm thuốc chẹn kênh canxi
3. Nhóm thuốc ức chế thụ thể bêta
4. Nhóm thuốc ức chế thụ thể alpha
5. Nhóm thuốc ức chế men chuyển
6. Nhóm thuốc ức chế thụ thể angiotensinll
Trong 6 nhóm thuốc chính nêu trên mỗi nhóm có nhiều thế hệ mỗi thế hệ có nhiều dẫn xuất khác nhau, mỗi dẫn xuất lại có nhiều tên thương mạikhác nhau do vậy trên thị trường thuốc hiện nay có đến vài trăm tên thuốc hạ huyết áp.
Khi chọn lựa thuốc huyết áp cho người bệnh thầy thuốc sẽ căn cứ vào 6 yếu tố sau đây:
1. Loại thuốc bệnh nhân đã dùng trước đó và sự dung nạp hay phản ứng phụ của bệnh nhân với loại thuốc này.
2. Khả năng kinh tế của bệnh nhân đáp ứng cho việc sử dụng lâu dài với các loại thuốc hạ huyết áp và những xét nghiệm theo dõi khác kèm theo.
3. Các nguy cơ tim mạch mà bệnh nhân đang có.
4. Sự hiện diện của tổn thương nội tạng do tăng huyết áp hay bệnh tim mạch, bệnh thận và đái tháo đường.
5. Sự hiện diện của các bệnh lý khác như rối loạn mỡ trong máu, hen suyễn, bệnh lý về khớp, u sơ tiền liệt tuyến…các bệnh này có thể thuận lợi hay gây bất lợi khi sử dụng một loại thuốc hạ huyết áp.
6. Tương tác giữa thuốc điều trị tăng huyết áp và các loại thuốc khác mà bệnh nhân đang dùng.

3011
06-07-2010, 11:09 AM
Những bệnh nhân ung thư tiền liệt tuyến sẽ sớm được điều trị bằng phương pháp mới khác hẳn phương pháp cũ. Sóng siêu âm tập trung cường độ mạnh, gọi tắt là HIFU - một công nghệ dựa trên sóng siêu thanh có thể phá hủy một cách chính xác những tế bào ung thư mà không ảnh hưởng tới các mô xung quanh.
Kĩ thuật chữa trị ung thư tuyến tiền liệt mới sẽ sử dụng năng lượng âm thanh để chữa ung thư tuyến tiền liệt. Phương pháp này dựa vào những dao động âm thanh cường độ cao không thể nghe thấy được để phá hủy những tế bào ung thư một cách chính xác mà không tổn hại đến các mô xung quanh.
Anh Graham Cole - người bị ung thư tiền liệt tuyến hi vọng phương pháp này sẽ cứu mạng sống của anh. Bác sĩ đã từng khuyên anh không nên hành động gì để làm chậm lại tiến trình ung thư, bởi vì tất cả phương pháp truyền thống như phẫu thuật cắt bỏ khối u hay xạ trị đều có nguy cơ gây ra các phản ứng phụ như giảm ham muốn hoặc mất khả năng tình dục.
Phương pháp điều trị này không để lại biến chứng cho bệnh nhân và hạn chế được những nguy hại đối với cơ thể người bệnh so với phương pháp xạ trị. Chùm sóng siêu âm chiếu bên ngoài cơ thể bệnh nhân sẽ được gia tăng cường độ tại các bộ phận bị ung thư trong cơ thể, tạo ra một nhiệt lượng cục bộ tiêu diệt các tế bào ung thư.
Nguyên lý của phương pháp này tương tự như việc sử dụng một kính lúp tập trung năng lượng ánh nắng để đốt cháy một lỗ nhỏ trên tờ giấy. Tuy nhiên, phương pháp này hạn chế hơn so với phương pháp phẫu thuật trực tiếp vì thời gian điều trị lâu hơn. Để tiêu diệt một vùng ung thư rộng 10 cm, nếu sử dụng phương pháp này (HIFU) phải mất 5 giờ so với 45 phút phẫu thuật.
Ông John Neate - Hội từ thiện ung thư tiền liệt tuyến cho biết: "Sẽ có hàng trăm nếu không nói là hàng nghìn bệnh nhân được hưởng lợi từ phương pháp chữa bệnh này, nhưng quan trọng là chúng tôi phải thử nghiệm kết quả của phương pháp mới".
Hiện, phương pháp HIFU đang được thử nghiệm tại 2 trường đại học của Anh. Trong số 18 người được chữa trị bằng phương pháp này, không ai bị u phồng lên và chỉ có 1 người có dấu hiệu bị bất lực. Tuy nhiên, HIFU chỉ mang lại hiệu quả đối với những bệnh nhân ung thư khi bệnh chưa phát triển tới giai đoạn di căn.

3011
06-07-2010, 11:13 AM
Các nhà khoa học Phần Lan đã tiến hành các xét nghiệm trên 592 bệnh nhân, đồng thời tiến hành đối chiếu những bệnh nhân này với 765 trường hợp có sức khỏe bình thường.
