PDA

View Full Version : Tất cả các huyện của THANH HÓA


anny_cuong_depzai
11-01-2008, 10:13 PM
1 HUYỆN TĨNH GIA



Giới thiệu chung


Diện tích tự nhiên: 450 km2 - Dân số: 220.000 người - Tốc độ tăng trưởng kinh tế: 11%/năm (năm 2002). Ðịa hình bán sơn địa, bao gồm những hang động hoang sơ, vùng đồng bằng và đất bãi ven biển, đường bờ biển dài với những dải cát mịn, cùng quần thể các hòn đảo nhỏ, 3 cửa lạch, 2 cảng biển lớn đã tạo cho Tĩnh Gia tiềm năng và lợi thế "đặc biệt". Những tiềm năng và lợi thế đó cùng với những thành tựu đạt được trong thời kỳ đổi mới đang và sẽ là điểm tựa để Tĩnh Gia vươn mạnh, khẳng định vị thế của mình trong thế kỷ XXI.

Tĩnh Gia là huyện cực nam của tỉnh Thanh Hoá, phía nam giáp tỉnh Nghệ An, phía đông giáp biển, phía bắc giáp huyện Quảng Xương, phía tây giáp huyện Nông Cống và huyện Như Thanh. Vừa có biển, vừa có núi rừng cùng nhiều danh thắng, huyện Tĩnh Gia có nhiều lợi thế phát triển kinh tế tương đối toàn diện, đặc biệt là phát triển du lịch, công nghiệp và thuỷ, hải sản.
Phát huy những tiềm năng sẵn có
Với tiềm năng biển, đất rừng, trong những năm qua, kinh tế huyện Tĩnh Gia đã có bước phát triển vượt bậc với tốc độ tăng trưởng GDP cao (11% trong năm 2002) và tương đối toàn diện. Có được thành công ấy là do huyện Tĩnh Gia đã thực hiện thành công chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và nuôi trồng thuỷ sản. Theo đó, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, tỷ trọng nông - lâm - ngư nghiệp giảm từ 53,75% trước đây xuống còn 41,5% (năm 2002), tỷ trọng công nghiệp - xây dựng tăng từ 18,6% lên 24,5% (năm 2002).
Sản xuất nông nghiệp có bước phát triển khá. Các loại cây lương thực và công nghiệp tăng nhanh cả về diện tích lẫn năng suất. Trong đó, năng suất lúa năm 2002 đạt 40,5 tạ/ha. Ðặc biệt, diện tích cây lạc - cây chủ lực trong sản xuất hàng hoá xuất khẩu - tăng rất nhanh do toàn huyện tập trung thực hiện chiến lược mở rộng diện tích lạc thu, thu đông bằng phương pháp phủ nylon. Nhờ đó, diện tích cây lạc năm 2002 đạt 5.219 ha, tăng 71% so với năm 2000; năng suất bình quân năm 2000 đạt 21,3 tạ/ha, tăng 63% so với năng suất bình quân 3 năm (1997 - 1999).
Chăn nuôi cũng phát triển mạnh nhờ triển khai chương trình sind hoá đàn bò, đưa giống lợn nạc ngoại vào chăn nuôi. Hiện nay, tổng số đàn trâu, bò của toàn huyện là 34.000 con, đàn lợn 85.000 con. Năm 2003, thực hiện chương trình phát triển 300 lợn nái ngoại và đưa giống bò sữa vào chăn nuôi, giá trị sản xuất ngành chăn nuôi huyện Tĩnh Gia ngày càng cao hơn.
Bờ biển dài 42 km với 3 cửa lạch và hệ thống sông ngòi khá dày đặc, bãi triều rộng lớn đã tạo nên thế mạnh để Tĩnh Gia phát triển thuỷ, hải sản. Do vậy, trong những năm gần đầy, kinh tế biển có chuyển biến rõ rệt và thu được kết quả quan trọng cả trong khai thác, nuôi trồng, chế biến và dịch vụ hậu cần nghề biển. Phương tiện khai thác phát triển theo hướng nâng cao công suất tàu thuyền để khai thác cả vùng lộng, vùng trung và vùng khơi xa. Hiện nay, toàn huyện có 270 tàu thuyền công suất 45CV trở lên, tăng hơn 100 chiếc so với năm 2001. Nhờ đó, tổng sản lượng khai thác trong năm 2002 đạt 9.500 tấn, tăng 1.000 tấn so với năm 2001.
Nuôi trồng thuỷ sản phát triển mạnh. Hầu hết diện tích các vùng triều, bãi bồi đều được đưa vào nuôi trồng thuỷ sản với tổng diện tích 1.200 ha, trong đó có 800 ha nuôi quảng canh cải tiến và trên 100 ha nuôi công nghiệp. Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản hàng năm ước đạt trên 1.000 tấn. Tốc độ tăng trưởng toàn ngành thuỷ sản tăng 6,85% trong giai đoạn 1996 - 2002, đưa tỷ trọng ngành này tăng mạnh trong tổng cơ cấu kinh tế (từ 12,32% năm 1995 lên 14,33% năm 2001). Ðể đẩy mạnh tốc độ phát triển ngành thuỷ sản, đồng thời khai thác triệt để tiềm năng kinh tế biển, hiện nay, huyện đã bắt đầu đưa vùng cát ven biển vào khai thác để nuôi tôm công nghiệp trên cát.
Sản xuất tiểu thủ công nghiệp được duy trì, ngành nghề được mở rộng, chất lượng sản phẩm từng bước được nâng lên. Một số ngành nghề có tiềm năng, lợi thế được khuyến khích phát triển, hoạt động có hiệu quả như đóng sửa tàu thuyền sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí dân dụng, đồ mộc, chế biến thuỷ, hải sản. Tổng giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp năm 2002 ước đạt 29,5 tỷ đồng, tăng 3,9 tỷ đồng so với năm 2001. Tỷ trọng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tăng từ 8,17% (năm 1996) lên 24,5% (năm 2002). Trong những năm tới, mức tăng trưởng và tỷ trọng ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp sẽ còn cao hơn khi Khu công nghiệp - đô thị mới Nghi Sơn đi vào hoạt động và các Nhà máy xi măng Nghi Sơn, Liên hiệp Nhà máy lọc hoá dầu Nghi Sơn và nhiều nhà máy chế biến nông hải sản khác sẽ được xây dựng.
Dịch vụ - thương mại có bước chuyển biến mạnh mẽ. Hoạt động thương mại - dịch vụ phát triển tương đối đa dạng ở tất cả các thành phần kinh tế và trên khắp các vùng, miền trong huyện, đáp ứng tốt hơn nhu cầu sản xuất và đời sống nhân dân. Hệ thống chợ cũng góp một phần không nhỏ trong sự tăng trưởng ngành thương mại - dịch vụ, trong đó có những chợ nổi tiếng như: chợ Chào, chợ Kho, chợ Chìa, chợ Còng, chợ Du Xuyên,...
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường. Hệ thống giao thông được chú trọng phát triển. Một số các trục giao thông liên xã được nâng cấp, cứng hoá. Hệ thống thuỷ lợi Yên Mỹ, bao gồm đập chính, kênh chính được nâng cấp, kiên cố hoá. Hầu hết các hồ đập nhỏ được nâng cấp đảm bảo 75% diện tích canh tác chủ động nước tưới. Hệ thống điện lưới được xây dựng đến 34/34 xã, thị trấn với 93,6% số hộ được dùng điện. Hệ thống bưu chính - viễn thông phát triển nhanh, đã có 24/34 xã có trung tâm bưu điện - văn hoá xã, tỷ lệ sử dụng điện thoại đạt 2,2 máy/100 dân.
Cơ sở vật chất của các ngành y tế, giáo dục, văn hoá, truyền thanh - truyền hình được tăng cường đáng kể. 100% số trạm xá được mái bằng hoá, ngói hoá, trung tâm y tế huyện được đầu tư nâng cấp và xây dựng mới với tổng kinh phí hàng chục tỷ đồng.
Văn hoá - xã hội thu được nhiều kết quả đáng mừng
Hoà nhịp cùng với sự đi lên của các ngành kinh tế, văn hoá - xã hội huyện Tĩnh Gia cũng đạt được những kết quả đáng mừng. Ðời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, diện mạo nông thôn ngày càng khởi sắc. Theo đó, Tĩnh Gia luôn chú trọng kết hợp vốn đầu tư của Nhà nước với công tác xã hội hoá để đảm bảo cho sự phát triển của ngành giáo dục - đào tạo, văn hoá, y tế, thể dục thể thao, chăm sóc và bảo vệ bà mẹ trẻ em.
Ðến nay, đài truyền thanh, truyền hình được lắp đặt hệ thống thu phát với công suất lớn, đồng thời phát triển thêm 1 số trạm thu phát lại ở những địa phương vùng sâu vùng xa. Ðề án phát triển mạng lưới truyền thanh cơ sở đang được tích cực triển khai, phấn đấu đến cuối năm 2003, 15 xã xây dựng được trạm truyền thanh. Với Tĩnh Gia, đạt được kết quả này là sự nỗ lực rất lớn của nhân dân địa phương và có sự quan tâm đặc biệt của các bộ, ngành Trung ương, Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hoá và các tổ chức quốc tế.
Hệ thống giáo dục - đào tạo tương đối hoàn chỉnh từ bậc mầm non đến bậc trung học phổ thông với các loại hình công lập và bán công. Toàn huyện hiện có 3 trường phổ thông trung học, 1 trường trung học bán công, một trung tâm giáo dục thường xuyên và dạy nghề có đủ khả năng thu hút trên 70% số học sinh tốt nghiệp phổ thông cơ sở. Hệ thống các trường học được tầng hoá và ngói hoá với tốc độ nhanh. Trong hai năm 2001 - 2002, toàn huyện đã xây mới 27 trường cao tầng ở 25 xã, thị trấn. Quy mô các cấp học, ngành học ổn định, chất lượng giáo dục toàn diện từng bước được nâng lên. Tỷ lệ học sinh lên lớp và tốt nghiệp các cấp học đạt 96%/năm trở lên. Tỷ lệ học sinh đỗ đại học, cao đẳng và trung cấp đạt 21 - 25%/năm. Huyện đã hoàn thành sớm công tác phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và đang phấn đấu hoàn thành phổ cập trung học cơ sở.
Mạng lưới y tế được củng cố và tăng cường về cơ sở vật chất, đội ngũ thầy thuốc từ cấp huyện đến cơ sở. Các xã, thị trấn đều có y, bác sỹ, qua đó đã triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân (1.000 dân có một bác sĩ).
Bên cạnh đó, Tĩnh Gia cũng chú trọng đẩy mạnh công tác xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm cho người lao động, quan tâm đến vùng xa và những vùng còn nhiều khó khăn. Thực hiện tốt phong trào đền ơn đáp nghĩa, chăm lo các đối tượng chính sách, các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng (toàn huyện có 99 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng), người có công với cách mạng. Cuộc vận động xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa đã thu được gần 1 tỷ đồng. Toàn huyện xây dựng được 120 nhà tình nghĩa, tặng 2.500 sổ tiết kiệm cho các gia đình chính sách; giải quyết việc làm cho 2.500 - 3.000 lao động; hạ tỷ lệ hộ đói nghèo xuống còn 14% (theo chuẩn mới), giảm hơn 10% so năm 2000. Do làm tốt chính sách lao động, thương binh, xã hội, huyện Tĩnh Gia đã được Ðảng, Nhà nước tặng một Huân chương Lao động hạng Nhất, 2 Huân chương Lao động hạng Hai, 1 Huân chương Lao động hạng Ba. Không những thế, huyện Tĩnh Gia còn được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang (năm 1976), 12 xã được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang, 6 người được phong tặng anh hùng lực lượng vũ trang; ngoài ra còn một số đơn vị khác như: Trạm biên phòng Nghi Sơn, Dân quân Thanh Thuỷ, Bộ đội Ðảo Mê cũng được tặng thưởng danh hiệu cao quý đó.
Ðịnh hướng phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010
Những kết quả đạt được trên các mặt kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh những năm qua là kết quả của quá trình nỗ lực phấn đấu không ngừng của Ðảng bộ, chính quyền và nhân dân trong huyện, đã và đang tạo ra thế và lực mới để Tĩnh Gia tiếp tục phát triển, đi lên. Tuy nhiên kết quả đó chỉ là những thành công bước đầu, chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của huyện. Ðể phát triển nhanh và bền vững, Ðảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Tĩnh Gia đã xác định: Phát huy tiềm năng, thế mạnh, động viên tối đa các nguồn lực xã hội, phấn đấu tăng trưởng kinh tế cao và bền vững; tập trung đầu tư phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế mũi nhọn, có lợi thế so sánh; giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc, ngăn chặn và đẩy lùi các tệ nạn xã hội; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; đảm bảo ổn định chính trị; tăng cường công tác quốc phòng an ninh - trật tự an toàn xã hội.
Ðể đạt được những chỉ tiêu đã đề ra, huyện Tĩnh Gia đã đề ra giải pháp, trong đó tập trung chủ yếu vào những giải pháp chính như:
1) Tiếp tục thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm khai thác tốt tiềm năng, lợi thế đảm bảo sự phát triển nhanh, toàn diện và bền vững.
2) Chú trọng đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế.
3) Chăm lo phát triển và nâng cao chất lượng các lĩnh vực văn hoá - xã hội, vì mục tiêu con người và phát triển nguồn lực.
4) Kiện toàn, củng cố, nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý nhà nước của các cấp chính quyền.
5) Tiếp tục thực hiện phương châm: phát triển toàn diện, tập trung vào những khâu đột phá; khơi dậy và phát huy nội lực bằng sự đoàn kết nhất trí cao, sự đồng thuận trong xã hội vì sự nghiệp phát triển của huyện.
Trên nền tảng của những thành quả đã đạt được trong những năm vừa qua, cùng với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hoá, những nỗ lực của huyện sẽ là nguồn động lực thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, kinh tế du lịch, khai thác - nuôi trồng và chế biến thuỷ sản, nâng cao dân trí phát triển nguồn nhân lực ngang tầm với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ mới. Vì đây là những lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế, vừa đáp ứng các nhu cầu phát triển trước mắt của Khu công nghiệp Nghi Sơn, vừa là tiền đề thúc đẩy kinh tế huyện phát triển nhanh, mạnh và bền vững trong những năm tới.
Chính phủ đã phê duyệt định hướng quy hoạch Khu công nghiệp Nam Thanh - Bắc Nghệ (Quyết định số 847/TTg ngày 10-10-1997) với quy mô 1.400 ha trên địa bàn huyện Tĩnh Gia. Ðồng thời, Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hoá cũng xác định Tĩnh Gia là một trong bốn vùng động lực lớn của tỉnh.
Tiếp đó, Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành Quyết định số 604/QÐ-TTg về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể xây dựng đô thị mới Nghi Sơn đến năm 2020. Khu đô thị này có vị trí đặc biệt quan trọng, tác động sâu sắc đến sự phát triển kinh tế của huyện Tĩnh Gia, cũng như của tỉnh Thanh Hoá như: sự ra đời của Nhà máy xi măng Nghi Sơn, cảng cá Ðảo Mê - Lạch Bạng, cảng Thương mại Nghi Sơn, dự án Liên hiệp Nhà máy lọc hoá dầu Nghi Sơn,...
Tĩnh Gia qua các thời lịch sử
Huyện Tĩnh Gia có lịch sử lâu đời, thời thuộc Hán là phần đất phía đông nam huyện Cư Phong. Thời Tam Quốc là miền đất tương đương huyện Thường Lạc. Thời Tuỳ - Ðường là miền đất tương đương với huyện An Thuận. Thời Ðinh, Lê, Lý, giữ nguyên như thời Tuỳ - Ðường. Thời Trần - Hồ, huyện Tĩnh Gia bao gồm huyện Cổ Chiến và phía bắc huyện Tĩnh Gia ngày nay, sau đó thuộc huyện Kết Duyệt (hay Kết Thuế - gộp với Quảng Xương ngày nay). Thời thuộc Minh đổi tên thành huyện Cổ Bình. Thời Lê Quang Thuận đổi tên là huyện Ngọc Sơn thuộc phủ Tĩnh Gia (còn gọi là phủ Tĩnh Ninh). Phủ Tĩnh Gia, gồm cả Ngọc Sơn, Nông Cống và Quảng Xương. Thời Nguyễn vẫn giữ nguyên do phủ Tĩnh Gia kiêm lý.
Ðến đầu thế kỷ XX, các huyện Nông Cống và huyện Quảng Xương trực thuộc cấp tỉnh, tên huyện Ngọc Sơn không còn mà gọi là phủ Tĩnh Gia trực thuộc tỉnh Thanh Hoá. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đổi phủ thành huyện Tĩnh Gia với 34 xã và 1 thị trấn.
Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu đến năm 2010
(Chưa tính Khu công nghiệp - đô thị mới Nghi Sơn)
- GDP (giá cố định 1994): 609,7 - 800 tỷ đồng.
- Cơ cấu kinh tế: nông - lâm - ngư nghiệp: 46,32 - 33,75%; công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp: 18,53 - 28,75%; dịch vụ: 32,31 - 37,5%.
- Thu nhập bình quân đầu người: 2.675 - 3.150 nghìn đồng/năm (theo giá cố định năm 1994).
- Lương thực bình quân đầu người: 255 - 277 kg/năm.
- Số lao động có việc làm: 108.662 - 122.500 người.
- Số lao động được đào tạo: 18.926 - 21.700 người.
Tĩnh Gia - điểm đến mới của du khách
Sự kết hợp hài hòa giữa các cảnh quan biển, đảo, đồng bằng, trung du và miền núi đã tạo cho Tĩnh Gia thế mạnh phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là du lịch. Vì vậy, trong những năm qua, Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hoá chủ trương đưa Tĩnh Gia trở thành điểm du lịch mới của Việt Nam nói chung, Thanh Hoá nói riêng.
Ðến với Tĩnh Gia, du khách không thể không ghé thăm những địa danh nổi tiếng như: Hòn Bảng, Hòn Biện Sơn, Hòn Mê, núi Ngọc Sơn, núi Am, núi Thề Nguyền, hồ Yên Mỹ, động Trúc Lâm, nhà thờ Bùi Thị Xuân, di tích kiến trúc núi đá nghệ thuật thờ Quận công Lê Ðình Châu, nhà thờ xứ Ba Làng xây dựng năm 1893, đền thờ Lương Chí thờ Ðào Duy Từ,... Tất cả tạo thành quần thể du lịch vô cùng độc đáo, là sự tổng hoà giữa những cảnh đẹp do thiên nhiên ban tặng cùng các truyền thuyết, dấu tích lịch sử.
Bên cạnh đó, Tính Gia còn có hệ thống giao thông thuận lợi với 40 km đường quốc lộ 1A chạy qua huyện theo chiều dài Bắc - Nam; tuyến đường sắt Bắc - Nam và hệ thống tỉnh lộ nối liền với các huyện và tỉnh bạn; đặc biệt, 3 cửa Lạch với cảng Nghi Sơn, tuyến đường nối cảng Nghi Sơn với đường Hồ Chí Minh cùng hệ thống sông cũng là một thế mạnh để Tĩnh Gia phát triển du lịch.
Ðịa chỉ liên hệ:
Uỷ ban nhân dân huyện Tĩnh Gia
Chủ tịch: Lê Minh Thông
Ðiện thoại: 037. 861175 - 0913.293749