Kết quả cho thấy, những bệnh nhân mắc ung thư ăn 9,5 khẩu phần ăn/tuần, còn những người không bị bệnh ăn 11 khẩu phần ăn/ngày.
Nguy cơ mắc ung thư giảm rõ rệt ở nhóm đối tượng ăn 1 quả táo/ngày và nếu ăn hơn 1 quả táo/ngày, nguy cơ mắc ung thư sẽ giảm 50%.
Nghiên cứu cũng chứng minh, ăn các loại hoa quả hoặc rau xanh khác không có tác dụng chống ung thư ruột kết và lão hóa tốt như ăn táo.
Giải thích kết quả đáng ngạc nhiên này, các nhà khoa học Phần Lan cho biết, hàm lượng flavonoid trong táo rất cao. Chất này hoạt động như các chất chống oxy hóa và tập trung khá nhiều ở vỏ táo. Nó có tác dụng ngăn ngừa các gốc tự do gây hại cho tế bào, và có thể tác động ngược trở lại các tế bào ác tính, kiềm hãm sự sản sinh, ngăn ngừa ung thư hiệu quả.
Hàm lượng chất chống oxy hóa trong vỏ táo cao hơn 5 lần so với trong các loại thịt và quả khác. Do vậy, nên rửa sạch táo và ăn cả vỏ để đạt hiệu quả chống ung thư cao nhất.

3011
06-07-2010, 11:17 AM
Hút thuốc lá là nguyên nhân chính gây ung thư phổi. 90% bệnh nhân ung thư phổi do hút thuốc lá. Mặc dù còn 4% bệnh nhân bị ung thư phổi mà không hút thuốc, nhưng vài người trong số họ đã hít một số lượng đáng kể khói thuốc lá (hít khói của người hút thuốc lá). 90% bệnh nhân ung thư phổi đã hút hơn 10 điếu thuốc lá/ ngày trong 20 năm.
Những công nhân tiếp xúc với bụi silic có nguy cơ cao bị ung thư phổi. Nguy cơ này sẽ tăng lên nhiều lần nếu bệnh nhân có hút thuốc lá.
Những tiếp xúc nghề nghiệp khác liên quan tới ung thư phổi bao gồm tiếp xúc với quá trình luyện thép, ni-ken, crôm và khí than.
Tiếp xúc với tia phóng xạ có nguy cơ bị các bệnh ung thư trong đó có cả ung thư phổi. Những công nhân mỏ uranium, fluorspar và hacmatite có thể tiếp xúc với tia phóng xạ do hít thở không khí có chứa khí radon.
Ngoài ra, nguy cơ ung thư phổi liên quan đến các chất gây ô nhiễm không khí. Các nghiên cứu gần đây thấy ung thư phổi có liên quan yếu tố gen.

3011
06-07-2010, 11:19 AM
Phẫu thuật loại bỏ khối u:Có hiệu quả nhất khi khối u còn nhỏ và chưa có di căn. Bệnh nhân có thể trạng tốt để phẫu thuật. 20% bệnh nhân được điều trị theo phương pháp này. Những bệnh nhân được phẫu thuật lấy toàn bộ khối u có thời gian sống thêm lâu dài.
Điều trị tia xạ:
Phương pháp này được áp dụng cho 35% bệnh nhân. Mục đích là phá hủy khối u khi nó còn nhỏ (thường có đường kính 6 cm) và không có di căn. Đối với những khối u lớn thì nó làm giảm sự phát triển của khối u. Phương pháp điều trị này kéo dài đời sống của bệnh nhân nhưng ít khi chữa khỏi bệnh.
Điều trị bằng hóa chất:
Có tác dụng tốt ở hầu hết bệnh nhân ung thư phổi loại tế bào nhỏ và đôi khi ở những loại ung thư phổi khác. Những tiến bộ gần đây về hóa trị liệu đã làm giảm đáng kể những tác dụng phụ so với trước đây.
Điều trị hỗ trợ:
Chỉ áp dụng cho khoảng 1/3 bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn muộn không điều trị được bằng các phương pháp kể trên, bao gồm chăm sóc bệnh nhân, điều trị triệu chứng và làm giảm đau.
Cần có một chế độ ăn thích hợp, nghỉ ngơi, chăm sóc về mặt y tế và giải trí đôi khi giúp ích cho bệnh nhân.
Ở hầu hết các bệnh nhân ung thư, kết quả điều trị tốt nhất khi ung thư được phát hiện sớm và điều trị kịp thời.
Hiện nay có nhiều phương pháp điều trị mới bao gồm đưa chất đồng vị phóng xạ vào phế quản, điều trị bằng tia xạ, điều trị bằng laser, các thuốc hóa chất mới, những nghiên cứu sinh học phân tử đang được tiến hành và đã thu được một số kết quả.

3011
06-07-2010, 11:21 AM
I. Đại cương:
Theo hiệp hội quốc tế chống ung thư (Inernational Union against Cancer: IUAC) thì Ung thư tuyến giáp chiếm khoảng 1% các loại Ung thư. Tại các nước có bệnh Bướu cổ địa phương tỉ lệ này thường lớn hơn. Tần suất mắc bệnh chuẩn theo tuổi ở Nam là 3/100 000 dân/năm, trong khi ở nữ cao gấp 2-3 lần tỉ lệ đó. Theo số liệu của Bệnh viện K Hà nội, Ung thư tuyến giáp chiếm khoảng 2% tổng số các Ung thư, trong đó tỉ lệ mắc bệnh chuẩn theo tuổi là 0,3/100 000 dân/năm.
Phần lớn Ung thư tuyến giáp tiến triển âm thầm, triệu chứng lâm sàng ngèo nàn, giai đoạn ẩn bệnh kéo dài. Bệnh nhân có thể sống 15-20 năm. Vì vậy, có thể nói rằng tiên lượng của đa số bệnh nhân Ung thư tuyến giáp là tốt nếu được chẩn đoán và điều trị sớm và tích cực.
II. Nguyên nhân và bệnh sinh:
Còn nhiều điểm chưa rõ ràng nhưng các yếu tố có liên quan đến xuất hiện bệnh là:
+ Tuổi: có thể gặp Ung thư tuyến giáp ở mọi lứa tuổi, nhưng hay gặp ở lứa tuổi 7-20 và 40-65.
+ Giới: Nữ giới mắc bệnh nhiều hơn Nam giới 2-3 lần.
+ Nơi sinh sống:
- Tại những khu vực có bệnh Bướu cổ địa phương thì tỉ lệ mắc bệnh Ung thư tuyến giáp cao hơn các khu vực khác.
- Bệnh nhân ở gần biển(ăn uống có đủ Iot) khi có Bướu giáp thể nhân thì nguy cơ bướu là ác tính cao hơn các vùng khác.
- Tại những khu vực bị nhiễm xạ thì tỉ lệ mắc Ung thư tuyến giáp cao hơn các vùng khác.
+ Tiền sử đã có dùng tia xạ điều trị các bệnh lành tính khác ở vùng đầu mặt cổ thì khi có Bướu giáp nhân sẽ có nguy cơ cao bị ác tính.
+ Di truyền: Ung thư tuyến giáp thể tuỷ thường có tính chất gia đình. Đặc biệt, loại đa ung thư nội tiết tip II ( MEN II: Multiple endocrine neoplasia type II) có Ung thư tuyến giáp thể tuỷ kèm U tuỷ thượng thận và có thể có U ở các tuyến nữa... đã được xác định là có tính di truyền.
III. Giải phẫu bệnh:
Theo tổ chức y tế thế giới, dựa vào mô bệnh học có thể phân chia Ung thư tuyến giáp ra 5 loại:
1. Ung thư biểu mô thể nhú:
Chiếm khoảng 60-70% các Ung thư tuyến giáp.
+ Đại thể: u thường là một khối đơn độc.
+ Vi thể: hình ảnh chiếm ưu thế là cấu trúc dạng nhú với lưới nội mô liên kết và mao mạch nâng đỡ. Đôi khi cũng thấy cấu trúc túi tuyến chiếm ưu thế.
2. Ung thư biểu mô thể nang:
+ Đại thể: có thể ở dạng một khối u nhỏ có vỏ bọc hoặc một khối u xâm lấn mạnh chiếm toàn bộ một thuỳ làm cho tuyến giáp to lên không đều.
+ Vi thể: có cấu trúc giống như trong nang tuyến đang hình thanh hay đã trưởng thành, nhưng có thể thấy các tế bào Hĩrthle hoặc các tế bào sáng ở từng vùng hay khắp khối u. Nếu u được cấu tạo hoàn toàn bởi các tế bào Hĩrthle hoặc tế bào sáng thì được coi là một biến thể đặc hiệu của thể này, đó là ung thư biểu mô tế bào Hĩrthle hoặc tế bào sáng. Có thể biệt hoá rõ hoặc loại biệt hoá Vita (còn gọi là Ung thư biểu mô bè).
3. Ung thư biểu mô thể tuỷ: phát sinh từ tế bào C của tuyến giáp.
+ Đại thể: có thể có một hoặc nhiều u ở cả hai thuỳ. U mềm hoặc có khi khá chắc, màu trắng xám hoặc vàng nâu. Có khi U bị hoại tử chảy máu và phá vỡ bao tuyến.
+ Vi thể: U cấu tạo bởi những tế bào tròn đa diện hoặc hình thoi, thường chứa chất dạng tinh bộ. Cấu trúc và chức năng của các tế bào u giống với tế bào C.
4. Ung thư biểu mô không biệt hoá:
+ Đại thể: thường là một khối u lớn ở vùng cổ vì bệnh tiến triển rất nhanh.