phó thường dân anny_cuong 0984641668

dangtruong
11-01-2008, 10:15 PM
thì ông Tĩnh Gia có thằng Nghi Sơn ngon quá còn gì

anny_cuong_depzai
11-01-2008, 10:16 PM
Giới thiệu chung


Diện tích tự nhiên: 303,22 km2 - Dân số: 233.255 người - Ðơn vị hành chính: 38 xã và 3 thị trấn - Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân: 11,1%/năm - Thu nhập bình quân đầu người: 371,5 USD/năm - Bình quân lương thực: 495 kg/người/năm. Thực hiện công cuộc đổi mới do Ðảng khởi xướng và lãnh đạo, Ðảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Thọ Xuân đã đạt nhiều thành tựu quan trọng và tương đối toàn diện từ kinh tế - xã hội đến quốc phòng - an ninh. Thành tựu đó được thể hiện rõ nét ở mức tăng trưởng kinh tế hàng năm gắn với kết quả giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc. Những tiến bộ về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn; những công trình kiến trúc hạ tầng cơ sở được xây dựng mới và nâng cấp; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao. Những thành quả đó đã tạo tiền đề để Thọ Xuân vững tiến vào tương lai.

Nằm ở phía tây tỉnh Thanh Hoá, Thọ Xuân là vùng đất "địa linh nhân kiệt" có vị thế chiến lược trọng yếu trong sự nghiệp đấu tranh dựng nước và giữ nước. Huyện lỵ Thọ Xuân - trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá - cách thành phố Thanh Hoá (đi theo quốc lộ 47) 36km về phía tây và nằm ngay bên hữu ngạn sông Chu - con sông lớn thứ hai của Thanh Hoá, hàm chứa nhiều huyền thoại đẹp về lịch sử, văn hoá... Ðặc biệt, khu đô thị công nghiệp Lam Sơn - Sao Vàng, một trong bốn khu kinh tế động lực của tỉnh Thanh Hoá và khu di tích lịch sử Lam Kinh đang trở thành vùng đất đầy tiềm năng, mở ra triển vọng lớn cho sự phát triển của ngành công nghiệp và du lịch. Không chỉ vậy, huyện còn được cấu tạo bởi hai dạng địa hình: bán sơn địa (trung du) rất thích hợp với trồng cây công nghiệp và đồng bằng châu thổ phì nhiêu, cùng với hệ thống sông Chu, sông Cầu Chày, sông Nhà Lê, hệ thống nông giang, Ðập Bái Thượng đã khẳng định thế mạnh của Thọ Xuân trong phát triển nền nông nghiệp toàn diện.
Hiệu quả từ chiến lược phát triển đúng hướng
Phát huy truyền thống lịch sử vẻ vang, trong thời kỳ đổi mới, Ðảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Thọ Xuân đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực với mức tăng trưởng cao. Trong đó, năm 2002 mức tăng trưởng GDP của huyện đạt 11,7%, GDP bình quân đầu người đạt 371,5 USD/năm, tăng 41,6% so với năm 1997. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thương mại - dịch vụ và giảm tỷ trọng ngành nông - lâm nghiệp.
Có được thành tựu đó là do Huyện uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân huyện Thọ Xuân đã vạch ra chiến lược phát triển đúng đắn, hợp lý, khai thác hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của huyện. Ðiều đó được minh chứng bằng tốc độ tăng trưởng cao của các ngành kinh tế:
Sản xuất nông nghiệp, với quỹ đất 15.347 ha, trong những năm qua, huyện đã hình thành các vùng chuyên canh, thâm canh theo hướng sản xuất hàng hoá, tạo khả năng khai thác hiệu quả tiềm năng kinh tế vùng, thúc đẩy tốc độ tăng trưởng, nâng cao hiệu quả sản xuất trên đơn vị diện tích canh tác. Theo đó, Thọ Xuân đã thành lập nhanh các hợp tác xã nông nghiệp và phi nông nghiệp, hoàn thành công tác dồn điền, đổi thửa để tích tụ đất. Sau 3 năm thực hiện, Thọ Xuân đã có 61 hợp tác xã được thành lập. Bên cạnh đó, các tiến bộ khoa học kỹ thuật đã được ứng dụng rộng rãi hơn, các giống mới có năng suất và chất lượng cao đã được đưa vào sản xuất, tạo ra khả năng chuyển dịch cơ cấu mùa vụ. Nhờ đó, năng suất và sản lượng lương thực tăng nhanh (gần 5.000 tấn/năm). Cụ thể, nếu năm 1997, tổng sản lượng lương thực đạt 92.220 tấn thì đến năm 2002 đạt 115.888 tấn (tăng 20,4%).
Với mục tiêu tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Thọ Xuân đã tập trung khai thác và phát triển vùng kinh tế động lực Lam Sơn, hình thành vùng chuyên canh, thâm canh cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao. Ðặc biệt là cây mía, Thọ Xuân đã hình thành vùng nguyên liệu mía gần 4.000 ha, trong đó đưa diện tích mía công nghệ cao cho năng suất cao (140 - 150 tấn/ha) vào sản xuất năm 2002. Quy hoạch vùng nguyên liệu mía đã trở thành thế mạnh của kinh tế vườn đồi, mang lại nguồn thu nhập cao và ổn định cho nhân dân, cung cấp nguyên liệu hàng hoá, tạo điều kiện cho khu công nghiệp mía đường Lam Sơn phát triển vững chắc.
Cùng với quy hoạch vùng cây công nghiệp, Thọ Xuân cũng quy hoạch lại diện tích đất rừng hiện có. Tính đến nay, hơn 1.000 ha đồi rừng đã được giao cho kinh tế hộ quản lý và chuyển từ khai thác là chủ yếu, sang khoanh nuôi chăm sóc bảo vệ. Ðồng thời, việc trồng mới 200 ha rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, không những tạo ra khả năng khai thác có hiệu quả các tiềm năng đất đai, lao động, cải tạo môi trường sinh thái trên địa bàn, mà còn tạo vùng cung cấp nguyên liệu cho Công ty Giấy Mục Sơn. Kết quả này cho thấy sự kết hợp giữa lâm nghiệp với vùng nguyên liệu đã tạo nên sự gắn bó nông - lâm nghiệp với công nghiệp, công nhân với nông dân, làm thay đổi căn bản đời sống kinh tế - xã hội các xã trung du, miền núi trong những năm gần đây.
Bên cạnh đó, Thọ Xuân còn chú trọng đẩy mạnh phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp, nâng cao chất lượng, tận dụng tốt lợi thế của từng vùng, từng địa phương, từng mùa vụ để phát triển vật nuôi thích hợp, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Mô hình chăn nuôi trong các hộ gia đình, trang trại đã và đang phát triển tốt. Giá trị thu nhập từ chăn nuôi tăng cao, nếu năm 1997 đạt 69,8 tỷ đồng thì đến năm 2002 đã tăng lên 86,4 tỷ đồng, chiếm 29,3% GDP nông - lâm nghiệp. Hiện nay, ngành chăn nuôi Thọ Xuân đang tập trung vào các vật nuôi có giá trị kinh tế cao như: lợn hướng nạc, bò lai sind, bò sữa, đưa Thọ Xuân trở thành huyện có sản lượng thịt bò, thịt lợn cao nhất tỉnh. Ðặc biệt, trong vài năm gần đây, Thọ Xuân đã kết hợp chặt chẽ với Công ty cổ phần Mía đường Lam Sơn thực hiện chương trình phát triển chăn nuôi bò sữa, bước đầu đã du nhập và lai tạo, cung cấp 1.500 bò sữa giống cho các hộ nuôi ở các xã Quảng Phú, Xuân Thiên, Thọ Xương (trong đó có 1.000 con bò sữa nhập từ Niu Dilân). Sản lượng sữa nuôi thực nghiệm đạt khá, tạo hướng phát triển mạnh trong các năm tới. Ngoài ra, chăn nuôi lợn, gia cầm, thuỷ sản, ong... cũng được đẩy mạnh, đã góp phần tận dụng tốt lợi thế của từng địa phương, mang lại hiệu quả kinh tế cao trong từng hộ sản xuất.
Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp phát triển khá nhanh với tốc độ tăng trưởng 16 - 18%/năm. Bên cạnh những ngành nghề truyền thống như: sản xuất cót ép, rèn, kim hoàn... đã xuất hiện một số nghề mới như trồng dâu nuôi tằm, thêu ren xuất khẩu, sản xuất bột giấy thô nguyên liệu, chế tác đồ mộc cao cấp,... Nhưng so với sự phát triển của nông - lâm nghiệp, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Thọ Xuân phát triển chưa xứng với tiềm năng và lợi thế vốn có. Tuy nhiên, việc quy hoạch các cụm làng nghề, một loạt các nhà máy chế biến nông - lâm sản như: nhà máy chế biến sữa, nhà máy chế biến cồn và khu đô thị công nghiệp Lam Sơn được hình thành, trong những năm kế tiếp, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp sẽ phát triển mạnh mẽ hơn.
Thương mại - dịch vụ đang trên đà phát triển mạnh. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 15 - 16%, chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế huyện. Các loại hình dịch vụ công cộng, dịch vụ tập thể, dịch vụ tư nhân ngày càng đa dạng, góp phần nâng cao chất lượng phục vụ. Ðặc biệt, trong dịch vụ nông nghiệp, sản xuất - kinh doanh của các loại hình hợp tác xã đang từng bước khẳng định vai trò, vị trí trong kinh tế nông thôn. Các trung tâm thương mại, thị tứ được hình thành và nhanh chóng đi vào kinh doanh sầm uất đã đáp ứng yêu cầu giao lưu hàng hoá của người dân trong huyện. Bên cạnh đó, với 15 km đường Hồ Chí Minh chạy qua khu kinh tế động lực Lam Sơn và sát với khu di tích lịch sử Lam Kinh đang trong quá trình tôn tạo sẽ mở ra triển vọng to lớn, điều kiện hết sức thuận lợi để Thọ Xuân phát triển du lịch, góp phần đưa ngành thương mại - dịch vụ trở thành một ngành trọng tâm trong phát triển kinh tế của huyện.
Kết cấu hạ tầng đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận
Kinh tế phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được ổn định khiến diện mạo huyện Thọ Xuân có biến chuyển lớn. Kết cấu hạ tầng được chú trọng đầu tư xây dựng, hàng loạt công trình mới đã hoàn thành và đưa vào sử dụng. Có được đổi thay như vậy là nhờ sự quan tâm, trợ giúp vốn của Nhà nước, cùng cố gắng, nỗ lực của nhân dân nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp trong phát triển kinh tế - xã hội.
Nhận thức được ý nghĩa của việc phát triển nguồn nhân lực, Huyện uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân huyện đã chỉ đạo phát triển công tác giáo dục, đẩy nhanh cả về quy mô và chất lượng. Ðội ngũ giáo viên được nâng cao về trình độ và chuẩn hoá theo các cấp học. Số học sinh giỏi tăng đều qua các năm. Ðến nay, huyện đã hoàn thành phổ cập tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập trung học cơ sở đạt trên 95% số xã, 16/41 trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia. Ðặc biệt, trường phổ thông cơ sở Sao Vàng là trường chuẩn quốc gia đầu tiên của tỉnh.
Cơ sở phát thanh, phát lại truyền hình và hệ thống truyền thanh cơ sở được đầu tư nâng cấp đảm bảo chất lượng, phát huy được hiệu quả tuyên truyền. Phong trào xây dựng đời sống văn hoá theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) đã và đang được cấp uỷ, chính quyền và nhân dân hưởng ứng tích cực. Ðến cuối năm 2002, huyện có 130 làng văn hoá, 2 cơ quan văn hoá, 11/38 xã đã hoàn chỉnh khai trương 100% làng văn hoá.
Công tác chăm sóc sức khoẻ cộng đồng được cấp uỷ Ðảng và chính quyền huyện quan tâm. Vì vậy, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cũng như đội ngũ cán bộ y tế luôn đảm bảo hoàn thành tốt công tác khám, chữa bệnh theo tuyến, theo khu vực. Ðối với y tế dự phòng, với quan điểm phòng bệnh hơn chữa bệnh, công tác vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, vệ sinh nước sạch luôn được tuyên truyền và kiểm tra, không để xảy ra dịch bệnh lớn.
Quốc phòng- an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tiếp tục được giữ vững và ổn định. Các nhiệm vụ quốc phòng, nhiệm vụ kế hoạch quân sự địa phương được hoàn thành tốt, đảm bảo chất lượng tuyển quân, giao quân.
Ðịnh hướng phát triển đến năm 2005
Phát huy những thành quả đạt được, trong những năm tới, Thọ Xuân tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, nêu cao ý thức tự lực tự cường, phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực, khai thác có hiệu quả các tiềm năng lợi thế, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Tập trung phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, gắn với phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ - thương mại và những ngành nghề có tiềm năng theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Ða dạng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh, mở rộng thị trường, hình thành sự liên kết kinh tế nông - công nghiệp - dịch vụ. Gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết tốt các vấn đề xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội. Phát triển kinh tế - xã hội gắn liền với củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh.
Ðể đạt được mục tiêu trên Thọ Xuân tiếp tục đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện, tập trung mọi nguồn lực để tạo bước đột phát trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế - đây là nhiệm vụ then chốt trong giai đoạn tới. Trong đó, tập trung mọi nguồn lực cho một số ngành có khả năng tăng tỷ trọng trong GDP như công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và thương mại - dịch vụ.