+ Vi thể: có 3 loại theo hình thái tế bào trong u, đó là loại u tế bào hình thoi, u tế bào khổng lồ và u tế bào nhỏ.
5. Ung thư dạng biểu bì:
Vi thể thấy trong cấu trúc u có các cầu sừng, các cầu nối hoặc chỉ có Keratin.
IV. Triệu chứng lâm sàng:
1. Đặc điểm chung:
Đại đa số ung thư tuyến giáp đều tiến triển âm thầm, chậm chạp và kéo dài nên bệnh nhân thường không nhận thấy được ngay những thay đổi của toàn thân, vẫn lao động và sinh hoạt bình thường. Cho đến khi xuất hiện những rối loạn tại chỗ do u chèn ép, xâm lấn(gây khó thở và không ăn uống được), khối u hoại tử, bội nhiễm và loét thì tình trạng toàn thân mới sa sút nặng.
2. Các triệu chứng sớm:
+ Khối U: thường do bệnh nhân hay người nhà tình cờ phát hiện ra. U to ra dần, di động theo nhịp nuốt, có thể nằm ở bất cứ vị trí nào của tuyến giáp. Thường chỉ có một nhân đơn độc nhưng cũng có khi có nhiều nhân và nằm ở cả hai thuỳ tuyến giáp. Mật độ thường chắc. Bề mặt thường gồ ghề.
+ Hạch cổ: có khi U chưa sờ thấy được nhưng đã có hạch cổ to. Tuy nhiên, những triệu chứng sớm này khó phân biệt với một bướu lành tính, do đó khi có hạch cổ kèm theo khối U với những tính chất như trên thì luôn phải cảnh giác và tìm các biện pháp chẩn đoán xác định Ung thư sớm.
3. Các triệu chứng muộn:
+ Khối U: có khi khá lớn, lấn ra phía trước, ra sau, lên hai cực trên sát hai góc hàm và xuống dưới vào trong trung thất (khám lâm sàng không sờ thấy được cực dưới của U). Bề mặt thường gồ ghề, mật độ có chỗ cứng chắc có chỗ mềm. Đặc biệt, khối U dính chặt và xâm lấn vào các cơ quan vùng cổ nên ranh giới không rõ và khả năng di động kém. Có khi khối U xâm nhiễm và loét sùi qua da vùng cổ, gây chảy máu và bội nhiễm tại chỗ.
+ Khàn tiếng, khó thở, khó nuốt, nuốt nghẹn. . . ở các mức độ khác nhau do khối U phát triển xâm lấn và chèn ép các cơ quan xung quanh. Các triệu chứng này gặp với tỉ lệ cao và sớm, nhất là ở Ung thư thể không biệt hoá.
+ Cảm giác vướng tức, bó chặt ở vùng cổ: là triệu chứng thường gặp. Có khi cảm giác đau tức tại U lan lên góc hàm, mang tai cùng bên do U chèn ép và kích thích đám rối thần kinh cổ.
+ Hạch to ở vùng cổ (dọc hai bên khí quản, theo các bờ trong, ngoài và sau hai cơ ức đòn chũm, góc hàm, hố thượng đòn. . . ).
V. Triệu chứng cận lâm sàng:
1. Chụp X. quang:
+ Thường chụp X. quang vùng cổ 2 tư thế (thẳng và nghiêng)không chuẩn bị hoặc có uống cản quang thực quản.
+ Xác định được hình ảnh khối U chèn ép khí quản và thực quản, hình khối U phát triển vào trung thất hoặc có di căn vào phổi (nếu có).
2. Chụp xạ hình tuyến giáp:
+ Thường dùng I131 phóng xạ để chụp tuyến giáp. Hiện nay nhiều nơi còn dùng những kháng thể đơn dòng có gắn đồng vị phóng xạ để chụp xạ hình tuyến giáp nhằm phát hiện Ung thư tuyến giáp và các ổ di căn nhỏ.
+ Trên xạ hình đồ các khối Ung thư tuyến giáp thường có hình “nhân lạnh”. Tuy nhiên hình ảnh này không đặc hiệu cho Ung thư vì các nhân nang tuyến giáp cũng có hình nhân lạnh (có thể kết hợp với chụp Siêu âm để chẩn đoán phân biệt).
3. Siêu âm tuyến giáp:
+ Siêu âm thường được tiến hành sau khi đã khám lâm sàng và chụp xạ hình tuyến giáp.
+ Xác định được U là đặc hay Nang, đo được kích thước, thể tích và trọng lượng của U và tuyến giáp.
4. Chụp cắt lớp vi tính (CT) và chụp cộng hưởng từ (MRI):
+ Xác định được vị trí, hình dạng, kích thước...của khối Ung thư tuyến giáp.
+ Xác định được mức độ chèn đẩy, xâm lấn, tương quan giải phẫu... của khối Ung thư với các cơ quan xung quanh như: khí quản, thực quản, các mạch máu...
5. Chẩn đoán tế bào học:
+ Chẩn đoán tế bào học khối U bằng sinh thiết hút kim nhỏ là một phương pháp chẩn đoán đơn giản, nhanh chóng, rẻ tiền. Với một xét nghiệm viên có kinh nghiệm thì độ chính xác của chẩn đoán có thể đạt tới 90 %.
+ Có thể chọc hút cả khối U và Hạch cổ, chọc nhiều vị trí và chọc nhiều lần để chẩn đoán chính xác hơn.
6. Xét nghiệm giải phẫu bệnh lý:
Đây là xét nghiệm cho giá trị chẩn đoán quyết định Ung thư tuýên giáp cả về bệnh lý và các type mô bệnh học. Tuy nhiên chỉ làm được sau khi đã mổ cắt hoặc sinh thiết khối U.
7. Xét nghiệm tìm chất đánh dấu khối U (Tumour marker):
Các “chất đánh dấu khối U” là các chất đặc biệt do các khối U tiết ra mà bình thường không có trong cơ thể. Khi phát hiện thấy có các chất đó trong máu thì chứng tỏ các khối U đó đang có mặt trong cơ thể.
Trong Ung thư tuyến giáp có thể phát hiện thấy các chất đánh dấu khối U như: HTG (Human Thyroglobulin), CEA (Carcino Embrionic Antigen)...

3011
06-07-2010, 11:27 AM
Trong Ung thư tuyến giáp, điều trị ngoại khoa đóng vai trò cơ bản. Điều trị hoá chất và phóng xạ được xử dụng kết hợp trước mổ và bổ xung sau mổ hoặc để điều trị mang tính chất tạm thời khi bệnh nhân không còn khả năng phẫu thuật nữa.
1. Chỉ định các phương pháp phẫu thuật:
+ Cắt bỏ thuỳ có U kèm cả Eo tuyến và cắt gần hoàn toàn thuỳ bên đối diện: khi u có đường kính < 1 cm, chỉ nằm gọn hoàn toàn trong một thuỳ và là Ung thư thể nhú. Nếu có hạch to vùng cổ thì phải tiến hành mổ lấy bỏ hoàn toàn các hạch đó.
+ Cắt hoàn toàn tuyến giáp: khi U có đường kính > 3 cm và đã xâm lấn ra ngoài vỏ bao tuyến giáp. Sau mổ cần điều trị bổ xung bằng I131 phóng xạ để tiêu diệt nốt tổ chức tuyến còn sót lại.
+ Trong mọi trường hợp đều phải mổ lấy triệt để các hạch di căn để hạn chế khả năng tái phát. Ngoài ra, sau mổ cắt toàn bộ tuyến giáp bệnh nhân thường được dùng Thyroxin kéo dài không những nhằm mục đích điều trị thay thế mà còn để làm giảm TSH trong máu, nhờ đó giảm được khả năng tái phát của bệnh.
2. Điều trị ngoại khoa một số thể Ung thư tuyến giáp:
+ Thể nang: chỉ định mổ cắt bỏ hoàn toàn tuyến giáp, sau mổ cần điều trị bổ xung bằng I131 phóng xạ.
+ Thể tuỷ: chỉ định mổ cắt bỏ hoàn toàn tuyến giáp vì U thường có ở cả hai thuỳ, chú ý điều trị tình trạng đa u nội tiết nếu có.
+ Thể không biệt hoá: nếu U còn nhỏ thì có thể mổ cắt hoàn toàn tuyến giáp. Tuy nhiên đa số bệnh nhân đều đến muộn và U đã phát triển xâm lấn mạnh các cơ quan xung quanh, do đó nhiều khi phẫu thuật chỉ mang tính chất tạm thời và không triệt để (nhiều khi mổ chỉ với mục đích khai thông và duy trì đường thở cho bệnh nhân). Phải kết hợp điều trị bằng hoá chất, tia xạ...
+ Ung thư tuyến giáp đã có di căn: có thể dùng tia xạ và hoá chất điều trị chuẩn bị mổ, sau đó mổ cắt bỏ khối U và lấy hạch di căn càng triệt để càng tốt theo điều kiện cho phép, sau mổ tiếp tục điều trị bổ xung bằng tia xạ, hoá chất...

3011
18-07-2010, 04:49 AM
Con cái và cha mẹ có nhiều điểm tương đồng như chiều cao cơ thể, thân hình béo hoặc gầy, màu sắc da, độ to của mắt, độ cao của mũi… Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, những đặc trưng trên rất dễ di truyền từ bố mẹ sang những thế hệ sau
1. Tuổi thọ
Nếu những người trong gia đình (ông bà, bố mẹ) có tuổi thọ trung bình cao thì con cái mà họ sinh ra cũng sẽ được thừa hưởng đặc trưng như thế này.
Tuy nhiên, tuổi thọ mỗi người dài hay ngắn còn chịu ảnh hưởng của những yếu tố khác ngoài di truyền như: môi trường sống, thói quen ăn uống, môi trường làm việc…
2. Chiều cao cơ thể
Nghiên cứu cho thấy, chiều cao cơ thể con người quyết định bởi 70% gene di truyền, những yếu tố ảnh hưởng khác chỉ chiếm 30%.