1) Tăng diện tích mía hiện có lên mức 4.500 ha, phát triển vùng nguyên liệu mía thâm canh theo hướng công nghệ cao, phát triển nghề nuôi bò thịt, bò sữa và chế biến thức ăn gia súc. Vùng trọng điểm lúa sẽ tập trung đầu tư theo hướng sản xuất hàng hoá, nâng cao năng suất, chất lượng. Ðẩy nhanh việc thành lập hợp tác xã, trang trại trong trồng trọt, chăn nuôi và lâm nghiệp để tích tụ đất, từ đó tăng hiệu quả sử dụng quỹ đất lên mức bình quân 45 - 50 triệu đồng/ha/năm.
2) Ðẩy nhanh công tác tôn tạo các di tích lịch sử để đưa vào khai thác du lịch, từ đó tăng nhanh tỷ trọng ngành thương mại - dịch vụ.
3) Cần nhanh chóng triển khai thực hiện các dự án "dâu - tằm - tơ" tại vùng bãi bồi sông Chu; khôi phục các làng nghề truyền thống, đưa thêm ngành nghề mới, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Chủ động tìm nguồn vốn đầu tư, thành lập các nhà máy chế biến nông - lâm sản, tìm đầu ra cho sản phẩm nông - lâm sản.
Tranh thủ các nguồn vốn đầu tư, huy động nguồn lực trong dân để phát triển nhanh mạng lưới giao thông trên địa bàn huyện, nhất là hệ thống giao thông nông thôn, tạo thuận lợi cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội.
Những thành tựu to lớn mà Ðảng bộ, chính quyền và nhân dân Thọ Xuân đạt được trong những năm qua là thành quả tất yếu từ sự quan tâm đầu tư có hiệu quả của Nhà nước, sự giúp đỡ của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh, cùng sự chỉ đạo, lãnh đạo sát sao của Huyện uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân huyện. Ðồng thời, đây cũng chính là động lực, tạo bước phát triển nhanh, mạnh và vững chắc trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá của huyện Thọ Xuân.
Lịch sử hình thành và tên gọi của huyện Thọ Xuân
1. Tên gọi và địa giới hành chính:
Thời thuộc Hán (năm 111 trước công nguyên đến năm 210 sau công nguyên), vùng đất Thọ Xuân thuộc huyện Tư Phố; từ năm 581 đến năm 905 thuộc huyện Di Phong, và sau đó là huyện Trường Lâm.
Thời Trần, Thọ Xuân thuộc huyện Cổ Lôi. Từ năm 1466, Thọ Xuân có tên là Lôi Dương. Thời Nguyễn (năm 1826), huyện Lôi Dương hợp với huyện Thụy Nguyên thành phủ Thọ Xuân. Lỵ sở phủ Thọ Xuân trước năm 1895 đóng ở Thịnh Mỹ (nay thuộc xã Thọ Diên) sau dời về Xuân Phố (Xuân Trường ngày nay). Sau Cách mạng Tháng Tám (năm 1945), phủ Thọ Xuân đổi thành huyện Thọ Xuân.
2. Lịch sử hình thành
Ngay từ thời tiền sử, vùng đất Thọ Xuân ngày nay đã có người cư trú. Dấu ấn về thời kỳ dựng nước còn lại khá đậm nét. ở vùng tả ngạn sông Chu, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy nhiều trống đồng, thạp đồng và công cụ sản xuất.
Từ thế kỷ thứ X, Thọ Xuân đã là vùng đất phát triển. Ðến thế kỷ XV, Thọ Xuân là căn cứ của nghĩa quân Lam Sơn. Là huyện có truyền thống yêu nước, cách mạng, Thọ Xuân là nơi sinh dưỡng nhiều vị vua sáng, tôi hiền như: Lê Ðại Hành, Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông; Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Lê Văn Linh, Trịnh Khắc Phục,... đã làm rạng danh quê hương. Truyền thống ấy đã được hun đúc phong trào Cần Vương (Thọ Xuân là căn cứ chống Pháp). Ði theo tiếng gọi của Ðảng, người dân Thọ Xuân đã đóng góp sức người, sức của cho các cuộc kháng chiến cứu quốc của dân tộc.
Trong thời kỳ đổi mới, với truyền thống hiếu học, thượng võ, cần cù, nhẫn nại, trọng nghĩa khí, đùm bọc san sẻ khi gặp khó khăn, hoạn nạn, người dân Thọ Xuân - lớp cha trước, lớp con sau đã và đang giành được nhiều thắng lợi quan trọng trên các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh.
Di tích lịch sử văn hoá được xếp hạng quốc gia
1) Di tích lịch sử kiến trúc Lê Hoàn tại xã Xuân Lập, gồm: đền thờ, lăng Hoàng Khảo, lăng Quốc Mẫu, lăng bố nuôi Lê Ðột và đền sinh thánh.
2) Khu di tích lịch sử Lam Kinh (xã Xuân Lam và thị trấn Lam Sơn) gồm: đền thờ Lê Thái Tổ, cung điện, lăng bia các vua và hoàng hậu nhà Lê.
3) Ðền thờ và lăng mộ Thứ quốc công Nguyễn Nhữ Lãm (tại xã Thọ Diên và Xuân Lập).
4) Quần thể di tích cách mạng xã Xuân Hoà, Thọ Xuân.
5) Quần thể di tích lịch sử cách mạng xã Xuân Minh huyện Thọ Xuân.
Ngoài ra, Thọ Xuân còn nhiều di tích được xếp hạng cấp tỉnh như: đền thờ khắc Quốc công Lê Văn An (làng Diên Hào - xã Thọ Lâm), đền thờ Quốc Mẫu (làng Thịnh Mỹ - xã Thọ Diên).
Ðịa chỉ liên hệ:
Uỷ ban nhân dân huyện Thọ Xuân
Chủ tịch: Trương Quốc Đĩnh
Ðiện thoại: 037. 833215 - 0913.293718
PHÓ THƯỜNG DÂN CẬP NHẬT SAU

anny_cuong_depzai
11-01-2008, 10:17 PM
Giới thiệu chung


Hoằng Hoá hiện được đánh giá là một trong những huyện đi đầu của Thanh Hoá về phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện dại hóa nông nghiệp, nông thôn. Trong giai đoạn 1991 - 2002, cơ cấu kinh tế của huyện đã chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng của nhóm hàng nông - lâm - ngư nghiệp trong GDP của huyện đã giảm từ 70,3% xuống 51%; nhóm ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng tăng từ 13,7% lên 29,7%; thương mại - dịch vụ từ 16% tăng lên 19,3%... Trên cơ sở phát huy những thành tựu đã đạt được, trong những năm tiếp theo, Hoằng Hoá tập trung phát triển nuôi trồng thuỷ sản, chăn nuôi gia cầm theo phương pháp công nghiệp, khuyến khích các nhà đầu tư xây dựng cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, tạo bước đột phá trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Hoằng Hóa là một huyện đồng bằng ven biển, phía Ðông giáp biển, phía Bắc giáp huyện Hậu Lộc, phía Tây giáp huyện Thiệu Hóa, Yên Ðịnh và Vĩnh Lộc, phía Nam giáp huyện Quảng Xương, thành phố Thanh Hóa và một phần huyện Ðông Sơn. Với ưu thế về vị trí địa lý cùng tiềm năng về đất đai, tài nguyên và con người, trong những năm đổi mới, Ðảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Hoằng Hoá đã phát huy truyền thống anh hùng cách mạng, nỗ lực phấn đấu vươn lên, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, phát triển công nghiệp, ngành nghề. Tạo bước đột phá mới trong phát triển kinh tế
Với số dân 249.594 người sinh sống trên diện tích 224.580 ha, huyện Hoằng Hoá được coi là một huyện đất rộng người đông, giàu tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội. Chính vì vậy, trong những năm qua, cùng với sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ (tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm là 9,8%), cơ cấu kinh tế huyện Hoằng Hoá nói chung, cơ cấu nông nghiệp nói riêng đã có những chuyển biến tích cực. Sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng toàn diện, đa dạng hoá sản phẩm và từng bước gắn với nhu cầu của thị trường. Trong trồng trọt, cơ cấu giống cây trồng được chuyển đổi mạnh mẽ. Các giống lúa cũ, thoái hoá, cho năng suất thấp được thay thế bằng các giống lúa mới cho chất lượng cao như: F1, F2, Bắc Ưu 903... Cơ cấu trà vụ cũng được bố trí hợp lý, việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh được chú trọng. Do vậy, kết thúc niên vụ 2002, tổng sản lượng lương thực đạt 110.000 tấn vượt mức chỉ tiêu kế hoạch đề ra và đạt cao nhất từ trước tới nay. Các loại cây màu khác như: ngô lai, lạc giống mới, vừng, đậu tương... cũng tăng cả về diện tích, năng suất và sản lượng. Nhiều địa phương đã hình thành vùng sản xuất lúa giống và lúa hàng hoá như Hoằng Ðồng, Hoằng Minh, Hoằng Quỳ... Ngoài cây lúa, ở nhiều vùng đã đưa những cây có giá trị kinh tế cao vào sản xuất như: trồng dưa chuột xuất khẩu ở Hoằng Xuân, trồng lạc ở Hoằng Ðông, Hoằng Ðạo, trồng vừng ở Hoằng Kim, Hoằng Quỳ...
Cùng với sự lớn mạnh của ngành trồng trọt, một hướng đi mới đang mở ra cơ hội làm giàu cho nhiều địa phương và các hộ gia đình, đó là phát triển chăn nuôi theo hướng trang trại kết hợp với kinh tế vườn đồi, trong đó phát triển nhanh trang trại chăn nuôi bò, lợn hướng nạc và gà. Tập quán chăn nuôi sản xuất nhỏ, coi chăn nuôi là kinh tế phụ trong gia đình nay đã chuyển sang sản xuất hàng hoá, tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng, nâng giá trị thu nhập từ chăn nuôi trong giá trị sản xuất nông nghiệp lên 33%. Theo thống kê của Uỷ ban nhân dân huyện Hoằng Hoá, hiện nay, toàn huyện có 30 trang trại đang được đưa vào chăn nuôi (trong đó có 24 trang trại chăn nuôi gia cầm, 6 trang trại chăn nuôi lợn hướng nạc) và 9 trang trại đang tiếp tục đầu tư xây dựng. Bên cạnh đó, nhiều cơ sở chế biến thức ăn gia súc, chế biến thịt lợn xuất khẩu, sản xuất lợn giống tư nhân được hình thành, cải tạo, nâng cấp và đầu tư đổi mới thiết bị.
Bên cạnh phát triển chăn nuôi, chính quyền và nhân dân huyện Hoằng Hoá còn biết tận dụng lợi thế và khai thác nguồn lợi từ biển để phát triển kinh tế thuỷ sản. Thực hiện Nghị quyết số 02 của Huyện uỷ và đề án của Uỷ ban nhân dân huyện, đến nay, toàn huyện đã phát triển gần 470 tàu thuyền khai thác đánh bắt hải sản, đưa 1.263 ha diện tích vùng nước mặn, lợ vào nuôi trồng thuỷ sản, trong đó có 950 ha được quy hoạch nuôi tôm sú (210 ha nuôi tôm sú bằng phương pháp bán thâm canh, 233,4 ha nuôi tôm sú bằng phương pháp quảng canh cải tiến cho năng suất bình quân 400kg/ha). Ðặc biệt, năm 2002 huyện đã tập trung chỉ đạo xây dựng mô hình nuôi tôm sú bằng phương pháp nuôi công nghiệp ở xã Hoằng Phụ với diện tích 106 ha. Do vậy, sản lượng đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản toàn huyện đạt hơn 7.800 tấn các loại (trong đó sản lượng khai thác đạt 5.000 tấn, nuôi trồng đạt 2.800 tấn), sản lượng tôm đạt 1.100 tấn cung cấp cho thị trường nội địa và xuất khẩu. Lĩnh vực khai thác, nuôi trồng và chế biến thuỷ sản đã góp phần giải quyết việc làm, tăng thêm thu nhập cho trên 6.500 lao động.
Không chỉ chú trọng phát triển nông nghiệp, Hoằng Hoá còn là địa phương đã tạo được bước đột phá trong phát triển công nghiệp, ngành nghề. Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết số 04-HU và Kế hoạch số 234 của Uỷ ban nhân dân huyện, công nghiệp, ngành nghề ở Hoằng Hoá đã có bước phát triển khá. Kinh tế nông nghiệp, nông thôn đã chuyển dần sang sản xuất hàng hoá, sản phẩm nông - lâm - thuỷ sản tăng nhanh. Thị trấn, thị tứ, cụm công nghiệp, làng nghề từng bước được hình thành. Giá trị sản xuất công nghiệp chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng giá trị sản xuất: từ 39,162 tỷ đồng, chiếm 7,5% (năm 1997) tăng lên 94,496 tỷ đồng, chiếm 10,8% vào năm 2002, tạo việc làm ổn định cho hàng nghìn lao động mỗi năm.
Hoằng Hoá có nhiều tiềm năng để phát triển mạnh mẽ công nghiệp, ngành nghề: sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản rất phong phú, đa dạng; trữ lượng tài nguyên thiên nhiên tương đối lớn (cát xây dựng có khả năng khai thác 200.000 m3/năm, sản xuất gạch, ngói 50 triệu viên/năm); kết cấu hạ tầng thuận lợi (hệ thống lưới điện quốc gia với 94 trạm tiếp áp hạ thế, hệ thống trung thế có dung lượng gần 9.000 kVA phủ kín 100% số xã, thị trấn, đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất trên địa bàn). Nhiều ngành nghề có chiều hướng ổn định và phát triển. Theo thống kê của Uỷ ban nhân dân huyện Hoằng Hoá, ngành chế biến nông sản thực phẩm với quy mô sản xuất như hiện nay đã chiếm tỷ trọng 28,5% tổng giá trị sản xuất công nghiệp ngành nghề của huyện. Ngành chế biến lâm sản như mây tre đan, hàng mộc dân dụng được duy trì và ngày càng mở rộng. Nghề dệt may được khôi phục. Bên cạnh đó, huyện còn mở thêm nghề dệt thảm, chiếu cói vì mặt hàng này có thị trường tương đối ổn định, có khả năng chiếm tỷ trọng tới 10%. Ngành vật liệu xây dựng đã đáp ứng đủ nhu cầu xây dựng cơ bản. Nhiều xã đã tạo điều kiện thuận lợi để ngành nghề phát triển, từ việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, quy hoạch các điểm tập trung công thương, khôi phục nghề truyền thống, đến tìm kiếm thị trường tiêu thụ...
Là một huyện đất rộng người đông, nên việc xây dựng nguồn thu ngân sách tại địa phương được các cấp uỷ, chính quyền huyện Hoằng Hoá rất quan tâm. Nếu như năm 1999 tổng thu ngân sách huyện đạt 10.052 triệu đồng và tổng thu ngân sách xã đạt 19.000 triệu đồng thì đến năm 2002 chỉ số trên là 11.500 triệu đồng và 32.000 triệu đồng, đạt và vượt kế hoạch giao, phản ánh đúng sự phát triển kinh tế - xã hội trên toàn địa bàn. Cấp uỷ, chính quyền các xã đã nhận thức đúng đắn về Luật ngân sách nhà nước cũng như vai trò, nhiệm vụ của địa phương mình.

Ngành giáo dục - đào tạo tiếp tục giữ vững danh hiệu đơn vị tiên tiến cấp tỉnh. Hoạt động y tế, chăm lo sức khoẻ cộng đồng được chú trọng cả về công tác khám, chữa bệnh và tăng cường phòng, chống dịch bệnh từ tuyến cơ sở đến huyện, tỷ lệ tăng dân số của huyện giảm 0,03% so với năm 2001. Quốc phòng - an ninh trên địa bàn huyện được tăng cường, trật tự trị an luôn giữ vững, tình hình chính trị luôn ổn định.
Ðịnh hướng và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2005 và năm 2010
Trong kinh tế thị trường, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trở thành một trong những vấn đề cơ bản nhất, có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Ðể tạo được sự chuyển dịch cơ bản theo hướng tích cực, tạo bước đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện có gần 25 vạn dân như Hoằng Hoá, thì những kết quả đạt được trong hơn 10 năm qua mới chỉ được coi là giai đoạn đầu (giai đoạn khởi động) của sự phát triển.
Thực hiện Nghị quyết Ðại hội Ðảng bộ huyện lần thứ XXIII, phát huy truyền thống đoàn kết giữa cấp uỷ, Uỷ ban nhân dân, Hội đồng nhân dân, tranh thủ mọi thời cơ, vượt qua mọi thử thách, phát huy nội lực, khai thác các nguồn ngoại lực nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Huyện Hoằng Hoá tiếp tục tập trung phát triển kinh tế - xã hội với tốc độ nhanh và bền vững. Tăng cường xây dựng kết cấu hạ tầng, từng bước chuyển sản xuất nông nghiệp thành sản xuất hàng hoá, với tốc độ tăng trưởng nhóm hàng nông - lâm - thuỷ sản đạt 5,8% thời kỳ 2001 - 2005 và 3,5% thời kỳ 2006 - 2010. Chỉ tiêu xuất khẩu hàng hoá đến năm 2005 đạt 10 triệu USD. Ðảm bảo an ninh lương thực, đồng thời hình thành vùng sản xuất lúa hàng hoá chất lượng cao, nâng giá trị sản xuất bình quân trên một hécta canh tác lên trên 28 triệu đồng và ứng dụng hiệu quả các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tạo ra bước phát triển nhanh trong sản xuất nông - công - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Gắn tăng trưởng kinh tế với củng cố quốc phòng - an ninh, bảo vệ môi trường sinh thái. Giải quyết tốt những vấn đề xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng Ðảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.
Trên cơ sở xác định chăn nuôi là một trong những thế mạnh của Hoằng Hoá, Huyện uỷ, Uỷ ban nhân dân huyện tập trung chỉ đạo phát triển chăn nuôi toàn diện, vững chắc cả đại gia súc và tiểu gia súc, trong đó trọng tâm là phát triển đàn bò, đàn lợn và đàn gia cầm. Chú trọng chăn nuôi hộ gia đình với quy mô vừa, khuyến khích phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp và trang trại (năm 2005, mỗi xã ít nhất phát triển được 7-10 trang trại và đến năm 2010 có khoảng 15 - 20 trang trại ở mỗi xã, thị trấn). Phấn đấu đưa ngành chăn nuôi thành ngành sản xuất chính, nâng tỷ trọng từ 33,8% (năm 2001) lên 40% (năm 2005) và đến năm 2010 đạt 50% trở lên trong giá trị sản xuất nông nghiệp. Phát triển đàn bò, đàn lợn, đàn gia cầm, trong đó đàn bò là 18.500 con năm 2005 và 24.000 con năm 2010; đàn lợn là 110.000 con năm 2005 và 160.000 con năm 2010, đàn gia cầm 1.150.000 con năm 2005 và 1.500.000 con năm 2010.
Ðể phát huy lợi thế và tạo bước đột phá mới trong phát triển công nghiệp, ngành nghề, Uỷ ban nhân dân huyện cũng đã có kế hoạch cụ thể trong giai đoạn 2001 - 2005 và giai đoạn 2006 -2010. Theo đó, mục tiêu cụ thể là phấn đấu đến năm 2005 đạt giá trị sản xuất 225,813 tỷ đồng, tăng trưởng bình quân 26,4%/năm và chiếm tỷ trọng 37% trong cơ cấu kinh tế huyện; năm 2010 đạt 353,855 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 40 - 45%. Xây dựng một số cơ sở công nghiệp mới, một số làng nghề trọng điểm, xây dựng các khu tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề gắn với thương mại. Ðẩy mạnh phát triển thương mại - dịch vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, phấn đấu đưa tỷ trọng dịch vụ - thương mại trong cơ cấu kinh tế lên 23% năm 2005 và đến năm 2010 là 30%.
Với những chủ trương và biện pháp thích hợp, mục tiêu hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn bằng chính nội lực và những bước đi hợp lý, chắc chắn kinh tế công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ngành nghề ở Hoằng Hoá sẽ có bước phát triển mới, vững chắc và toàn diện, góp phần xứng đáng vào sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
Tên gọi Hoằng Hóa qua các thời kỳ lịch sử
Thời Ðinh - Lê gọi là giáp Cổ Hoằng, thời Lý - Trần gọi là Cổ Ðằng, thời nhà Hồ đổi là huyện Cố Linh, thời thuộc Minh gọi là huyện Cố Ðằng. Ðến thời Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Ðức thứ nhất (năm 1470) đổi thành huyện Hoằng Hoá. Dưới thời Minh Mạng (năm 1838), một số làng, tổng ở phía Bắc được cắt ra cùng với tổng Ðại Ly ở huyện Hậu Lộc lập nên huyện Mỹ Hoá do huyện Hoằng Hoá kiêm nhiệm.
Ðầu thế kỷ XX, huyện Mỹ Hoá giải thể, các làng, tổng trên lại nhập về Hoằng Hoá. Từ đó địa giới Hoằng Hoá ổn định cho đến ngày nay. Ðịa hình tự nhiên và đất đai Hoằng Hoá được chia thành ba vùng rõ rệt: 17 xã phía Bắc huyện thuộc tả ngạn sông Tuần và sông Mã là vùng đất thích hợp với canh tác lúa nước hai vụ chính; 22 xã vùng giữa và phía Nam huyện thuộc hữu ngạn sông Tuần và tả ngạn sông Mã phần lớn đất cát pha, thích hợp thâm canh cây lúa và màu; 8 xã vùng biển ở phía Ðông sông Cung hầu hết là đất cát, vừa sản xuất nông nghiệp vừa làm nghề nuôi trồng, khai thác thuỷ, hải sản.

Ðịa chỉ liên hệ:
Uỷ ban nhân dân huyện Hoằng Hóa
Chủ tịch: Lê Văn Hiển
Ðiện thoại: 037. 865093 - 0912.028469

anny_cuong_depzai
11-01-2008, 10:18 PM
để đọc đã Chứ Không Bị Ngộ độc Văn Hóa Thì Chít Em à

leqhung
12-01-2008, 06:41 AM
Thạch Thành nhà anh chú chưa có thông tin gì à chú Any?

anny_cuong_depzai
12-01-2008, 08:31 AM
Giới thiệu chung


Diện tích tự nhiên: 558,11km2 - Tốc độ tăng trưởng kinh tế: 8%/năm - Tổ chức hành chính: 25 xã, 3 thị trấn. Ðược sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh, huyện Thạch Thành đã có những bước đi hợp lý, đúng hướng trong phát triển kinh tế - xã hội. Cơ cấu cây trồng chuyển dịch theo hướng đẩy mạnh phát triển cây công nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng mạnh tỷ trọng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thương mại - dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông - lâm - ngư nghiệp, đồng thời dần hình thành các khu công nghiệp và dịch vụ mới.