Theo lẽ thường, nếu bố mẹ cao, chiều cao của con cái sẽ theo tỷ lệ 3:1( cơ hội cao là ba, thấp là 1).
3. Béo gầy
Người có tỷ lệ trao đổi chất trong cơ thể thấp rất dễ béo, đó là do những nguyên tố di truyền quyết định.
Theo nghiên cứu, nếu cơ thể đời cha mẹ thuộc loại dễ béo, con cái cũng dễ có thân hình tương tự. Cụ thể, nếu chỉ một người, bố hoặc mẹ béo, tỷ lệ sinh con dễ béo là 30%. Nếu cả hai cùng béo, tỷ lệ này là 50-60%. Cần đặc biệt lưu ý chế độ dinh dưỡng cho những trẻ thuộc loại dễ béo này.
4. Màu sắc da
Di truyền màu da là nguyên tắc tự nhiên nhằm tạo ra những chủng tộc người nhất định. Theo các nhà khoa học, nếu bố mẹ đen thì tuyệt đối không thể sinh ra những đứa con da trắng ngần và ngược lại.
5. Mắt
Hình dáng và màu sắc mắt là yếu tố di truyền dễ nhận thấy. Thậm chí ngay cả vùng da mắt, hình dáng lông mày, lông mi cũng có khả năng di truyền.
6. Hình dáng mũi
Người da vàng mũi tẹt, sống mũi thấp, người da trắng sống mũi cao, hốc mũi sâu…đều là kết quả của sự di truyền để tạo nên đặc trưng phân biệt này.
Cả bố và mẹ đều có sống mũi cao, thẳng thì khả năng di truyền cho đời con là rất cao.
7. Tai
Hình dáng tai cũng là một trong những yếu tố có được do di truyền. Tai to hay nhỏ, hình dáng tròn hay dài, độ dày hay mỏng đều do yếu tố di truyền quyết định.
8. Cằm
Cha hoặc mẹ hoặc cả hai đều di truyền cho đời con cái sau này hình dáng cằm tương tự.
9. Giọng nói
Giọng nói của con cái thường rất giống với của bố mẹ. Hình dáng môi khi nói cười, độ mở của miệng… đều có nhiều nét tương đồng. Thông thường, giọng nói của con trai sẽ gần giống với giọng của bố, giọng nói con gái thường giống giọng của mẹ.
10. Trí thông minh
Trí thông minh được quyết định bởi hai yếu tố chủ đạo là di truyền và môi trường sống, lần lượt theo tỷ lệ 60% và 40%. Về mặt di truyền, bao gồm cả di truyền IQ và EQ.

3011
18-07-2010, 04:55 AM
Kháng insulin (KI) và cường insulin (CI) là một yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch, được chứng minh qua nhiều nghiên cứu. Câu hỏi được đặt ra là KI/CI có phải là yếu tố nguy cơ độc lập của bệnh mạch vành (BMV) hay không.
Nghiên cứu gồm 40 nam giới được chia thành 2 nhóm: 22 bệnh nhân BMV và 18 người chứng, tương đương nhau về tuổi, chỉ số khối cơ thể (BMI), HA và các chỉ số lipid máu. KI/CI được đánh giá bằng nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống với các chỉ số: insulin máu lúc đói, 1/2 giờ và 2 giờ sau uống glucose (I0, I1/2 và I2), glucose máu lúc đói, 1/2 giờ và 2 giờ sau uống glucose (G0, G 1/2 và G2), diện tích dưới đường biểu diễn của insulin (A1) và glucose (AG). Kết quả cho thấy không có sự khác biệt về I0, G0 và AG giữa 2 nhóm (5,05 ± 0,61 so với 4,97 ± 0,75; 22,09 ± 8,33 so với 18,17 ± 5,22 và 14,99 ± 2,10 so với 13,77 ± 2,14 tương ứng, p >0,05). Trong khi đó I1/2, I2, AI và AI/AG trong nhóm nghiên cứu cao hơn hẳn nhóm chứng (131,09 ± 73,63 so với 74,11 ± 34,28; 78,73 ± 47,70 so với 38,61 ± 17,34; 195,66 ± 102,94 so với 107,61 ± 36,17; 13,15 ± 6,91 so với 7,95 ± 2,86 tương ứng, p <0,01).
Nghiên cứu cho thấy, KI/CI hiện diện trong nhóm BMV và độc lập với các yếu tố nguy cơ khác.
I. Đặt vấn đề : Kháng insulin (KI) và cường insulin (CI) thường hiện diện cùng với các yếu tố nguy cơ tim mạch khác như béo phì, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu. Một số nghiên cứu đã chứng minh KI/CI là một yếu tố nguy cơ của bệnh mạch vành (BMV). Ða số các nghiên cứu đó được tiến hành ở các nước Âu Mỹ và Nhật Bản (2,3,6-16,18-21). Tuy nhiên, KI/CI có phải là một mối nguy cơ độc lập cho BMV hay không vẫn còn là một câu hỏi cần được thảo luận.