Huyện Thạch Thành nằm ở phía tây bắc tỉnh Thanh Hoá, phía bắc giáp huyện Nho Quan (tỉnh Ninh Bình), phía tây giáp huyện Cẩm Thuỷ và huyện Bá Thước, phía nam giáp huyện Vĩnh Lộc, phía đông giáp huyện Hà Trung. Theo điều tra thổ nhượng của Sở Ðịa chính, phần lớn chất đất ở đây rất thích hợp cho phát triển cây công nghiệp, đây là tiềm năng thế mạnh vô cùng quý giá của Thạch Thành trong quá trình phát triển kinh tế. Ngoài ra, Thạch Thành còn có mạng lưới giao thông thuận lợi với tuyến đường quốc lộ 45, tỉnh lộ 7 nối các huyện trong tỉnh, đi thị xã Bỉm Sơn, huyện Hà Trung, huyện Vĩnh Lộc, huyện Cẩm Thuỷ, tạo điều kiện cho Thạch Thành giao thương với các huyện trong tỉnh và cả nước. Ðặc biệt, với tuyến đường Hồ Chí Minh đi qua vùng đệm của rừng quốc gia Cúc Phương và được Bộ Giao thông Vận tải xác định là "điểm nghỉ chân" đã tạo cho Thạch Thành lợi thế phát triển thương mại - dịch vụ và du lịch sinh thái. Phát huy tiềm năng và thế mạnh của huyện miền núi
Thành quả nổi bật trong thời gian qua của huyện Thạch Thành là kinh tế tăng trưởng khá nhanh ở mức 7 - 8%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng: tăng tỷ trọng ngành công nghiệp xây dựng cơ bản, thương mại - dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông - lâm - ngư nghiệp. Thế mạnh về đất đai, lao động, lợi thế về địa lý, giao thông từng bước được khai thác hiệu quả. Vùng kinh tế hàng hoá được hình thành, cây công nghiệp mũi nhọn (cây mía) được xác định rõ, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, diện mạo nông thôn không ngừng đổi mới. Trong đó:
Ngành nông - lâm - ngư nghiệp, thực hiện chủ trương, chính sách của tỉnh về phát triển kinh tế các huyện miền núi, Thạch Thành đã tập trung triển khai thực hiện công tác khuyến nông - khuyến lâm. Ðặc biệt, lãnh đạo Uỷ ban nhân dân huyện và các ngành đã tích cực chuyển hướng cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đầu tư thâm canh tăng năng suất, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đi sâu nghiên cứu và trồng thử các cây trọng điểm phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Chiến lược phát triển này đã mang lại kết quả khả quan, góp phần tích cực vào việc kích thích sự tăng trưởng nâng cao sản lượng nông nghiệp trên địa bàn, chuyển nông nghiệp từ mô hình tự cung, tự cấp sang mô hình sản xuất hàng hoá. Năm 2002, ngành nông - lâm - ngư nghiệp tăng 15,3% so với năm 1997.
Với ngành lâm nghiệp, nhiều chỉ tiêu về trồng rừng, trồng cây phân tán, khoanh nuôi tái sinh chăm sóc bảo vệ rừng và khai thác lâm sản tăng mạnh qua các năm. Ðến nay, các khu rừng của Thạch Thành được chăm sóc tốt, độ che phủ của rừng hầu như đạt kế hoạch đã đề ra. Công tác phòng cháy, chữa cháy được thực hiện tốt, nên không có vụ cháy rừng nào xảy ra. Ngoài ra, để khai thác triệt để quỹ đất của huyện miền núi, trong những năm gần đây, huyện đã có chủ trương hình thành các trang trại trồng cây ăn quả (vải thiều, nhãn, bưởi, cam) ở tầm trung các triền đồi, núi. Vì thế, tính đến năm 2002, toàn huyện có 395,1ha cây ăn quả. Trong những năm tới, Huyện uỷ, Uỷ ban nhân dân huyện chủ trương tăng diện tích trồng cây ăn quả, đồng thời xây dựng các nhà máy chế biến trái cây, mở ra triển vọng lớn cho ngành công nghiệp chế biến của huyện.
Với tiểu ngành chăn nuôi, nếu những năm trước đây chỉ là nghề phụ thì nay đã có những chuyển biến quan trọng về cơ cấu giống, vật nuôi và mô hình tổ chức sản xuất, theo hướng sản xuất hàng hoá. Với những vùng đồi, vùng đất rất phù hợp với chăn nuôi bò, đặc biệt là bò sữa, bò lai sind. Bò sữa được đưa vào chăn nuôi ngày càng nhiều, đưa tổng số đàn bò lên 7.109 con (năm 2002), tăng 15% so với năm 1997. Do đẩy mạnh phát triển đàn bò và cơ giới hoá nên tổng số đàn trâu giảm, theo thống kê của Uỷ ban nhân dân huyện, toàn huyện hiện chỉ còn 18.293 con. Bên cạnh đó, giống lợn hướng nạc cũng được đưa vào chăn nuôi khá phổ biến và đạt kết quả cao. Tổng đàn lợn tính đến năm 2002 là 58.588 con, tăng 39,9% so với năm 1997. Các loại gia súc, gia cầm, vật nuôi khác như: dê, hươu, gà, vịt, ong cũng phát triển mạnh.
Với tiểu ngành trồng trọt, nếu như năm 1997 tổng diện tích gieo trồng lúa đạt 8.397,5 ha, năng suất bình quân đạt 33,3 tạ/ha, tổng sản lượng lương thực (quy thóc) đạt 27.998,2 tấn thì đến năm 2002 tổng diện tích gieo trồng tuy không tăng nhiều (8.970,8 ha) nhưng năng suất bình quân đạt 36,3 tạ/ha, tổng sản lượng (quy thóc) đạt 32.556 tấn. Kết quả đó đã góp phần đảm bảo an ninh lương thực trên địa bàn. Ngoài ra, Thạch Thành còn đẩy mạnh trồng các loại cây cho bột khác như khoai, sắn, ngô.
Bên cạnh đó, với địa chất được đánh giá tương đối thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp, đặc biệt là cây mía và cây cao su, lãnh đạo huyện đã xác định: đây là hai loại cây chủ lực, mũi nhọn trong phát triển kinh tế của huyện. Nhờ đó, diện tích cây cao su đã không ngừng tăng lên, từ hơn 400 ha cao su (đa phần được trồng thời Pháp thuộc, già cỗi, lượng mủ không nhiều) năm 1997 lên 4.000 ha (cây trồng mới cho lượng mủ nhiều, chất lượng tốt) năm 2002.
Là huyện đầu tiên trong tỉnh kết hợp mô hình kinh tế nông trường và kinh tế hộ đạt kết quả cao, đến nay, Thạch Thành hiện có 3 nông trường tham gia trồng mía (Thạch Thành, 26/3 và Vân Du) hoạt động theo mô hình này. Ðồng thời, bằng nhiều chính sách như trợ giá, trợ giống, vốn, kỹ thuật canh tác, trong vài năm trở lại đây, diện tích trồng mía của Thạch Thành lên tới trên 4.507,7 ha, năng suất bình quân đạt 504,1 tạ/ha, sản lượng vụ ép năm 2002 đạt 227.146,8 tấn. Giá trị kinh tế cây mía đem lại không chỉ góp phần tăng trưởng kinh tế huyện nhà, mà còn giải quyết công ăn việc làm cho nhiều hộ gia đình, nâng cao đời sống của người dân Thạch Thành.
Thế mạnh của các loại cây công nghiệp được khẳng định bằng tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trong những năm gần đây (bình quân đạt 10%/năm). Trong đó, giá trị của cây mía chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị ngành công nghiệp. Năm 2002, tổng giá trị ngành công nghiệp đạt 219.148 triệu đồng, trong đó công nghiệp chế biến mía đường (Công ty liên doanh Ðường mía Việt Nam - Ðài Loan ) là 207.705 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 94,8%. Ngoài ra, ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của Thạch Thành còn phát triển trong các lĩnh vực chế biến nông - lâm sản, thực phẩm; khai thác vật liệu xây dựng, khai thác đá...
Là một huyện miền núi, ngành thương mại - dịch vụ của Thạch Thành tuy phát triển mạnh nhưng không toàn diện, chủ yếu là cung cấp nhu yếu phẩm thiết yếu và dịch vụ trong nông nghiệp. Giá trị ngành thương mại - dịch vụ năm 2002 đạt 84.903 triệu đồng, chiếm 19,2% GDP. Tuy vậy, trong những năm tới, khi tuyến đường Hồ Chí Minh đi qua huyện hoàn thành, các loại hình dịch vụ, thương mại sẽ có điều kiện phát triển nhanh hơn. Hiện nay, huyện đang tập trung trùng tu, tôn tạo lại chiến khu Ngọc Trạo - một địa danh lịch sử trong kháng chiến, cải tạo lại các hồ đập, suối nước nóng, các cụm rừng để khai thác du lịch lịch sử và du lịch sinh thái.
Ðẩy mạnh đầu tư cho kết cấu hạ tầng, quốc phòng an ninh
Kinh tế tăng trưởng đã thúc đẩy kết cấu hạ tầng của Thạch Thành phát triển mạnh, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng cơ bản. Hàng năm, Thạch Thành đầu tư một nguồn vốn khá lớn cho xây dựng cơ bản. Với nguồn vốn hỗ trợ của Trung ương, của tỉnh, của huyện và vốn đóng góp của nhân dân, Thạch Thành đã đầu tư nhiều công trình giao thông, kết cấu hạ tầng quan trọng. Ðến nay, ngoài hệ thống đường quốc lộ nối liền với các huyện trong tỉnh được trung ương đầu tư xây dựng như tuyến đường về Ngọc Trạo, đường số 7 từ Bỉm Sơn lên phố Cát và các xã vùng cao Thành Minh, Thạch Trực đi qua vùng cao Thạch Quảng, quốc lộ 45 chạy qua huyện đến tận Rịa... Ngoài ra, huyện còn tập trung đầu tư nâng cấp hệ thống giao thông nông thôn. Các tuyến đường liên xã, liên thôn được nhựa hoá và cấp phối hoàn toàn, tạo điều kiện thông thương, giao lưu của người dân. Bên cạnh đó, hệ thống kênh mương nội đồng cũng được kiên cố hoá, đảm bảo nhu cầu tưới tiêu cho cây lúa và các loại cây hoa màu chủ yếu. Nhiều công trình phúc lợi, trường học, bệnh viện, công sở cũng được đầu tư nâng cấp và xây dựng mới. Cùng với phát triển kết cấu hạ tầng, mạng lưới điện trong những năm qua được đầu tư mở rộng. Tính đến nay, toàn huyện đã có 24/25 xã được sử dụng điện lưới quốc gia, xã còn lại sẽ được triển khai trong năm 2003.
Nhận thức được tầm quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực, Ðảng bộ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân huyện đã chỉ đạo phát triển công tác giáo dục, đẩy nhanh cả về quy mô và chất lượng. Hàng năm, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp đạt 95 - 99% (năm 2002 tỷ lệ tốt nghiệp tiểu học đạt 99,14%, trung học cơ sở đạt 97,73%, trung học phổ thông đạt 93,95%). Với mục tiêu tạo không khí học tốt, cơ sở vật chất của các trường từ tiểu học đến phổ thông trung học đã được xây dựng kiên cố và ngày càng khang trang sạch đẹp. Tính đến nay, Thạch Thành đã ngói hoá, lầu hoá hầu hết các trường học trên toàn huyện. Về chất lượng đào tạo, toàn huyện đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và đang thực hiện phổ cập trung học cơ sở (trong đó có 14 xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về phổ cập trung học cơ sở). Trong những năm tới, Thạch Thành đang xúc tiến xây dựng trường chuẩn quốc gia.
Văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, phát thanh - truyền hình được quan tâm đúng mức. Công tác tuyên truyền chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội của địa phương được thực hiện tốt. Các cơ sở phát thanh, phát lại truyền hình huyện và hệ thống truyền thanh cơ sở được đầu tư nâng cấp, đảm bảo chất lượng và phát huy được hiệu quả thông tin tuyên truyền. Thực hiện chủ trương xây dựng đời sống văn hoá cơ sở, từng bước nâng cao chất lượng các hoạt động văn hoá - xã hội, tính đến năm 2002, toàn huyện có 156 đơn vị khai trương làng, cơ quan, trường học văn hoá. Trong đó, xã Ngọc Trạo có 100% làng khai trương xây dựng làng văn hoá. Hoạt động thể dục - thể thao có nhiều chuyển biến, công tác xã hội hoá hoạt động thể dục thể thao được củng cố và đẩy mạnh, các phong trào hoạt động thể dục thể thao cơ sở thu hút ngày càng đông đảo quần chúng tham gia...
Công tác y tế, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng được cấp uỷ Ðảng và Chính quyền quan tâm, củng cố cả về chất lượng và số lượng. Do đó, số bệnh nhân vào khám và điều trị tại trung tâm y tế huyện, các trạm xá, thị trấn ngày càng nhiều, số bệnh nhân vượt tuyến ngày càng giảm. Hoạt động y tế dự phòng được củng cố và tăng cường, công tác an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường được kiểm tra thường xuyên. Nhờ làm tốt công tác phòng chống, trong nhiều năm liền, Thạch Thành không để xảy ra dịch bệnh lớn.
Tình hình quốc phòng - an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tiếp tục được giữ vững và ổn định, tạo được khối đại đoàn kết toàn dân. Quốc phòng luôn được củng cố, xây dựng cơ sở vững mạnh, duy trì chế độ sẵn sàng chiến đấu và làm tốt công tác tuyển quân.
Những kết quả nêu trên là hệ quả tất yếu từ chỉ đạo sát sao của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh, sự đoàn kết nhất trí cao trong việc vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới của Ðảng theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn của Ðảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Thạch Thành. Ðó chính là tiền đề, là cơ sở để Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh đề ra những chủ trương, giải pháp sát thực, phù hợp nhằm phát huy tiềm năng, thế mạnh và nội lực của một huyện miền núi; huy động sức mạnh đoàn kết toàn dân, hăng hái thi đua học tập, lao động sản xuất xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.
Lịch sử hình thành huyện Thạch Thành
Thời thuộc Hán là miền đất thuộc huyện Dư Phát. Thời Tam Quốc - Lưỡng Tấn - Nam Bắc Triều là miền đất thuộc huyện Phù Lạc. Thời Tuỳ - Ðường, Ðinh - Lê - Lý là miền đất thuộc huyện Nhật Nam. Thời Trần - Hồ, miền đất này nằm trong hai huyện Tế Giang và Yên Lạc. Vì thế, huyện Thạch Thành ngày nay được hình thành từ hai huyện Tế Giang và Yên Lạc thời Trần - Hồ mà thành. Quá trình hình thành và sáp nhập diễn ra như sau:
1) Huyện Yên Lạc thời Lê Quang Thuận (năm 1460) đặt là huyện Thạch Thành, cho lệ vào phủ Thiệu Thiên (nay là phần đất thuộc đông nam huyện Thạch Thành bây giờ).
2) Huyện Tế Giang thuộc lưu vực sông Bưởi (còn gọi là sông Bảo, sông Tế Giang). Ðời Lê Quang Thuận đổi tên Tế Giang thành Bình Giang, đời Trung Hưng gọi là huyện Quảng Bình. Thời Tây Sơn đổi là huyện Quảng Bằng. Ðầu thời Nguyễn đổi lại thành huyện Quảng Bình. Năm Minh Mệnh thứ 2 (năm 1821), đổi tên thành Quảng Ðịa, sau lại đổi tên là huyện Quảng Tế.
3) Năm Thành Thái thứ 1 (năm 1889) nhập huyện Quảng Tế vào huyện Thạch Thành và hình thành huyện Thạch Thành ngày nay.
4) Năm 1977, ghép hai huyện Thạch Thành và Vĩnh Lộc thành huyện Vĩnh Thạch. Ðến năm 1982, lại tách hai huyện như cũ và lại lấy tên là huyện Thạch Thành. Ngày nay, huyện Thạch Thành có 25 xã và 3 thị trấn.
Ðịa chỉ liên hệ:
Uỷ ban nhân dân huyện Thạch Thành
Chủ tịch: Đỗ Minh Quý
Ðiện thoại: 037. 877055 - 0982.293338

phó thường dân thường trực leqhung

leqhung
12-01-2008, 08:41 AM
Phía Bắc ngoài giáp với Nho Quan -Ninh Bình còn giáp với Lạc Thủy của Hoà Bình nữa

anny_cuong_depzai
21-01-2008, 09:10 PM
Giới thiệu chung về Thị xã Bỉm Sơn


Trong những năm gần đây, thị xã Bỉm Sơn phát triển khá nhanh và bền vững. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, từ công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ sang công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch vụ và nông - lâm nghiệp. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 12%/năm; GDP đầu người đạt gần 600 USD/người/năm. Hiện nay, thị xã Bỉm Sơn đang dần hình thành các khu công nghiệp tập trung, khu đô thị mới, một số trung tâm thương mại, khách sạn lớn, điều đó cho thấy sức vươn lên mạnh mẽ của vùng đất được mệnh danh là "cửa ngõ phía Bắc" của tỉnh Thanh Hoá.

Thị xã Bỉm Sơn được xác định là trung tâm kinh tế của vùng kinh tế động lực, đồng thời là cửa ngõ phía Bắc tỉnh Thanh Hoá, cách thủ đô Hà Nội 120 km về phía Nam, cách thành phố Thanh Hoá 34 km về phía Bắc. Với tổng diện tích đất tự nhiên là 66,88 km2, đồi núi ở khu vực này hàm chứa nhiều nguyên liệu rất phù hợp cho sự phát triển ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng. Ngoài ra, thị xã Bỉm Sơn còn nằm trên mạng lưới giao thông vận tải thuận lợi với tuyến đường sắt Bắc - Nam, quốc lộ 1A chạy qua, tạo nên mối giao thương rộng lớn với các tỉnh trong vùng và các trung tâm kinh tế lớn của cả nước. Không chỉ có vậy, nét độc đáo của thị xã Bỉm Sơn còn ở chỗ vừa là khu công nghiệp động lực, vừa có nhiều di tích lịch sử danh thắng được nhân dân cả nước biết đến (đặc biệt là "Ðền Sòng thiêng nhất xứ Thanh"). Ưu đãi cho doanh nghiệp - động lực thúc đẩy kinh tế phát triển
Sau hơn 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới (1991 - 2002), kinh tế thị xã ngày càng ổn định và phát triển theo hướng tích cực với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 12 %/năm, GDP bình quân đạt gần 600 USD/người/năm.
Ðóng góp đáng kể vào thành tích ấy phải kể đến sự gia tăng cả về số lượng và chất lượng của các doanh nghiệp tham gia sản xuất - kinh doanh trên địa bàn thị xã, nhất là khu vực tư nhân. Tính đến ngày 31-12-2002, toàn thị xã có 10 doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng; 2 doanh nghiệp nhà nước thuộc lĩnh vực nông nghiệp; 13 đơn vị, doanh nghiệp, cửa hàng quốc doanh thuộc lĩch vực thương mại - dịch vụ, v.v.. Ðặc biệt, loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh phát triển mạnh nhất. Hiện nay, thị xã có 85 đơn vị, trong đó có 2 công ty cổ phần, 01 công ty có vốn đầu tư nước ngoài và hàng nghìn cơ sở sản xuất cá thể, góp phần phát triển kinh tế, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống của người dân.
Trong thời gian qua, điều đáng ghi nhận là nhiều doanh nghiệp luôn chú trọng tăng cường đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất. Ðiển hình như: Công ty Xi măng Bỉm Sơn, Công ty Gốm xây dựng, Công ty Lắp máy và Xây dựng số 5, Công ty cổ phần Vật liệu xây dựng, Công ty cổ phần Bao bì Bỉm Sơn, v.v.. Ðể có được thành công này, trong những năm vừa qua, thị xã đã có những chính sách ưu đãi nhằm thu hút, khuyến khích đầu tư, đặc biệt là đầu tư vào các khu công nghiệp. Theo đó, ngoài những chính sách đầu tư của Trung ương và của tỉnh, thị xã còn có những chính sách riêng như hỗ trợ 30% kinh phí đền bù giải phóng mặt bằng cho các doanh nghiệp thu hút trên 200 lao động; hỗ trợ một lần cho các doanh nghiệp đầu tư sản xuất thu hút trên 200 lao động với mức lương 300 nghìn đồng/lao động; cấp kinh phí để mở lớp bổ túc nghiệp vụ cho các đối tượng là giám đốc, kế toán trưởng của các doanh nghiệp.
Sự tăng nhanh cả về số lượng, lẫn chất lượng các doanh nghiệp đã góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội thị xã Bỉm Sơn phát triển. Trong đó:
Về công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp: năm 2002, giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn thị xã Bỉm Sơn, đạt 1.495 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 90,6% GDP, trong đó các doanh nghiệp địa phương đạt 105 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân 12%/năm.
Thương mại - dịch vụ: phát triển với tốc độ nhanh và ngày càng mở rộng diện phục vụ, đáp ứng nhu cầu cho sản xuất và tiêu dùng của nhân dân địa phương, trong đó năm 2002 đạt giá trị trên 120 tỷ đồng; tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế tăng từ 3,6% (năm 1991) lên 6,5% (năm 2002). Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt trên 10%/năm với gần 3 nghìn hộ đã đăng ký kinh doanh trên địa bàn. Ðây là những kết quả khả quan, khẳng định tính đúng đắn trong chiến lược chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thị xã. Các loại hình dịch vụ như vận tải, sửa chữa cơ khí, điện, nước, bưu chính - viễn thông, khuyến nông, khuyến lâm ngày càng phát triển cả về chất và lượng. 100% số hộ được dùng điện sinh hoạt. Dịch vụ bưu chính - viễn thông phát triển tốc độ nhanh, tính đến ngày 31-12-2002 đạt 8 máy/100 dân. Hoạt động tín dụng - ngân hàng có nhiều đổi mới và ngày càng gắn với thị trường; 4 ngân hàng thương mại đã góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, xoá đói giảm nghèo, song vẫn bảo toàn được vốn đầu tư. Năm 2002, mức huy động đạt 431 tỷ đồng, dư nợ trên 600 tỷ đồng, trong đó số dư nợ cho hộ nghèo vay là 5,5 tỷ đồng.
Nông - lâm nghiệp: phát triển tương đối toàn diện theo hướng sản xuất hàng hoá, tích cực chuyển đổi cơ cấu mùa vụ và giống cây - con, nâng cao giá trị trên đơn vị diện tích, từng bước ổn định và cải thiện đời sống của nông dân, diện mạo nông thôn ngày một khang trang, sạch đẹp. Theo đó, năm 2002 giá trị sản xuất nông - lâm nghiệp trên địa bàn đạt 54,8 tỷ đồng, trong đó doanh nghiệp địa phương đạt 40,7 tỷ đồng, tăng 18,5 lần so với năm 1991 (40,7/2,2 tỷ đồng). Diện tích gieo trồng tăng từ 1.017 ha (năm 1991) lên 2.445 ha (năm 2002). Sản lượng lương thực năm 2002 tăng gấp 3 lần so với năm 1991 (8.000/2.640 tấn)... Bên cạnh đó, thị xã Bỉm Sơn cũng đã quy hoạch lại các vùng chuyên canh, phát triển kinh tế vườn đồi, kinh tế trang trại, không những góp phần giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động, mà còn góp phần phủ xanh đất trống, đồi trọc...
Nhằm đẩy mạnh sự phát triển đô thị, thị xã đã dành nhiều nguồn vốn đầu tư cho xây dựng cơ bản. Năm 2002, tổng vốn đầu tư đạt 1.136 tỷ đồng, tốc độ đầu tư bình quân trên 15%/năm, tập trung chủ yếu vào đầu tư đổi mới công nghệ và xây dựng các công trình sản xuất vật liệu xây dựng, giao thông, điện, nước, bệnh viện, trường học và trụ sở làm việc của cơ quan Ðảng, chính quyền. Ðặc biệt trong 3 năm trở lại đây, hệ thống giao thông nội thị được xây dựng theo cơ chế 4+5+1 (ngân sách thị xã hỗ trợ 40%, nhân dân tự đóng góp 50%, ngân sách phường, xã 10%) được nhân dân tích cực tham gia, kết quả đã xây dựng được gần 17 km đường giao thông. Hiện nay, hệ thống điện nước đã được quy hoạch hoàn chỉnh, mạng lưới cung ứng nước đã đến với mọi hộ dân; mạng lưới điện không những thắp sáng trong tất cả các hộ gia đình, đường phố, mà còn vươn ra các khu công nghiệp.
Tổng thu ngân sách thị xã trong nhiều năm liền đạt tỷ lệ cao, năm 2002 chiếm 1/6 tổng thu ngân sách toàn tỉnh (thậm chí có nhiều năm chiếm 1/2 tổng thu ngân sách toàn tỉnh). Chi ngân sách thị xã năm 2002 là 43.336 triệu đồng, tăng gấp 4,1 lần so với năm 1991, nguồn chi chủ yếu dành cho đầu tư phát triển, thực hành tiết kiệm chi hành chính.
Giáo dục - văn hoá - xã hội - an ninh phát triển mạnh
Phát triển nguồn nhân lực bền vững, nhận thức được ý nghĩa của việc phát triển nguồn nhân lực, Thị uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thị xã đã chỉ đạo phát triển công tác giáo dục cả về quy mô và chất lượng. Cùng với đó, để tạo không khí học tập tốt, cơ sở vật chất trường học được quan tâm đầu tư. Từ tiểu học đến phổ thông trung học đều được xây dựng kiên cố, khang trang, 2 trường mầm non được xây dựng hoàn chỉnh (Ngọc Trạo và Xi Măng). Tỷ lệ lớp học tăng dần qua các năm, nếu năm 1991 mới chỉ có 288 lớp học, với 10.240 học sinh, thì đến nay đã có gần 600 lớp học, với tổng số 18.771 học sinh (tăng gấp 1,8 lần so với năm 1991). Năm học 2001 - 2002, 100% xã, phường của thị xã đã hoàn thành phổ cập tiểu học đúng độ tuổi, trong đó có 7/8 trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia; 5/7 xã, phường hoàn thành phổ cập trung học cơ sở; 100% các trường khai trương trường văn hoá. Ðội ngũ giáo viên được tham gia các khoá học để nâng cao trình độ và chuẩn hoá theo các cấp học.
Về chất lượng, số học sinh giỏi tăng đều qua các năm. Số học sinh thi đỗ đại học đạt 38%/năm. Hiện tại, toàn thị xã có 3 trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, bao gồm: Trường trung học Ðịa chính Trung ương 2, Trường Công nhân kỹ thuật xây dựng và Trường Công nhân kỹ thuật lắp máy, đáp ứng nhu cầu học nghề trên địa bàn và khu vực, góp phần bổ sung nguồn lao động có tay nghề cho xã hội.
Văn hoá - thông tin, thể dục - thể thao, phát thanh và phát lại truyền hình đã cơ bản đáp ứng được nhiệm vụ tuyên truyền chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ chính trị của địa phương. Cơ sở phát thanh, phát lại truyền hình của thị xã và hệ thống truyền thanh cơ sở được đầu tư nâng cấp đảm bảo chất lượng, phát huy hiệu quả tuyên truyền. Nhờ đó đến nay, trên 90% số dân thị xã được nghe sóng phát thanh và xem phát lại truyền hình. Ðồng thời, đến năm 2002, toàn thị xã đã có 57/61 làng, khu phố văn hoá, 33 doanh nghiệp, cơ quan và trường học đã khai trương đơn vị văn hoá; tỷ lệ gia đình văn hoá tăng từ 9% (năm 1991) lên 72,5% (năm 2002). Số người thường xuyên luyện tập thể thao tăng từ 19% (năm 1991) lên 36,5% (năm 2002). Số gia đình tham gia thể thao tăng từ 1,5% (năm 1991) lên 31,5% (năm 2002). Toàn thị xã hiện có 40 câu lạc bộ và 31 nhà văn hoá của khu phố, thôn, xóm, cơ quan, doanh nghiệp ra đời và đang hoạt động khá hiệu quả. Ðây là động lực phát triển thể dục - thể thao, văn hoá quần chúng, là cơ sở để lựa chọn hạt nhân, tập thể có thành tích cao tham gia trong các giải cấp thị xã, cấp tỉnh.
Kinh tế thị xã tăng trưởng nhanh và ổn định đã góp phần cải thiện đời sống của người dân. Số hộ giàu tăng lên đáng kể, các chính sách xã hội được thực hiện nghiêm túc. Tỷ lệ hộ đói nghèo ngày một giảm, năm 2002 chỉ còn 7%. Phong trào đền ơn đáp nghĩa, nhân đạo, từ thiện đã trở thành nét đẹp truyền thống của nhân dân thị xã Bỉm Sơn.
Về y tế, công tác chăm sóc sức khoẻ của nhân dân được cấp uỷ Ðảng và chính quyền quan tâm đúng mức. Trong những năm qua, thị xã đã đầu tư xây dựng 01 trung tâm y tế với quy mô 100 giường bệnh. Các cơ sở y tế của thị xã đã khám, chữa bệnh cho hơn 20 nghìn lượt người/năm; riêng năm 2002 có 38.926 lượt người khám bệnh, trong đó khám tại bệnh viện đạt 26.120 lượt người. Ðối với công tác y tế dự phòng, thị xã luôn thực thi chiến lược "phòng bệnh hơn chữa bệnh". Do đó, công tác vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, vệ sinh công nghiệp được tuyên truyền và kiểm tra thường xuyên, không để xảy ra dịch bệnh lớn trên địa bàn. Năm 2002, tiêm chủng mở rộng đạt 100% cháu trong độ tuổi, đồng thời làm tốt công tác cứu trợ xã hội và phương án phòng, chống giảm nhẹ thiên tai,v.v..
Về quốc phòng - an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tiếp tục được giữ vững và ổn định; an ninh chính trị trên địa bàn thị xã, trong các vùng giáo dân, vùng giáp danh, an ninh nội bộ, kinh tế, văn hoá, tư tưởng, an ninh nông thôn - đô thị tiếp tục ổn định và củng cố vững chắc. Trật tự an toàn xã hội được tăng cường, công tác đấu tranh phòng chống tội phạm được quan tâm đúng mức, đặc biệt là đấu tranh chống tội phạm ma tuý, giảm thiểu tai nạn và ùn tắc giao thông.
Quy hoạch và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010
Trong những năm tới thị xã tiếp tục phát huy nội lực, khai thác tốt tiềm năng sẵn có về đất đai, kết cấu hạ tầng, nhân lực dồi dào, an ninh chính trị đảm bảo kết hợp với tăng cường thu hút đầu tư, sớm đưa thị xã từ đô thị loại IV lên đô thị loại III. Nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra, thì phát triển kinh tế trở thành mục tiêu hàng đầu. Hiện nay, thị xã đang xúc tiến san lấp mặt bằng thu hút đầu tư vào khu công nghiệp nhỏ và vừa ở phía Bắc, khu dịch vụ thương mại ở phía Nam; thông qua và đang trình tỉnh phê duyệt điều chỉnh quy hoạch giai đoạn 2010 - 2020, quy hoạch khu dịch vụ thương mại phía Nam (khu đô thị mới), khu công nghiệp lớn phía Bắc với quy mô hàng trăm hécta và một số quy hoạch chi tiết khác nhằm thúc đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn. Với việc đẩy mạnh công tác quản lý quy hoạch, quản lý đất đai, đặc biệt là công tác đền bù giải phóng mặt bằng đang và sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế yên tâm bỏ vốn đầu tư phát triển sản xuất. Ðối với các công trình trọng điểm, trong những năm tới sẽ tập trung cho xây dựng mới nhà máy xi măng công suất 2 triệu tấn năm, công nghiệp dệt - may và một số cơ sở sản xuất, kinh doanh khác.
Có thể nhận định rằng, trong những năm vừa qua thị xã Bỉm Sơn đã có bước phát triển vượt bậc trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, chính trị - xã hội, an ninh - quốc phòng. Những thành quả đó đã tạo tiền đề vững chắc để thị xã có thể trở thành đô thị loại III, xứng đáng là một trung tâm kinh tế động lực và cửa ngõ phía Bắc của tỉnh Thanh Hoá trong tương lai gần. Tuy nhiên, để Bỉm Sơn nhanh chóng trở thành thị xã công nghiệp, giàu về kinh tế, mạnh về an ninh - quốc phòng, đẹp về nếp sống văn hoá, ngoài sự nỗ lực phấn đấu của Ðảng bộ, chính quyền và nhân dân thị xã, sự hỗ trợ, tạo điều kiện của các cấp, các ngành từ tỉnh đến Trung ương và vai trò thông tin, quảng bá của các cơ quan thông tin đại chúng là hết sức quan trọng và cần thiết.
Vài nét về lịch sử hình thành thị xã Bỉm Sơn
Ðể đáp ứng kịp thời công tác quản lý hành chính của khu công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, ngày 29-6-1977, Bộ trưởng Phủ Thủ tướng đã ký Quyết định số 140/BT-TTg thành lập thị trấn Bỉm Sơn trực thuộc tỉnh Thanh Hoá với nhiệm vụ bảo vệ và phục vụ tốt nhất cho việc xây dựng Nhà máy Xi măng Bỉm Sơn - nhà máy sản xuất xi măng lớn nhất Việt Nam lúc bấy giờ. Vì thế, ngay từ khi mới thành lập, thị trấn Bỉm Sơn (nay là thị xã Bỉm Sơn) được Ðảng và Nhà nước xác định là khu công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, chủ yếu là sản xuất xi măng.
Ngày 18-12-1981, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) ký Quyết định số 157/HÐBT thành lập thị xã Bỉm Sơn gồm thị trấn Bỉm Sơn, thị trấn Nông trường Hà Trung và 2 xã Quang Trung, Hà Lan, thuộc huyện Trung Sơn (nay là huyện Hà Trung). Ðến nay, thị xã có 7 đơn vị hành chính trực thuộc (5 phường và 2 xã), bao gồm các phường: Ngọc Trạo, Ba Ðình, Bắc Sơn, Lam Sơn, Ðông Sơn và 2 xã Hà Lan, Quang Trung. Từ ngày thành lập đến nay, thị xã Bỉm Sơn đã qua 8 khoá Hội đồng nhân dân, chính quyền các cấp ngày càng được hoàn thiện, năng lực điều hành và quản lý nhà nước từng bước được nâng lên, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới.
Ngày 07-11-1977, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Thanh Hoá quyết định thành lập Ðảng bộ thị trấn Bỉm Sơn (nay là thị xã Bỉm Sơn) trực thuộc Ðảng bộ tỉnh. Qua hơn 25 năm xây dựng và trưởng thành, Ban Chấp hành Ðảng bộ thị xã Bỉm Sơn luôn đoàn kết nhất trí, lãnh đạo Ðảng bộ và nhân dân Bỉm Sơn vượt qua nhiều khó khăn, thách thức; khơi dậy tiềm năng sẵn có, kiên định và thực hiện có hiệu quả đường lối đổi mới của Ðảng, góp phần xây dựng thị xã Bỉm Sơn ngày càng giàu đẹp, văn minh, xứng đáng là vùng kinh tế động lực phía Bắc của tỉnh Thanh Hoá.
Ðến nay, Ðảng bộ thị xã Bỉm Sơn đã qua 7 kỳ đại hội, điều đáng ghi nhận là tính định hướng đúng đắn của Ðảng bộ trong việc xác định chiến lược phát triển cho từng thời kỳ qua các kỳ đại hội đã thể hiện đúng quan điểm đổi mới của Ðảng, coi nhiệm vụ phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Ðảng là then chốt.