Vì các lý do trên chúng tôi tiến hành đề tài này để nghiên cứu mối liên hệ nói trên ở bệnh nhân người Việt Nam.
II. Đối tượng và phương pháp
1. Ðối tượng nghiên cứu: có hai nhóm được so sánh:
1.1. Nhóm nghiên cứu: gồm 22 bệnh nhân nam có tiêu chuẩn sau:
- Lâm sàng: hoặc có cơn đau thắt ngực (CÐTN) và trắc nghiệm gắng sức (TNGS) dương tính hay nghi ngờ, hoặc đã được chẩn đoán NMCT trước đó >2 tuần.
- Chụp động mạch vành (ÐMV): có tổn thương hẹp >25% khẩu kính của một hay nhiều nhánh ÐMV.
- Tự nguyện tham gia nghiên cứu.
2.2. Nhóm chứng: gồm 18 nam giới có tiêu chuẩn sau:
- Lâm sàng: không có CÐTN, TNGS âm tính ở mức > 85% tần số tim tối đa theo lý thuyết.
- Chụp ÐMV: không có tổn thương hẹp ÐMV >25% khẩu kính của bất kỳ một nhánh ÐMV nào.
- Tự nguyện tham gia nghiên cứu.
2.3. Các trường hợp bị loại khỏi nghiên cứu
- Suy chức năng thận.
- Ðủ tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường (ÐTÐ) bằng glucose khi đói hay qua nghiệm pháp dung nạp glucose (NPDNG) (1,17).
2. Phương pháp nghiên cứu
Tiến hành các bước sau cho tất cả các trường hợp:
- Ngưng tất cả các thuốc được biết là gây rối loạn glucose máu trong thời gian >72 giờ.
- Ðo HA ở tư thế nằm sau khi nghỉ 10 phút, đo 2 lần cách nhau 15 phút.
- Ðo chiều cao (H), cân nặng (P), tính chỉ số khối cơ thể (BMI) theo công thức BMI = P (kg)/ H2 (m).
- Ðo vòng bụng (VB) và vòng mông (VM), tính chỉ số VB/VM.
- Sau khi nhịn đói 12 giờ:
+ Lấy máu xét nghiệm: urea và creatinin máu, bilan lipid (cholesterol toàn phần:TC, triglycerid: TG, HDL-C, LDL-C).
+ Làm trắc nghiệm dung nạp glucose qua đường uống (TNDNG) với 75g glucose /250ml nước. Các mẫu máu tĩnh mạch được lấy ở các thời điểm 0, 1/2 và 2 giờ sau khi uống đường để định lượng insulin (I0, I1/2, I2) và glucose máu (G0, G1/2, G2). Glucose máu được định lượng bằng phương pháp glucose-oxidase. Insulin máu được định lượng bằng phương pháp định giá miễn dịch phóng xạ (radioimmunoassay) với kit CIS bio international (Gif-Sur-Yvette/France).
* Một số chỉ số đặc biệt:
- Chỉ số HOMA = (I0 * G0) / 22,5.
- Diện tích dưới đường biểu diễn của insulin (AI) và của glucose máu (AG) trong NPDNG được tính theo phương pháp tích phân xác định (Hình 1).
Kết quả được trình bày bằng X(S.
Phân tích thống kê bằng t-test Student hai đuôi, với p <0,05 được xem là có ý nghĩa thống kê.
III. Kết quả : Các chỉ số sinh hóa
TC, TG HDL-C, LDL-C đều không khác nhau có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm (p >0,1). Có 5 trường hợp trong nhóm nghiên cứu và 2 trường hợp trong nhóm chứng có rối loạn dung nạp glucose (7,7mM/l ( G2 <11,1mM/L). Nồng độ I0 không khác nhau có ý nghĩa thống kê mặc dù các trị số I1/2 và I2 trong nhóm nghiên cứu cao hơn rõ so với nhóm chứng (p <0,01). Tương tự, trị số G2 của nhóm nghiên cứu cao hơn nhóm chứng (p <0,05) trong khi các giá trị G0 và G1/2 tương đương nhau giữa hai nhóm (p >0,1) .

3011
18-07-2010, 05:01 AM
Suy tim: tim không bơm đủ máu để đáp ứng cho nhu cầu chuyển hoá của các mô.
1.1. Chẩn đoán
Trẻ mệt khó thở, ho, phù tiểu ít, ói, chán ăn, bỏ bú, vã mồ hôi, quấy khóc, bứt rứt da xanh, chỉ lạnh ẩm. Khám thấy mạch nhanh có nhịp ngựa phi (gallop), tim to, thở nhanh, phổi có ran ẩm, gan to mềm. Phản hồi gan-tĩnh mạch cổ dương tính (trừ nhũ nhi). Huyết áp có thể thấp hoặc kẹt.