Theo số liệu điều tra ngày 1-4-1999, dân số thị xã Bỉm Sơn là 54.319 người, trong đó nam giới chiếm 50,5%, nữ giới 49,5%. Số người trong độ tuổi lao động trên 27.000 người, trong đó số người có trình độ cao đẳng - đại học chiếm 15%. Số công nhân đã qua đào tạo nghề chiếm tỷ lệ lớn trong số lao động ở địa phương. Có thể nói, thị xã Bỉm Sơn có nhiều tiềm năng về nguồn nhân lực, vật lực, có khả năng phát triển mạnh ngành xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng.

anny_cuong_depzai
21-01-2008, 09:11 PM
Thị xã Bỉm Sơn - những trang sử vàng
Ghi nhận những đóng góp to lớn của Ðảng bộ và nhân dân thị xã, nhiều đơn vị, tập thể được Nhà nước và các cấp khen thưởng:
- 1 đơn vị Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới.
- 1 Huân chương Ðộc lập.
- 3 Huân chương Lao động hạng Nhất.
- 4 Huân chương Lao động hạng Nhì.
- 10 Huân chương Lao động hạng Ba.
- 2 Huân chương Chiến công.
- 3 cờ thi đua của Chính phủ.
- 9 bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.
- 60 bằng khen của Bộ, cơ quan ngang Bộ.
Về cá nhân: 07 Bà mẹ được tặng và truy tặng Danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, 03 Anh hùng Lực lượng Vũ trang; 2.168 người được Nhà nước khen thưởng có công trong kháng chiến.
Ngoài ra, nhiều đơn vị, cá nhân được tặng thưởng cờ thi đua của tỉnh; nhiều bằng khen, giấy khen của Uỷ ban nhân dân các cấp.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010
1. Cơ cấu kinh tế:
- Công nghiệp - xây dựng chiếm 93%
- Thương mại - dịch vụ chiếm 6,35%
- Nông - lâm nghiệp chiếm 0,65 %
2. Tốc độ tăng trưởng kinh tế: 11%/năm. Trong đó:
- Công nghiệp - xây dựng: 15%/năm
- Thương mại - dịch vụ: 13%/năm
- Nông - lâm nghiệp: 6%/năm
3. Giá trị sản xuất đạt 3.829 tỷ đồng. Trong đó:
- Công nghiệp - xây dựng: 3.439 tỷ đồng
- Thương mại - dịch vụ: 303 tỷ đồng
- Nông - lâm nghiệp: 87 tỷ đồng
4. Tốc độ tăng trưởng GDP trên 7 %/năm
5. Thu ngân sách tăng 18 - 20%/năm
6. GDP bình quân đầu người: 1.000 USD/năm
7. Giải quyết việc làm cho 500 lao động/năm
8. Phấn đấu xoá hết hộ đói nghèo
9. Số hộ được dùng nước sạch đạt 95%.
Ðịa chỉ liên hệ:
Uỷ ban nhân dân thị xã Bỉm Sơn
Chủ tịch: Tạ Ngọc Phước
Ðiện thoại: 037. 824206 - 0913.293307

anny_cuong_depzai
21-01-2008, 09:11 PM
Thiên nhiên đã ưu ái cho Sầm Sơn một bãi biển kỳ thú, nên thơ cùng với nhiều tích sử - một tài sản vô giá của Sầm Sơn từ ngàn xưa để lại. Trong lần về thăm và làm việc với tỉnh Thanh Hoá (ngày 17 - 19 tháng 7 năm 1960), khi nghỉ lại đền Cô Tiên - Sầm Sơn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: "Nếu nơi đây có một hệ thống dịch vụ khách sạn và có phương tiện đưa đón khách nghỉ mát để tới Hòn Mê thì sẽ thu được nhiều của cải từ đây...". Khắc ghi lời dạy của Người, Ðảng bộ, chính quyền và nhân dân Sầm Sơn đã từng bước phát huy thế mạnh kinh tế biển, đưa ngành du lịch - thuỷ sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