ÐTÐ: Nhịp tim nhanh hoặc chậm, dấu dày nhĩ, dày thất
X-quang: tim to, tuần hoàn phổi tăng
Siêu âm tim: chức năng thất trái giảm, co bóp cơ tim giảm, giãn nở các buồng tim
1.2. Ðiều trị
Dựa trên cơ sở sinh lý bệnh, điều trị nguyên nhân và các yếu tố thuận lợi đi kèm.
* Giảm tiền tải
Nằm đầu cao, tiết chế muối nước, ga-rô 3 chi luân phiên
- Lợi tiểu
+ Cấp cứu: chích TM: Furosemid; chích 1-2 mg/kg/lần, có thể lặp lại 2-3 lần ngày.
+ Duy trì: uống: Spironolacton kết hợp với Furosemid uống 1 mg/kg x 2 lần/ngày hoặc
Chlorothiazid: uống 25(g/kg/2 lần ngày hoặc Hydrochlorothiazid: uống 2-3 (g/kg/2 lần/ngày)
+ Theo dõi: lượng nước tiểu, cân nặng, mạch, huyết áp, dấu hiệu mất nước, dấu hiệu rối loạn điện giải.
- Giãn tĩnh mạch: khi có sung huyết phổi không đáp ứng với lợi tiểu.
+ Isosrbid Dinitrad: đặt dưới lưỡi: tác dụng nhanh, liều 0,1-0,5mg/lần, có thể cho 3-4 lần/ngày.
+ Uống: tác dụng chậm, liều 3-5 mg/kg/ngày.
+ Theo dõi: Nhức đầu, chóng mặt, đỏ mặt, hạ huyết áp tư thế.
* Tăng sức co bóp cơ tim
- Thở oxy: cung cấp đủ năng lượng; nghỉ ngơi
- Glycosides: (ở trẻ em nên dùng Digoxin).
+ Chỉ định: sức co bóp cơ tim giảm (PXTM ì).
+ Chống chỉ định: Block nhĩ thất, hẹp phì đại dưới van ÐMC, bệnh cơ tim phì đại. Hội chứng Wolff - Parkinson - White, nhồi máu cơ tim, ngộ độc Digitalis.
+ Cách dùng: Cấp cứu cho đường tĩnh mạch, sau đó cho đường uống. Tổng liều tấn công trong ngày đầu chia làm 3 lần: 1/2 cho ngay lúc nhập viện, 1/4 sau 8 giờ và 1/4 sau 8 giờ nữa. Phải hỏi tiền căn dùng digitalis trước đó.
+ Liều lượng: Liều tấn công uống:
Sơ sinh non: 0.02 (g/kg/ngày).
Sơ sinh đủ tháng: 0.03 (g/kg/ngày).
> 2 tuổi : 0.03-0.04 (g/kg/ngày).
< 2 tuổi: 0.04 (g/kg/ngày).
Liều tấn công tiêm mạch bằng 75% liều uống.
Liều duy trì bằng 1/4-1/3 liều tấn công.
- Theo dõi:
+ Triệu chứng ngộ độc digitalis
+ Làm tổng kê theo dõi: ÐTÐ, Ion đồ/máu, chức năng thận, tổng phân tích nước tiểu trước điều trị và định kỳ trong thời gian điều trị.
* Dopamin, Dobutamin
- Chỉ định :
+ Suy tim nặng, đe doạ sốc tim.
+ Sốc tim
- Liều lượng :
+ Truyền tĩnh mạch liên tục 5-20 microgram/kg/phút
+ Nên bắt đầu từ liều thấp 2 microgram/kg/phút rồi tăng từ từ cho đến khi đạt hiệu quả mong muốn.
* Dopamin:
+ < 5 microgram/kg/phút gây giãn mạch thận.
+ > 10 microgram/kg/phút gây tăng kháng lực ngoại biên và tăng nhịp tim.
+ Khi huyết áp thấp, nên sử dụng Dopamin trước.
* Giảm hậu gánh: thuốc giãn động mạch.
- Chỉ định :
+ Suy tim nặng không đáp ứng với điều trị cổ điển
+ Dùng sớm trong: hở van ÐMC, thông liên nhất.
- Theo dõi :
+ Mạch, huyết áp
+ CTM (giảm bạch cầu), chức năng thận, kali máu, tổng phân tích nước tiểu
* Ức chế men chuyển
- Captopril uống 0,5-3 (g/kg/ngày), chia 2-3 lần.
* Ức chế alpha
- Prazosin uống 5 microgram/kg tăng dần 25-150 microgram/kg/ngày chia làm 4 lần
* Thuốc tác dụng trực tiếp lên thành mạch
- Hydralazin: khi cấp cứu. Liều 0.5-8 microgram/kg/phút truyền tĩnh mạch chậm
- Nitroprussid: 0,5 microgram/kg tiêm tĩnh mạch