Nằm trên bờ Vịnh Bắc Bộ, địa hình Sầm Sơn tương đối bằng phẳng, là vùng sơn thuỷ hữu tình với khí hậu trong lành, dải bờ biển cát vàng thoai thoải, nước trong xanh soi bóng núi Trường Lệ với những di tích văn hoá đã được xếp hạng quốc gia (Ðền Ðộc Cước, Ðền Cô Tiên, Hòn Trống Mái...). Hơn nữa, biển Sầm Sơn bao la là nơi trực tiếp cung cấp nguồn hải sản phong phú như tôm, cá mực, cua, các loại hải sản quý khác... Mặt khác, Sầm Sơn có bề dày lịch sử, truyền thống văn hoá lâu đời, với các hoạt động văn hoá mang đậm bản sắc quê hương như lễ hội bánh chưng - bánh dày (ngày 12-5 âm lịch hàng năm). Với những lợi thế này, Sầm Sơn có nhiều ưu thế trong sự phát triển của ngành du lịch và thuỷ sản.
Lấy ngành du lịch làm trọng tâm
Sầm Sơn là một trong những địa danh nổi tiếng, là niềm tự hào của ngành du lịch Thanh Hoá và cũng là của ngành du lịch Việt Nam. Ngay từ thời Pháp thuộc, làng núi Sầm Sơn cùng bãi biển chân núi Sầm được coi là khu nghỉ mát cho các quan chức người Pháp, dần dần trở thành bãi tắm lý tưởng thu hút khách du lịch thập phương. Sau năm 1960 và nhất là từ 1980 đến nay, Sầm Sơn thực sự trở thành thị xã du lịch, nghỉ mát nổi tiếng.
Thực hiện đường lối đổi mới của Ðảng và Nhà nước, chính quyền và nhân dân thị xã Sầm Sơn đã phát huy thế mạnh sẵn có, lấy du lịch làm ngành kinh tế trọng điểm trong phát triển kinh tế - xã hội. Do vậy, kể từ năm 1996 trở lại đây, được sự hỗ trợ của Nhà nước, của tỉnh và sự đóng góp của nhân dân địa phương, Sầm Sơn đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng phát triển kết cấu hạ tầng như: khách sạn, giao thông, điện, nước và khu vui chơi giải trí,... Hầu hết các khách sạn đều được đầu tư xây dựng khang trang với những trang thiết bị hiện đại, đạt tiêu chuẩn quốc tế. Ðặc biệt, thị xã đã tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất - kỹ thuật, hoàn thiện và đưa vào sử dụng Khu du lịch văn hoá - vui chơi giải trí "Huyền thoại thần Ðộc Cước" và "Khu nhà luyện tập và thi đấu thể dục thể thao tổng hợp"; tiến hành quy hoạch: Khu sinh thái Quảng Cư, Khu du lịch văn hoá núi Trường Lệ. Vì vậy, số lượng khách đến với Sầm Sơn ngày một tăng. Nếu như năm 1996 là 506.740 khách/ngày thì đến năm 2002 tăng 60%, đạt 815.500 khách/ngày, dự kiến năm 2003 đạt 880.000 khách/ngày. Doanh thu từ ngành du lịch cũng liên tục tăng cao, từ 34 tỷ đồng (năm 1996) lên 77,058 tỷ đồng (năm 2002), đưa tỷ trọng ngành du lịch trong cơ cấu kinh tế từ 40% (năm 1996) tăng lên 46,33% (năm 2002).
Kết quả nêu trên cho thấy, ngành du lịch ngày càng khẳng định vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế thị xã Sầm Sơn và phát triển theo hướng bền vững. Vai trò đó được khẳng định bằng tác động tích cực tới sự phát triển kinh tế - xã hội của Sầm Sơn như: thu hút hàng ngàn lao động tham gia kinh doanh dịch vụ du lịch; thay đổi tư duy, cách nghĩ cách làm của người dân trong cơ chế thị trường; góp phần nâng cao trình độ dân trí của người dân, đặc biệt là nhận thức về du lịch. Bên cạnh đó, cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước, nguồn thu từ du lịch được đầu tư xây dựng các công trình phúc lợi như: trạm y tế, trường học, đường điện, giao thông; tôn tạo các danh lam thắng cảnh và khu di tích, góp phần làm thay đổi nhanh diện mạo của thị xã Sầm Sơn.
Hướng tới công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngành thuỷ sản
Cùng với du lịch, trong những năm qua, ngành thuỷ sản cũng giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế của Sầm Sơn. Mặc dù đường bờ biển của thị xã chỉ dài 9 km, (trong đó khu vực dành cho du lịch là khá lớn), nhưng Sầm Sơn vẫn là nơi có nguồn lợi hải sản lớn của tỉnh Thanh Hoá. Biển Sầm Sơn được các chuyên gia trong ngành thuỷ sản đánh giá là có trữ lượng hải sản tương đối lớn, nhiều chủng loại. Ngay từ xa xưa, đánh bắt, chinh phục biển đã trở thành truyền thống của người dân Sầm Sơn.
Phát huy truyền thống sẵn có, kết hợp với áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, hoạt động khai thác hải sản trong giai đoạn vừa qua (1996 - 2002) đã có bước tăng trưởng nhảy vọt cả về lượng và chất. Trong đó, thị xã đã từng bước thực hiện chuyển đổi cơ cấu thuyền nghề theo hướng giảm áp lực khai thác ven bờ, loại bỏ dần các phương tiện nhỏ, lạc hậu, đầu tư trang thiết bị đánh bắt mới với công suất lớn, thiết bị máy móc hiện đại, công nghệ khai thác tiên tiến, góp phần nâng cao sản lượng khai thác, năng suất lao động, bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thuỷ sản gần bờ, từng bước đưa nghề khai thác thủy sản phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Số lượng tàu thuyền gắn máy các loại tăng nhanh, nếu như năm 1996 tổng số tàu thuyền có 513 chiếc thì đến năm 2000 tăng lên 805 tàu gắn máy, 110 tàu đánh bắt xa bờ. Ðặc biệt, ngư dân Sầm Sơn đã được Nhà nước đầu tư 68 dự án gồm 79 tàu có công suất lớn từ 90CV đến 254CV phục vụ đánh bắt xa bờ. Nhờ vậy, sản lượng khai thác tăng đều qua các năm, từ 5.234 tấn (năm 1996) lên 8.500 tấn (năm 2002), dự kiến năm 2003 đạt 9.500 tấn. Trình độ chuyên môn kỹ thuật về đánh bắt hải sản và sử dụng thiết bị, máy móc của ngư dân dần được nâng cao. Sự có mặt của ngư dân ngoài khơi xa còn góp phần bảo vệ nguồn lợi hải sản, chống lại sự xâm nhập trái phép của tàu nước ngoài, bảo vệ vùng biển của Tổ quốc.
Nuôi trồng thuỷ, hải sản cũng từng bước được chú ý và mở rộng về quy mô. Tận dụng những tiềm năng sẵn có, những năm gần đây, Sầm Sơn đã tiến hành cải tạo vùng triều sông Mã, đầu tư hàng chục tỷ đồng để cải tạo ao nuôi, đưa khoa học - công nghệ mới vào nuôi trồng thuỷ sản. Ðặc biệt, trong lĩnh vực nuôi tôm, thị xã đã mạnh dạn chuyển đổi diện tích gieo trồng năng suất thấp sang nuôi trồng thuỷ sản, cho giá trị cao gấp 3 - 5 lần trồng lúa. Ðồng thời, Sầm Sơn đã từng bước xoá bỏ hình thức nuôi quảng canh, chuyển sang nuôi bán thâm canh. Ðến nay, tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản đạt 205 ha, tăng 46,4% so với năm 1996; tổng sản lượng nuôi trồng đạt 170 tấn, tăng 41,6% so với năm 1996. Nét đột phá trong sự phát triển của ngành thuỷ sản Sầm Sơn là đã xây dựng hai trại giống tôm sú, sản sinh được 21 triệu con, chủ động đáp ứng nhu cầu trên địa bàn. Hiện nay, thị xã đang phối hợp cùng với ban, ngành cấp tỉnh để lập dự án thi công khu nuôi tôm công nghiệp. Với tổng sản lượng bao gồm cả đánh bắt và nuôi trồng đạt 8.670 tấn, tổng trị giá 58,3 tỷ đồng, cùng với du lịch, ngành thuỷ sản đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội của thị xã. Hàng năm, ngành đã giải quyết việc làm cho phần lớn lao động của thị xã.
Sản lượng thuỷ sản tăng mạnh trong những năm qua là cơ sở quan trọng để công nghiệp chế biến thuỷ, hải sản, công nghiệp đóng, sửa tàu thuyền và các dịch vụ hậu cần nghề cá phát triển. Hiện nay, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn chủ yếu là chế biến thuỷ sản. Năm 2002, tổng giá trị công nghiệp chế biến đạt 5,2 tỷ đồng, dự kiến năm 2003 đạt 5,9 tỷ đồng. Trong thời gian vừa qua, Sầm Sơn đã triển khai nhiều dự án, điển hình là dự án chế biến hải sản Tân Hưng - xã Quảng Tiến với công suất 800 tấn/năm; dự án đầu tư xây dựng hai dây chuyền sản xuất bột cá và sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thức ăn nuôi tôm với công nghệ tiên tiến của Trung Quốc, tổng vốn đầu tư gần 6 tỷ đồng, mở ra triển vọng mới cho ngành thuỷ sản nói chung và lĩnh vực công nghiệp chế biến thuỷ sản nói riêng của thị xã Sầm Sơn.
Xây dựng một Sầm Sơn hiện đại, văn minh
Sự phát triển của các ngành kinh tế trọng yếu như du lịch, thuỷ sản đã tạo nên diện mạo mới cho Sầm Sơn: tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 11 - 12%/năm, thu nhập bình quân đầu người đạt 380 - 430 USD/năm; kết cấu hạ tầng được đầu tư khang trang, văn hoá - xã hội phát triển. Tuy nhiên, điểm hạn chế hiện nay của thị xã vẫn là du lịch mùa vụ, tốc độ phát triển nhanh gây mất cân đối giữa quy hoạch và tốc độ phát triển. Ðể đạt được mục tiêu đến năm 2005 trở thành đô thị loại IV và đến năm 2010 thành đô thị loại III, việc quy hoạch thị xã được phân thành các khu chức năng với bố cục như sau:
1) Khu trung tâm bao gồm:
- Trung tâm hành chính - chính trị như cơ bản hiện nay là phù hợp.
- Trung tâm thương mại - dịch vụ: xây dựng tại các bãi tắm, khu du lịch, dọc hai bên bờ biển tại các vị trí thích hợp, khu trung tâm chính ở phía Nam đường Lê Lợi và phía Ðông đường Nguyễn Du.
- Trung tâm văn hoá - thể thao: núi Trường Lệ, khu nhà hát nhân dân, phường Trung Sơn và Quảng Cư.
- Trung tâm khu vực: tại mỗi phường, xã.
2) Khu khách sạn - nhà nghỉ:
- Cải tạo, nâng cấp các cơ sở hiện có tại các phường nội thị Bắc Sơn và Trường Sơn theo hướng hiện đại.
- Xây dựng mới khách sạn, nhà nghỉ phục vụ du lịch, nghỉ mát, dưỡng sức tại dải đất ven biển thuộc xóm Vinh Sơn, phường Trung Sơn và khu hồ đầm Quảng Cư.
- Phát triển về phía Nam Sầm Sơn các khách sạn, nhà nghỉ khi xã hội có nhu cầu.
3) Khu du lịch - vui chơi giải trí - tắm biển: xây dựng ba khu vực chính phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí có nội dung hoạt động khác nhau:
- Trên núi Trường Lệ: phục vụ cho du lịch văn hoá - vui chơi.
- Khu du lịch sinh thái Quảng Cư: nét đặc trưng của khu vực này là du lịch sinh thái.
- Tắm biển: tại các bãi tắm, tăng cường công tác vệ sinh môi trường, đảm bảo an toàn khi tắm biển.
4) Khu công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp:
- Xây dựng khu công nghiệp chế biến hải sản và dịch vụ cho chế biến hải sản, đóng, sửa tàu thuyền... tại khu vực Quảng Tiến, Quảng Cư.
- Phát triển tiểu thủ công nghiệp phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu trong các hộ gia đình.
- Xây dựng một số cơ sở chế biến lương thực, thực phẩm ở phường Trường Sơn phục vụ du lịch nghỉ mát.
5) Kho - bến cảng: chủ yếu xây dựng 2 cảng ở Quảng Tiến và Quảng Cư.
6) Khu dân dụng: quy hoạch lại các khu dân cư hoàn chỉnh, xây mới và kiên cố hoá các nhà dân, phần đất còn lại trồng cây xanh để tạo cảnh quan phục vụ cho du lịch.
Quy hoạch tổng thể thị xã Sầm Sơn phải nhằm mục đích phát triển kinh tế - xã hội của thị xã trong mối quan hệ với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hoá và các tỉnh phía Bắc. Ðồng thời phải cố gắng phát huy hơn nữa thế mạnh kinh tế biển, đưa các ngành du lịch, thuỷ, hải sản và công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của thị xã theo đúng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, tạo nên sức bứt phá mạnh mẽ, đưa Sầm Sơn bắt kịp với xu thế phát triển chung của đất nước trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

http://web.thanhhoa.gov.vn/ThanhHoaWebsite/picturenews/128.gif

Trước thế kỷ XX, địa danh Sầm Sơn chưa xuất hiện trên bản đồ địa lý Việt Nam, chỉ có dãy núi Gầm án ngữ phía Nam vùng đất này mà ngư dân đi biển quen gọi là Mũi Gầm, sau dần dần đổi thành núi Sầm - Sầm Sơn, địa danh này cũng còn được gọi là núi Trường Lệ (làng chân núi này cũng gọi là Làng Núi hay làng Trường Lệ). Xưa kia vùng đất này thuộc huyện Quảng Xương. Thị xã Sầm Sơn chính thức được thành lập ngày 18-12-1981 theo Quyết định số 157/QÐ/HÐBT. Sầm Sơn cách thành phố Thanh Hoá 16 km về phía Ðông. Diện tích tự nhiên khoảng 18 km2, phía Bắc giáp sông Mã, phía Ðông và Nam giáp biển Ðông, phía Tây giáp huyện Quảng Xương. Sầm Sơn có 3 phường và 2 xã. Dân số năm 2002 khoảng 56.595 người.


Ðịa chỉ liên hệ:
Uỷ ban nhân dân thị xã Sầm Sơn
Chủ tịch: Vũ Đình Quế
Bãi biểm Sầm Sơn - khu du lịch nổi tiếng của Thanh Hoá và cả nước

anny_cuong_depzai
21-01-2008, 09:12 PM
1. Về vị trí địa lý:

<SPAN style="FONT-SIZE: 10pt; FONT-FAMILY: Tahoma">Bá Thư­ớc có diện tích tự nhiên 774,01 Km2, gồm 22 xã và thị trấn Cành Nàng. Phía Bắc giáp tỉnh Hoà Bình; Phía Tây giáp các huyện Quan Hoá, Quan Sơn; Phía Nam giáp huyện Lang Chánh, Ngọc Lặc; Phía Đông giáp huyện Cẩm Thuỷ và Thạch Thành. Vị trí này giúp Bá Thư­ớc có các mối liên hệ kinh tế – xã hội với các lãnh thổ khác thông qua quốc lộ 217, 15A; Sông Mã chảy qua từ đầu đến cuối Huyện dài trên 40 Km và Đ­ường Hồ Chí Minh (Cách thị trấn Cành Nàng 25 Km theo đ­ường 217, về phía Đông).

anny_cuong_depzai
21-01-2008, 09:13 PM
Đông Sơn là cửa ngõ quan trọng của các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa, có đầy đủ lợi thế về vị trí địa lý, nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên để phát triển kinh tế - xã hội. Nhận thức rõ được những thuận lợi đó, Huyện ủy, HĐND và UBND huyện Đông Sơn luôn chú trọng đầu tư phát triển kinh tế, lấy CN - TTCN làm mũi nhọn trong chiến lược phát triển toàn diện. Những năm qua, với sự chỉ đạo đúng hướng, kịp thời của Huyện ủy, HĐND và UBND huyện, nền kinh tế Đông Sơn đã có những chuyển biến tích cực, các chỉ tiêu kinh tế xã hội đều đạt và vượt mức kế hoạch đặt ra, tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt trên 10%.

<FONT style="FONT-SIZE: 12px" face="Verdana, Arial, Helvetica, sans-serif">




<SPAN style="FONT-SIZE: 11pt; COLOR: windowtext; FONT-FAMILY: 'Times New Roman'; mso-bidi-font-size: 10.0pt">Với mục tiêu lấy CN - TTCN làm nền tảng trọng tâm cho việc phát triển kinh tế trên địa bàn, huyện Đông Sơn đã có cơ chế chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư vào các khu công nghiệp, cụm nghề, chú trọng khôi phục nghề truyền thống, thu hút nghề mới, hỗ trợ các xã đầu tư phát triển mạng lưới giao thông huyện. Đồng thời, để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường và tránh cạnh tranh không lành mạnh, UBND Huyện đã phối hợp các ngành thành lập Hiệp hội đá Đông Sơn - Thanh Hóa, đồng thời, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham gia tìm kiếm thị trường tại các nước châu Âu.

Mr.Ba
21-01-2008, 11:15 PM
Huyện Triệu Sơn

Triệu Sơn là một huyện thuộc tỉnh Thanh Hoá, Việt Nam.
Địa lý
Huyện có diện tích 292 km², phía Đông giáp huyện Đông Sơn, phía Đông Nam giáp huyện Nông Cống, phía Nam giáp huyện Như Thanh, phía Tây Nam giáp huyện Thường Xuân, phía Tây Bắc giáp huyện Thọ Xuân, phía Đông Bắc giáp huyện Thiệu Hóa. Triệu Sơn là một huyện bán sơn địa nhưng diện tích chủ yếu vẫn là đồng bằng, địa hình thấp dần về phía Bắc, với vài con sông suối nhỏ chảy vào sông Chu ở hai huyện bên: Thọ Xuân và Thiệu Hóa, ở phía Nam có một vài ngọn núi thấp với độ cao khoảng 250 - 300 m, như núi Nưa ở xã Tân Ninh. Cực Nam là xã Tân Ninh, cực Tây là xã Bình Sơn, cực Đông là xã Đồng Tiến. Dân số là 208.300 người, theo thống kê năm 1999.
Giao thông
Huyện có đường 47 chạy qua theo hướng Đông - Tây, nối thành phố Thanh Hóa qua thị trấn huyện lỵ Triệu Sơn, tới Lam Sơn - Thọ Xuân.
Hành chính
Triệu Sơn có huyện lị là thị trấn Triệu Sơn, và 35 xã (An Nông, Bình Sơn, Dân Lực, Dân Lý, Dân Quyền, Đồng Lợi, Đồng Thắng, Đồng Tiến, Hợp Lý, Hợp Thành, Hợp Thắng, Hợp Tiến, Khuyến Nông, Minh Châu, Minh Dân, Minh Sơn, Nông Trường, Tân Ninh, Thái Hoà, Tiến Nông, Triệu Thành, Thọ Bình, Thọ Cường, Thọ Dân, Thọ Ngọc, Thọ Phú, Thọ Sơn, Thọ Tân, Thọ Thế, Thọ Tiến, Thọ Vực, Văn Sơn, Xuân Lộc, Xuân Thịnh, Xuân Thọ).
Huyện được thành lập ngày 16 tháng 12 năm 1964 trên cơ sở các xã thuộc huyện Thọ Xuân và Nông Cống.
Về kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp - hướng ưu tiên phát triển kinh tế. Diện tích tự nhiên: 292,2km2 - Dân số: 212.450 người, gồm 3 dân tộc Kinh, Mường, Thái - Tốc độ tăng trưởng kinh tế: 9,1%/năm, trong đó: nông - lâm nghiệp tăng: 5,5%; công nghiệp - xây dựng cơ bản tăng: 24%; dịch vụ tăng: 12,5% - Cơ cấu kinh tế: nông - lâm nghiệp 55%; công nghiệp - xây dựng cơ bản 18%; dịch vụ 27%.

championshipmanager
21-01-2008, 11:19 PM
có lẽ phải thêm chủ đề "Lịch sử Thanh Hóa" nữa nhỉ. Chiêu này kiếm được khối điểm đây